Home » Truyện người lớn » NHỮNG NGƯỜI NUÔI LỬA – tiểu thuyết Khôi Vũ (Kỳ 9)

Sổ ghi chép của Nam

Danh lấy xe díp đích thân lái chở tôi đi thăm những nơi cần thăm trong lâm trường. Thoạt tiên, tôi nghĩ rằng Danh muốn cho tôi xem một kịch bản do chính anh ấy đạo diễn. Nhưng trên đường đi, tôi mới biết là mình nghĩ sai. Sau khi cảm thấy không có hy vọng trước sự phản bác của tôi, Danh quyết định chọn cách ngửa bài với tôi.

Thợ săn Tâm lùn bây giờ tôi mới gặp tận mặt. Đó là một công nhân danh nghĩa, một ông già nhỏ con nhưng săn chắc và khỏe mạnh hơn hẳn tuổi ngoài năm mươi của mình. Ông ta rất tự hào về tài săn bắn của mình và luôn miệng tự khen:  

– Rừng sắp hết thú rồi. Bây giờ muốn kiếm một con nai phải lội vô sâu hàng nửa ngày đường mới có. Nhưng nếu đã thấy bóng nai rồi thì bà con cứ yên chí. Cây súng săn của Tâm lùn này chưa chịu tha mạng con thú nào mà!

Danh nói với tôi:

– Làm việc mà thiếu sự bảo vệ của cấp trên thì chẳng mấy hồi sẽ bị bốc cháy thành tro. Mấy chú tuổi tuy cao nhưng vẫn muốn tiếp tục cống hiến lâu dài. Vậy mình phải lo tăng cường sức khỏe cho mấy chú bằng nhung nai, gạc nai. Mấy chú khỏe, mấy chú còn ngồi vững trên ghế của mấy chú thì mình mới yên tâm với cái ghế của mình!

Cái lý lẽ tởm lợm ấy được kết thúc bằng sự nhân danh:

– Vấn đề là mình đóng góp được gì vào việc xây dựng đất nước sau chiến tranh, phải không anh Nam?

Xe đi ngang khu rừng mới trồng, cây vừa nhỏ vừa cằn. Tôi nói luôn:

– Các anh phá rừng nhiều hơn là trồng rừng!

Danh cười lớn:

– Có người đã nói về rừng của chúng ta thế này: Nhà nước và nhân dân cùng phá! Tôi cho rằng tôi không có lỗi! Tôi chỉ khai thác đúng chỉ tiêu cấp trên giao!

– Còn việc khai thác lậu thì sao?

– Lậu là nói theo nguyên tắc. Chớ lậu làm sao được với tôi!

– Nghĩa là anh biết?

– Tất nhiên! Đường vào rừng có các trạm gác của tôi. Lối vào phân trường khai thác có người của tôi. Bọn ăn cắp vặt có thể len lỏi thoát với một vài khối gỗ, chớ dân làm ăn lớn, đi hàng xe tải thì chẳng lẽ chúng tôi không biết!

– Nghĩa là có một bản hợp đồng ma quỷ đã được thực hiện ở đây?

– Anh thử đi thêm vài lâm trường khác coi có nơi nào không làm như tôi?

– Các anh làm thế để có cuộc sống hưởng thụ xa hoa?

– Ai chẳng muốn một cuộc sống sung sướng, kể cả anh! Vả lại, tấm gương nhiều người đi trước chúng ta vẫn còn đó. Cả đời cống hiến để rồi khi về hưu hai bàn tay trắng với những kỷ niệm không phải bao giờ cũng là vui vẻ. Những người trẻ có nhiều người khôn hơn. Tôi nghĩ rằng mình chưa phải là người khôn nhất trong số đó!

– Anh đã thay đổi nhiều quá rồi anh Danh ạ. Điều đó có nghĩa là mọi tố cáo anh đều đúng hoặc không sai sự thật là bao!

– Nhưng những kẻ tố cáo tôi và nhà báo các anh sẽ chẳng làm gì nổi tôi đâu. Luật pháp trọng chứng. Mà giấy tờ thì chúng tôi luôn hợp lệ. Tôi đề nghị anh, vụ của tôi, tốt nhất là anh cho trả lời trên báo : “Đã nhận đơn và chuyển cấp có thẩm quyền giải quyết”. Ngược lại, tôi sẽ không từ chối bất cứ yêu cầu giúp đỡ nào của toà báo và riêng anh, anh sẽ là thượng khách của tôi bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu!

– Anh có thể dừng lại ở đây, anh Danh ạ. Tôi cảm ơn anh đã nói thật tất cả sau ba ngày chúng ta gặp nhau và anh cứ quanh co mãi…

Danh cười sảng khoái:

– Phải, tôi đã nói tất cả sự thật. Bởi vì sao anh biết không anh Nam? Bởi vì lời nói gió bay. Lời – Nói – Gió – Bay!

Danh lại cười đắc thắng.

Tôi chỉ mỉm cười đáp lại. Anh ta đâu có biết tôi đã nhấn nút chiếc máy ghi âm nhỏ xíu bỏ trong túi quần.

Buổi tối, tôi đóng kỹ cửa phòng, lấy máy ra nghe kiểm tra. Tôi cho băng chạy ngược lại. Tiếng lạch xạch vang lên và tôi phát hiện ra băng bị đứt ngay đoạn đầu. Tôi nối lại với hy vọng nó vừa bị đứt.

Nhưng cuộn băng được nối đã phát ra tiếng nhạc ở lần ghi trước đây. Tôi thẫn thờ. Nó đã bị Danh cho người lén cắt đứt trước khi tôi cùng anh ta vào rừng! Danh quả là cáo già !

Dù sao, Danh không thể biết tất cả. Những giấy tờ, chứng từ quan trọng một phần lớn đã được sao gởi đến cho tôi trước khi tôi đi Đại Ngàn, một số khác đã nằm gọn trong cuộn phim tôi đem theo và tháo ra cất kỹ sau khi chụp xong.

Chuyến đi của tôi chỉ có mục đích kiểm tra!

* * *

 

Huyên không phản đối Khánh và Bình Minh, khi hai đứa trẻ mời Nam nghỉ đêm lại nhà mình, để tiếp tục kể cho chúng nghe về những chuyến đi của anh. Tuy nhiên, ở vị trí của cô, cô cũng không thể mở lời hưởng ứng ý kiến của con và cháu.

Nam vẫn ý tứ như lần trước khi anh nói với hai đứa trẻ:

– Bác Nam xin lỗi hai cháu vậy. Hôm nay bác Nam cần gặp khá nhiều người trong làng mình có một số việc. Bác Nam hứa, khi nào xong việc, được nghỉ phép, bác Nam sẽ về đây chơi ít ngày, khi đó hai cháu sẽ tha hồ nghe chuyện…

Khánh nghĩ ngợi:

– Vậy hè này được không bác Nam?

– Nếu Khánh cho rằng dịp đó là tốt nhất!

Bình mình chen vào:

– Đúng rồi, hè này đi bác Nam! Cháu cũng muốn như thế. Má cháu cũng muốn, má há?

Huyên ngắt câu chuyện lại:

– Bây giờ anh đi đâu?

– Tôi muốn thăm chị Vân.

– Nếu vậy, tôi sẽ cùng đi với anh thăm chị ấy.

Khánh nhắc:

– Cô Hai đừng ở lại bên dì Vân lâu quá!

Huyên đi trước, cầm đèn pin. Nam dắt xe đi bộ phía sau một quãng. Cách nhà hơn trăm thước, Nam bảo Huyên lên xe để anh chở đi cho mau. Huyên ngần ngừ:

– Có lẽ mình đi bộ thì tiện hơn, anh Nam ạ.

Nam buồn buồn:

– Tôi hiểu. Xin lỗi Huyên.

Suốt một lúc lâu, hai người đi bên nhau không nói. Họ gặp một người quen trên đường và Huyên thấy hoàn toàn yên tâm. Chỉ cần như thế thôi, ngày mai cả làng Đồi sẽ biết là đêm nay, cô giáo Huyên dẫn bạn trai cũ đến trạm xá thăm y sĩ Vân mà không ngồi sau xe gắn máy của người bạn ấy.

Qua cầu suối Cát, hai người phải lên dốc đồi Chúa, con dốc cao nhất làng Đồi. Nam đẩy xe lên dốc. Huyên ái ngại:

– Anh Nam chạy xe lên trước đi cho đỡ mệt.

Nam cười gượng gạo:

– Tôi dắt bộ cùng Huyên được mà. Tôi rất thông cảm với Huyên dù tôi vẫn cho rằng sự giữ ý của Huyên là quá đáng!

Huyên muốn nói với Nam: “Hãy tha lỗi cho Huyên. Nếu anh hiểu được tận đáy lòng Huyên đang nghĩ gì…”

Nam gởi xe ở quán cố Hai. Lúc này, quán đang vắng khách, nhưng lại có mặt người khách đặc biệt: nhà thơ điên Hoài Mộng. Nam chưa từng gặp ông ta lần nào nhưng đôi mắt thất thần của ông ta đã khiến anh nghĩ ngay đến một người không bình thường. Tuy vậy, đang phanh ngực áo đọc thơ, thấy Huyên, ông ta vội gài lại nút áo và lễ phép nói:

– Chào cô giáo! Cô giáo đi công chuyện chi mà khuya khoắt vậy?

Huyên đáp:

– Chào chú! Tôi đưa anh nhà báo kia tới gặp chị Vân ở trạm xá. Chú vẫn mạnh giỏi chớ?

– Ôi, cảm ơn cô giáo. Tôi lúc nào cũng bệnh hoạn rề rề. Chỉ có cái đầu là luôn sáng suốt. Cô giáo nói cô giáo dẫn ông kia tới nhà cô Vân hả? Ôi! Thật là đáng buồn! Mời cô giáo ngồi nán lại một chút. Đó, cô giáo ngồi xuống đó đi. Cả anh bạn kia nữa. Tôi xin đọc bài thơ tâm huyết của tôi…

Công an chỉ biết can ông

Nên thằng sâu bọ thong dong về nhà

Về nhà nó đặt bài ca

Ngạo Ban hương chức làng ta quá trời

Bà con ơi! Cô bác ơi!

Thằng sâu bọ rắc con rơi khắp làng

Nó nói nó oan! Nó oan!

Sao mình để nó làm càn ở đây?

 

Đọc xong, nhà thơ điên Hoài Mộng lại mời Huyên và Nam ở lại nghe thêm bài thơ nữa. Cố Hai phải can thiệp, hai người mới được ông thương binh mất trí buông tha để đi qua trạm xá.

Huyên không giữ nổi thái độ bình thường. Bài thơ của nhà thơ điên thật ra đã phản ánh đúng tâm trạng đa số người làng Đồi, trong đó có cả Huyên. Nhưng đồng thời nó cũng khiến cô phải đau lòng khi nghĩ tới thân phận chị Vân. Trong quan hệ tình cảm từ lâu, Huyên vẫn xem chị Vân như một người chị ruột.

Nam hỏi:

– Huyên có đoán được vì sao chị Vân không tố cáo Đạo nước suối không?

Huyên ngao ngán lắc đầu:

– Huyên không hiểu nổi chị Vân. Mấy lần Huyên cố tìm hiểu sự thật, nhưng chỉ một mực giữ kín. Chỉ không xác nhận mà cũng chẳng phủ nhận lời đồn đoán. Chỉ chỉ khóc.

Nam chợt cười thành tiếng:

– Ông già điên làm thơ giỏi đó chớ!

– Coi bộ anh mê ổng lắm?

– Phải! Một người điên dễ thương, tỉnh hơn nhiều người tỉnh!

Ánh đèn dầu nơi trạm xá vặn lớn. Chị Vân y sĩ ngồi ghi chép sổ sách hoặc viết lách gì đó sau cửa sổ. Huyên nhẩm tính, sẽ còn non tháng nữa chị Vân sẽ sinh. vậy mà cô vẫn chưa thuyết phục được người đàn bà đáng thương ấy chịu dọn về ở với mình, vẫn chưa lay chuyển được đánh giá không tốt của Khánh về dì Vân.

Huyên nhớ lại lời mình khuyên học trò buổi sáng: chọn bạn tốt mà chơi, chọn điều hay lẽ phải mà học…

Cô đang dạy dỗ đám trẻ không khác gì ngày xưa thầy Bảy Tín đã dạy dỗ những đứa trẻ lứa tuổi cô. Ngày xưa, nghe những lời dạy dỗ ấy đâu phải chỉ có cô, chỉ có Nam… mà có cả chị Vân, có cả Danh, giám đốc lâm trường Đại Ngàn…

CHUYỆN KỂ THỨ HAI CỦA CÔ GIÁO HUYÊN

(Câu chuyện dưới cờ)

Cha Đất và Mẹ Biển sinh ra muôn loài cây cỏ, chim thú… và sau cùng là con người.

Thời gian đầu cuộc sống của con người là những năm tháng bình yên. Con người uống nước suối, tắm trên sông, ăn trái cây rau cỏ như các loài chim thú. Lâu dần, họ bổ sung nguồn thực phẩm bằng thịt của những con vật bé nhỏ sinh sản nhiều. Họ bắt ốc, mò cua, bắt tôm cá, bẫy gà rừng, săn thỏ rừng để ăn sống. Nhiều con người bắt đầu có ý nghĩ rằng họ là sinh vật thống trị muôn loài.

Thực tế không hoàn toàn đúng như ý nghĩ đó. Bên cạnh những con vật hiền lành mà con người có khả năng chinh phục, vẫn có một số loài vật hung dữ, có sức mạnh hơn con người và chúng không ngần ngại tấn công cả con người khi cần thiết. Nhiều người đã bị thiệt mạng vì ác thú khiến những người khác không khỏi lo lắng và nghĩ cách tự vệ, hơn nữa, để chinh phục ác thú. Dù sao, ý nghĩ mình là sinh vật thống trị muôn loài đã lan rộng trong những con người.

Một hôm, như nhiều lần đã từng xảy ra, trên bầu trời có cuộc xung đột dẫn đến hỗn chiến giữa các vị thần. Những đôi cánh khổng lồ của các vị thần làm cho mặt đất tối sầm lại. Tiếng la hét của họ tạo ra giông lớn. Mồ hôi họ ròng ròng đổ xuống thành mưa bão. Vũ khí của họ va chạm vào nhau vang lên những tiếng sấm, tóe lửa thành sét. Cuộc hỗn chiến lần này dữ dội đến mức dù giông bão lớn là thế, một tia sét khủng khiếp vẫn gây nên đám cháy rừng vĩ đại. Đám cháy lan rộng, kéo dài một thời gian đáng kể dù rằng trên bầu trời, cuộc hỗn chiến đã chấm dứt. Khi đám cháy lụi dần, dưới mặt đất hiện ra một cảnh hoang tàn, thê lương. Cây rừng cháy thành than, chim thú bị thui vàng, khét lẹt.

Đó là lần đầu tiên con người được trông thấy ngọn lửa và sức mạnh của nó. Ngọn lửa chiến thắng tất cả, cho dù đó là loài ác thú hung hãn từng tấn công con người. Con người nhặt những xác thú bị thui mà ăn thử. Họ thích thú khám phá ra rằng đây là món ăn đậm đà, ngon miệng hơn hẳn trước kia. Tuy nhiên, điều khiến cho con người phấn khởi hơn cả là họ đã tìm được vũ khí lợi hại có thể giúp họ đạt được ước muốn thống trị muôn loài.

Con người bèn cầu xin Cha Đất:

– Xin Người ban cho chúng con những ngọn lửa.

Cha Đất hỏi:

– Để làm gì?

– Để chúng con có vũ khí tự vệ.

– Như vậy thì có thể được. Nhưng các ngươi đã hiểu gì về ngọn lửa đâu!

– Chúng con xin nghe lời Người dạy bảo.

– Hãy nghe kỹ lời ta. Ngọn lửa mà các ngươi trông thấy là lửa thịnh nộ của các vị thần. Ta không thể xin giúp cho các ngươi loại lửa đó. Nhưng ta có thể ban cho các ngươi ngọn lửa của ta, của Cha Đất bao dung của các ngươi. Những ngọn lửa này sinh ra từ các sản vật của ta. Chúng có thể giúp các ngươi có sức mạnh chống lại ác thú, nhưng lại cũng có thể khiến các ngươi dùng thiêu đốt lẫn nhau. Khi các ngươi ăn các thức ăn nấu nướng bằng lửa, lửa theo thức ăn vào cơ thể các ngươi. Ở một chừng mực nào đó, lửa trong cơ thể giúp các ngươi có sức khỏe. Nhưng ở một mức độ khác, lửa biến các ngươi thành kẻ hung ác. Vì vậy ta muốn các ngươi hãy cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định có cần nhận ngọn lửa từ nơi ta hay không?

Ước muốn được thống trị muôn loài đã thúc giục con người mau chóng có quyết định. Họ giập đầu trước Cha Đất:

– Xin Người ban cho chúng con những ngọn lửa!

Cha Đất nhắc lại lần cuối:

– Các con của ta phải tự chịu lấy mọi trách nhiệm khi quyết định xin lửa chứ?

– Vâng! Chúng con xin nhận.

Cha Đất bèn chỉ cho con người cách làm ra ngọn lửa từ những sản vật của mình. Từ đó, với ngọn lửa lợi hại, con người trở thành loài thống trị muôn loài.

Nhưng từ đó con người cũng tự phân chia thành những nhóm khác nhau. Những người đem lửa vào cơ thể mình một cách vừa phải, dùng lửa thần và ngọn lửa bên ngoài làm những việc có ích, khiến Cha Đất và Mẹ Biển hài lòng, được gọi là những đứa con ngoan. Riêng số người không kềm chế được lòng tham, dùng lửa thần quá độ và ngọn lửa bên ngoài gây ra các cuộc tranh giành, chém giết người khác và tàn phá thiên nhiên. Cha Đất và Mẹ Biển bực bội nguyền rủa là những đứa con hư.

Cha Đất ân hận vì đã ban ngọn lửa cho loài người… Người nhắc Mẹ Biển đừng quên mỗi ngày hát ru muôn loài bài hát ru về tình yêu thương qua tiếng sóng dạt dào. Vẫn chưa thật yên lòng, Người còn ban cho con người một cơ hội : những đứa con hư biết sửa mình, tự dập tắt được ngọn lửa vô độ, sẽ được tha thứ, được gọi là kẻ biết ăn năn.

 

 * * *

 

9.

Bài báo thứ nhất trong loạt bài phóng sự điều tra có tựa đề chung: “Chuyện thường ngày ở Đại Ngàn” là bài có tiêu đề “Tôi phải hành xử như một ông vua”trong đó viết về sự ăn chơi, tiêu xài của giám đốc Danh.

Ngay buổi chiều ngày báo phát hành, nó đã đến làng Đồi, chính tại quán cố Hai. Người đem báo tới là giáo Đức. Thủ lĩnh nhóm xe thồ ngày nào, bây giờ đã chuyển qua làm nghề bỏ mối thuốc Tây đến các vùng xa.

Giáo Đức mua được chiếc xe Goebel cũ, sửa sang lại máy móc chút đỉnh để làm chân. Nhờ có học, việc mua bán thuốc Tây của anh ta có điều kiện thuận lợi. Giáo Đức có thể dịch từ những toa thuốc tiếng Pháp, tiếng Anh ra tiếng Việt và hướng dẫn cho các mối hàng hiểu tính năng, cách sử dụng thuốc. Anh ta lại đeo kiếng, càng ra vẻ trí thức. Có người gọi anh ta là bác sĩ, có người gọi là dược sĩ, lại có người gọi bằng thầy, không rõ “thầy thuốc” hay “thầy giáo”.

Mỗi tuần, giáo Đức đem thuốc Tây tới bán ở làng Đồi và mấy làng kế cận bên kia sông một lần. Anh ta tới làng Đồi vào quá trưa ngày thứ nhất, giao dịch mua bán trong ngày rồi nghỉ lại quán cố Hai một đêm, sáng ngày thứ nhì đi tiếp cho tới sáng ngày thứ tư mới quay lại, rồi về luôn. Đổi nghề, đời sống kinh tế của giáo Đức có khá hơn. Anh ta hay cay đắng nói : “Nhờ bị bắt oan, nhờ không được cho đi dạy học mà ngày nay tôi có cuộc sống khá, nuôi được vợ con !”.

Tờ báo được chuyền tay nhiều người tới nỗi chỉ có vài tiếng đồng hồ mà đã rách tươm. Cuối cùng, giáo Đức phát hiện ra là nó đã biến mất. Anh ta đoán nó đã được ai đó lấy đem tới cho ông Ba Công đọc.

Những người trong quán bàn tán về bài báo với hai nhóm ý kiến khác nhau và khá gay go.

Đầu tiên là những ý kiến về nội dung bài báo:

– Đúng là nhà báo nói láo ăn tiền! Một giám đốc mà có tới ba bồ nhí cùng một lúc thì ai tin cho nổi. Mà ông giám đốc đó lại là ông Danh, con cái một gia đình gia giáo. Thử hỏi, ở làng Đồi này, có ai chê trách được bác Ba Công? Nhà người ta chữ nghĩa đầy bồ thì con cái làm sao đến nỗi…

– Cuộc đời mà ông anh! Hổ phụ sanh hổ tử đã có, ắt phải có hổ phụ sanh cẩu tử. Thì có đâu xa, ngày xưa ở làng Đồi này, ông điền chủ Phạm với cậu con trai đó chi! Con người ta học điều hay lẽ phải đã khó, làm điều tốt càng khó hơn. Trong khi đó cái xấu nhiễm vô vừa mau vừa quyến rũ.

– Chí lý! Cứ coi cách đối xử với cha mẹ của ông Danh cũng thấy một phần. Con cái chi mà tết nhứt cũng chỉ cho tài xế đưa vợ con về thăm ông già một buổi rồi thôi. Còn mình thì “bận công tác” mà trốn biệt. Một người trong gia đình không hiếu để thì ra đời ắt lưu manh. Một tiệc nhậu hàng triệu hả? Tôi tin! Bởi vì tiền đó là của dân, của rừng, kẻ lưu manh nào biết xót!

– Nhưng người ta chi ra một để mang lợi về nhà nước tới  mười!

– Cái đó mới là chuyện khó tin!

– Vậy chuyện thi đua nhậu nhẹt mà thằng cha nhà báo kể thì tin được chắc?

Sau nội dung bài báo, người ta chuyển ý kiến qua người viết báo và người bị phê bình:

– Thanh Nam là thằng nào? Nghe nói nó có thù hằn, tranh giành quyền lợi  gì đó với ông Danh thì phải.

– Đừng có nói bậy! Ổng là dân làng Đồi mình ngày xưa chớ chẳng xa lạ gì đâu. Con trai Sáu Thành, bị tù mấy tháng về tội chứa tù cộng sản vượt ngục đó mà.

– Biết rồi! Thì ra thằng đó! Hèn chi nó về đây, tới nhà ông Ba Công để điều tra. Nói thiệt với bà con, sao tôi không ưa nổi bọn nhà báo. Chi mà chúng soi mói người ta còn hơn cả đám đờn bà…

– Mỗi người một nhiệm vụ. Đã là nghề nghiệp thì phải công phu với nghề của mình chớ. Thử hỏi ông Thanh Nam có lợi lộc gì trong vụ này?

– Sao không! Để được nổi tiếng!

– Sao không nói là để chuốc lấy thù hận, và biết đâu một bữa nào đó bị ép xe té giữa đường hay bị lụi dao giữa rừng.

Một tuần sau, bài báo thứ nhì xuất hiện với tựa nhỏ: “Những bản hợp đồng có thật và những bản hợp đồng ma”. Nội dung bài báo nói về hoạt động kinh tế ở lâm trường Đại Ngàn được dẫn chứng bằng những con số. Về khía cạnh luật pháp, đây là bài quan trọng nhất, nhưng với người dân làng Đồi thì chúng không lôi cuốn người ta bàn tán bằng bài thứ nhất.

Giáo Đức đưa tin thêm:

– Giám đốc Danh đã tới tận tòa báo để phản đối. Ổng cho rằng mình bị vu khống, bị xúc phạm danh dự và đòi kiện nhà báo Thanh Nam ra tòa.

Sáu Nhỏ góp thêm:

– Tôi nghe người quen bên lâm trường nói phe ông Danh hầm lắm! Họ đã gửi thư cho ông Thanh Nam yêu cầu chấm dứt loạt bài và công khai xin lỗi trên báo, nếu không thì đừng trách họ nặng tay. Tôi e rằng vụ này sẽ lôi thôi to!

Nhà thơ điên Hoài Mộng thì ngâm nga:

Ở đời muôn sự của chung

Chia nhau mà hưởng của rừng dại chi

Khen ông Danh lắm, tức thì

Chê ông Nam dở, khui chi chuyện này

Ngồi buồn nói dở thành hay

Nói tốt thành xấu, chớ ai đui mù

Cái thời sâu bọ lu bù

Sao đàn chim Tóc còn chờ đợi chi?

Ăn cho hết lũ sâu đi

Tóc tóc tóc tóc! Mổ đi chim thần!

Bài báo thứ ba là bài: “Những bữa cơm chan mồ hôi và nước mắt” kể về cuộc sống thiếu thốn của bộ phận không nhỏ công nhân lâm trường. Thanh Nam viết rằng để có bài viết này, anh đã mạo hiểm trở lại lâm trường, tìm gặp một số công nhân ở đây tận trong rừng. Tuy nhiên, tin giật gân nhất là dòng tin giờ chót ở cuối bài báo : tòa soạn cho biết nhà báo Thanh Nam bị một kẻ lạ mặt đánh bất tỉnh trên một quãng đường vắng ở Sài Gòn, hiện anh đang nằm điều trị trong bệnh viện!

Dư luận bàn tán nơi quán cố Hai:

– Chắc chắn đó là đòn thù của giám đốc Danh!

– Không đời nào! Một người như ông Danh chẳng dại gì hành động nông nổi như thế. Mà bằng chứng đâu để kết tội người ta?

– Tội nghiệp nhà báo Thanh Nam.

– Có ăn có trả, tội nghiệp gì!

K.V (mời xem tiếp kỳ 10)

Nguồn: Bongtram.vnweblogs.com

Thẻ:

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống