NHỮNG NGƯỜI NUÔI LỬA – tiểu thuyết Khôi Vũ (Kỳ 7)

5.

Cuốn sách Minh Tâm
Tay anh cầm, em đọc
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo
Cao phi viễn tấu giả nan tàn.
Hồi nào anh thuơng em
Nay đem dạ phụ phàng
Anh ơi ! Trời cao có mắt
Ông trời nào tha anh.  

Bốn mươi ba tuổi, y sĩ Nguyễn Ánh Vân bị người làng Đồi coi như một cô gái lỡ thời. Công bằng mà nói, chị Vân không phải là một cô gái xấu xí, nhan sắc chị tuy không chim sa cá lặn nhưng cũng thuộc hạng trên trung bình, lại thêm dáng người mảnh mai, ăn nói dễ thương. Ngày xưa, chị Vân là một trong những cô gái đầu tiên ở làng Đồi thi đậu tú tài rồi lại thi đậu vào trường cán sự điều dưỡng. Ra trường, chị Vân làm việc trong một bệnh viện lớn ở Sài Gòn cho tới ngày giải phóng miền Nam mới trở lại quê hương, xin công tác ở trạm xá để được gần gia đình. Người ta phiên qua ngạch bậc mới, gọi chị là y sĩ và giao nhiệm vụ phụ trách trạm xá. Thời gian đầu, y sĩ Vân không có nhân viên phụ tá, mãi gần đây chị mới giúp được hai cô gái trong làng lên tỉnh học rồi trở về phụ việc cho mình.

Bấy lâu nay, y sĩ Nguyễn Ánh Vân vẫn được xem là một cán bộ y tế tốt. Nếu chưa hẳn được “như từ mẫu” thì chị cũng được thừa nhận là nhiệt tình, tận tụy với mọi bệnh nhân cần đến mình. Người dân làng Đồi có thể tìm tới tận nhà riêng của chị ở dưới chân đồi Chúa, dù là vào đêm hôm khuya khoắt, để mời chị đi thăm bệnh đột xuất. Mỗi khi có việc về tỉnh lỵ, chị thường thông báo cho số người bị bệnh mãn tính biết để họ gởi mua thuốc đặc trị. Mua được thuốc về, chị trao thuốc và tiền dư nếu có, không quên kèm theo hóa đơn tính tiền của cửa hàng dược.

Y sĩ Vân nhìn ở khía cạnh một cô gái cũng có nhiều điều đáng quý mến. Đám tang cha, một tay chị sắp xếp mọi việc cùng hai người em lo liệu chu đáo. Chị làm nghề chuyên môn nhưng những lúc rảnh rang hoặc vào vụ mùa là phụ má và hai em làm ruộng rẫy, kiếm sống, đùm bọc nhau. Gia đình bà Tư rỗ, má y sĩ Vân, được coi là một gia đình hòa thuận, êm ấm nhất làng Đồi.

Vậy mà cuộc đời của cô gái chẳng có gì đáng trách ấy lại gồm toàn những bất hạnh về tình cảm nối tiếp nhau. Hồi còn làm việc ở Sài Gòn, nghe nói chị Vân đã từng yêu tha thiết một bác sĩ và đã hứa hẹn tiến tới hôn nhân. Nhưng chỉ một năm sau, ông bác sĩ lại chia tay với chị để cưới con gái một ông giám đốc ngân hàng tư. Khi trở lại làng Đồi, chị Vân đã ba mươi tuổi, không thể tìm được ở đây một người chồng lớn tuổi hơn mình, học lực ngang mình. Từ ngày ấy đến nay đã hơn chục năm nữa qua đi…

Xong bữa cơm chiều, Huyên dặn chị em Bình Minh và Khánh trông nhà để cô qua nhà dì Vân có chút việc.

Huyên mất mười lăm phút để đi hết con đường làng quanh đồi Lửa. Người làng Đồi chưa đến độ xem thường hoặc lạnh nhạt với các thầy cô giáo như ở một số nơi mà Huyên từng nghe đồng nghiệp kể. Học trò trường Đồi coi trọng thầy cô, chào hỏi lễ phép khi gặp trên đường. Huyên đáp lời chào của bà con với cả tấm lòng người cùng làng. Cô vui vẻ gật đầu chào lại học trò với cả sự trìu mến của người đi trước. Ngang cổng trường, Huyên gặp mấy thầy cô giáo trẻ đang đứng trò chuyện. Họ giữ Huyên lại một lúc và bày tỏ ý kiến ủng hộ cô đã có thái độ cương quyết và đúng mức. Nhưng có một cô giáo trẻ lo ngại: “Em được biết thầy Thuyết rất tự ái, lại hay thù dai nữa”. Huyên cười: “Trường Đồi chúng ta cũng có tự ái chứ em !”.

Qua quán cố Hai đã sáng ánh đèn măng sông và có khá đông khách tới ăn uống. Huyên đi thêm một quãng rồi rẽ vào trạm xá. Cô nghĩ: “Giờ này không biết chị Vân đã về nhà chưa, nhưng mình cứ ghé lại xem sao, nếu không gặp, mình sẽ tới nhà”.

Cửa trước trạm xá vẫn mở nhưng không thấy ai. Phòng bên trái với ba chiếc giường lưu không có người nằm. Phòng bên phải nhỏ hơn, vừa là phòng thuốc vừa là chỗ nghỉ ngơi của nhân viên trực, cửa khép. Huyên lên tiếng:

– Có ai trong trạm xá không?

– Ai đó?

Tiếng hỏi vọng lên phía sau trạm xá, giọng quen thuộc của y sĩ Vân. Huyên mừng rỡ:

– Em, Huyên đây. Chị chưa về sao chị Vân?

Cô đi ra phía sau. Cô ngạc nhiên thấy y sĩ Vân đang lom khom trước cái bếp kê tạm bằng mấy hòn gạch nơi hè sau. Vân lúng túng khi thấy Huyên:

– Huyên đó hả em. Xin lỗi… chị đang dở tay nấu cơm. Em đi công chuyện rồi tiện dịp ghé chị hay là đứa nào ở nhà sổ mũi nhức đầu?

– Dạ không, hai đứa nhỏ khỏe cả chị Vân à. Em đi kiếm chị. Bữa nay tới phiên chị trực hay sao?

– À không… chị… chị… chị dọn ra đây ở luôn cả tuần nay rồi Huyên à… Em… em lên trên nhà ngồi chơi đợi chị một lát đi em…

– Chị nói gì? Chị ra đây ở?

Huyên ngồi xuống bên Vân, ánh mắt cô nhìn chị y sĩ muốn tìm câu trả lời thật hơn. Đột nhiên, Vân ôm mặt khóc. Cô nói lẫn tiếng nức nở:

– Chị đã làm nhục gia đình mình. Má chị không trách mắng gì nhưng bà khóc hoài, chị không chịu nổi. Còn Ba Hùng và con Út thì ngại chạm mặt chị… Chị tự động dọn ra đây…

Huyên nhìn Vân. Cái bụng chị y sĩ đã lúp xúp.

Buổi chiều xuống rất thấp. Vào lúc hoàng hôn, những tia nắng cuối vẫn cố sáng lên để chứng tỏ sự hiện hữu của mình. Huyên nắm tay Vân, nghĩ ngợi về những tia nắng cuối ngày:

– Chị Vân à, em hỏi thiệt chị… Có lúc nào, chị nghĩ quấy không?

Vân lau nước mắt:

– Có! Đôi lúc chị đã nghĩ tới chuyện tự tử. Nhưng chị lại kịp nghĩ tới đứa nhỏ trong bụng. Nó không có tội, em à…

– Chị nghĩ vậy em mừng lắm. Đứa con bao giờ cũng là niềm an ủi cho các bà mẹ…

“… Như em vậy!”. Huyên muốn nói thế mà không thốt nên lời. Cô chạnh nhớ đến Khoa, nhớ đến hoàn cảnh của mình. Lá thư mới nhất của Khoa từ Mỹ gửi về, cô mới nhận được. Những dòng chữ như còn nhảy múa trước mắt cô…

– Ủa, em sao vậy Huyên?

– Khói bay vô mắt em…

– Thôi, xong nồi cơm rồi. Chị em mình lên nhà trên nói chuyện đi em…

Chị Vân thắp đèn dầu. Nhưng rồi hai chị em lại đem ghế ra ngồi trước hiên trạm xá, cách con đường chính xuyên làng Đồi hơn chục thước. Chiều tàn và đêm tới. Đường vắng lặng. Không gian yên tĩnh và bắt đầu lành lạnh. Huyên tìm Vân để an ủi chị y sĩ bất hạnh mà cũng để tự giải tỏa mình khỏi những bận tâm đến từ buổi sáng nay. Huyên có nhu cầu thố lộ tâm sự. Nhưng ngồi bên Vân, cô chỉ có thể đóng vai người chia sớt tâm sự với chị y sĩ. Cô tế nhị tránh nói đến cha đứa bé. Cô thầm nguyền rủa Đạo nước suối, con sâu bọ vẫn nhởn nhơ sống giữa làng Đồi. Mấy lần cô tự hỏi mình: “Mình có nên động viên chị Vân tố cáo Đạo nước suối để làng có chứng cớ trừng trị y hay không?”.

– Chừng nào thì chị sanh?

– Hơn hai tháng nữa, em à.

– Em bàn thế này nhưng tùy chị tính. Chị thu xếp về ở chung với má con em, không nên ở đây một mình. Khi chị sinh nở, có em và hai đứa nhỏ dù sao cũng đỡ hơn cảnh cô quạnh…

Vân cầm tay Huyên, nước mắt cô rơi trên tay hai người:

– Em thương chị quá. Nhưng, cứ để đó từ từ cho chị tính đã em à. Em đừng quên, em là cô giáo hiệu trưởng trường Đồi, em là mẫu mực của đạo đức trong khi đó chị thì…

Gần tám giờ tối, Khánh soi đèn pin đi tìm Huyên. Chú bé chào dì Vân lễ phép như những gì cần phải làm ở một đứa trẻ với người lớn, Huyên từ giã Vân để về với cháu.

Khánh đi trước, Huyên nối gót cháu. Khi đi ngang cổng trường Đồi, Khánh chợt đi chậm lại rồi sóng hàng với cô Hai. Chú bé hỏi:

– Sao cô Hai ở chơi với dì Vân lâu quá vậy?

– Cô Hai an ủi dì Vân.

– Lẽ ra cô Hai chỉ cần ghé thăm ít phút là đủ rồi.

Huyên ngạc nhiên:

– Tại sao?

– Tại vì dì Vân là người xấu. Còn cô Hai thì đầu tuần nào cũng dạy học trò điều lễ nghĩa…

Huyên sững sờ trước ý kiến của Khánh. Rõ ràng, đó là “người đàn ông mười bốn tuổi”.

Khánh có lý. Nhưng dù sao chú bé cũng còn nhỏ tuổi, lại càng không phải là một người đàn bà để biết thế nào là sự đau khổ…

Lại thêm một đêm nữa, ngọn đèn dầu nơi bàn làm việc của Huyên thức cùng cô thật khuya.

Để đối phó với công văn của phòng giáo dục sẽ nhận được nay mai, Huyên đã nghĩ tới việc nhận khuyết điểm nhưng đồng thời kiến nghị được tiếp tục như một nội dung dạy thử. Về lâu dài, một mặt cô phải nhờ chị Thủy kế toán tác động thầy Thuyết trong những lần về thành phố làm việc, mặt khác, cô sẽ nhờ Nam…

Nhưng Nam đã không trở lại làng Đồi như lời hẹn. Chẳng biết vì sao?

Còn đây, trước mắt Huyên là lá thư của Khoa mà cô lại lấy ra đọc, không nhớ là đến lần thứ mấy.

“… Một nữ đồng nghiệp người Mỹ tỏ ra có cảm tình với anh, sẵn sàng tiến tới hôn nhân với anh. Nhưng anh đã từ chối tình cảm với cô ấy. Anh rất ân hận đã để xảy ra chuyện đáng tiếc khiến vợ chồng mình phải chia tay. Anh vẫn muốn được sum họp với em và Bình Minh. Chỉ cần em trả lời chấp nhận, anh sẽ lo mọi thủ tục bảo lãnh mẹ con em qua Mỹ.

… Nếu không có gì thay đổi, khoảng tháng bảy, tháng tám năm nay, anh sẽ về nước trong phái đoàn khoa học Mỹ hợp tác với Việt Nam một chương trình chuyên môn. Anh mong em suy nghĩ kỹ từ nay đến lúc ấy, nếu em chưa thể có quyết định sớm hơn và hồi âm cho anh bằng thư. Trong trường hợp em không muốn ra đi, có thể nào, em cho phép anh được lo cho bé Bình Minh?”

Ngọn đèn chợt mờ dần. Ngọn lửa nhỏ giật mấy lần lên xuống rồi tắt ngấm. Huyên quẹt diêm xem lại bầu đèn: nó đã cạn dầu. Tuy nhiên, thay vì châm thêm dầu vào đèn thì cô cứ ngồi nguyên chỗ, tự nghĩ rằng mình đang tan loãng vào bóng đêm…

Cô nói thầm với bé Bình Minh trong bóng tối: “Má con mình sẽ không đi đâu cả. Con cũng không đi đâu cả, con sẽ không bỏ má, phải không Bình Minh của má?”.

 

 

CHUYỆN KỂ THỨ NHẤT CỦA CÔ GIÁO HUYÊN

(Câu chuyện dưới cờ)

Từ những ngày xưa lắm, Sông Rồng là một trong mấy đứa con cưng của Cha Đất và Mẹ Biển. Sinh ra từ những đỉnh núi cao quanh năm phủ đầy băng tuyết, Sông Rồng thực hiện chuyến đi của đời mình qua nhiều xứ sở khác nhau. Ngày ngày, khi băng mình ồn ã, lúc chậm rãi trôi, Sông Rồng nghe ngóng chuyện muôn loài, tìm kiếm và dành dụm những sản vật quý của Cha Đất ban phát cho trên đường đi của mình để làm quà dâng Mẹ Biển. Sông Rồng cùng những đứa con cưng khác của cha mẹ mình, là biểu hiện tình yêu vĩnh cửu của Cha Đất và Mẹ Biển, hai đấng đã sinh thành và nuôi dưỡng muôn loài.

Một ngày kia, ở gần nơi Sông Rồng đến dâng sản vật quý cho Mẹ Biển, có những con suối nhỏ róc rách chảy, gặp nhau trò chuyện và cũng tỏ ý muốn nhập bọn với nhau thực hiện một chuyến phiêu lưu về phương Nam tìm Mẹ Biển. Chúng rủ thêm nhiều con suối khác mà chúng gặp trên đường đi, tất cả hợp thành dòng Sông Nai bé bỏng. Dòng sông thơ trẻ này cũng bắt chước Sông Rồng nhặt nhạnh những sản vật quý trên đường đi để làm tặng vật dâng Mẹ Biển khi được gặp Người. Có những đoạn đường đi êm ả, nhưng cũng không thiếu những nơi gập ghềnh. Tại những nơi này, Sông Nai bé bỏng tung mình qua ghềnh đá cheo leo thành thác trước khi rơi xuống, lại tụ thành dòng chảy hiền lành. Tiếng thác reo: “Dẫu đường dài và nhiều nguy hiểm, tôi vẫn quyết vượt qua để tìm đến với Mẹ Biển.”

Trước khi Mẹ Biển biết được tấm lòng của Sông Nai thì Sông Rồng đã nghe được qua lời gió kể. Nó liền thuật chuyện với Mẹ Biển và van nài:

– Mẹ hãy giúp đứa em bé bỏng và tội nghiệp của con. Nó cần có một xứ sở bao la và xinh đẹp giống như của con để vui đùa, nuôi dưỡng muôn loài…

Mẹ Biển suy nghĩ rất lâu mới nói:

– Ta có thể rút nước xuống thấp để vùng nước đang chứa tặng vật của con hiện ra, làm xứ sở mới cho Sông Nai. Nhưng khi đó thì con phải đổi dòng.

Sông Rồng đáp chẳng chút đắn đo:

– Con sẵn sàng làm theo lời mẹ dạy.

Chẳng bao lâu, một xứ sở mới được nhô lên từ lòng Mẹ Biển. Sông Rồng chuyển về hướng Tây Nam, sung sướng chứng kiến cảnh đứa em reo ca tung tăng trên vùng đất mới. Đó là vùng đất Đông Nam màu mỡ mà phía đông và phía nam nằm kề Mẹ Biển thân yêu. Sông Nai xuôi phương nam, uốn lượn về phía tây một đoạn rồi mới chịu vòng lại hướng mặt trời mọc, sà vào vòng tay thương yêu của Mẹ Biển. Lần đầu tiên nó được nghe bài hát ru tha thiết của bà mẹ vĩ đại ngày đêm cùng tiếng sóng vọng vào bờ:

Tình yêu thương làm nên cuộc sống

Lòng hận thù là mầm của diệt vong

Trên rừng kia có bầy nai hiền như nắng sớm

Ven sông này có đàn chim xinh như mây chiều

Nai và chim, rừng và sông

Tất cả là bạn bè, tất cả yêu thương nhau

Làm nên cuộc sống tươi vui

Hỡi con cái của ta ơi!

Hãy hát vui lên dưới ánh mặt trời

Rồi ngủ thật bình yên khi đêm xuống.

 

Sông Nai nghe xong bài hát ru liền thủ thỉ cùng Mẹ Biển rằng:

– Xin cho con có những bạn bè giống như trong bài hát ru của mẹ.

Mẹ Biển nói:

– Đó là quyền của Cha Đất. Nhưng Người còn đang ngủ say. Con hãy chờ đấy, khi nào Cha Đất dậy, ta sẽ xin cho.

Giấc ngủ của Cha Đất không bao giờ ngắn. Trong khi đó thì Sông Nai lại quá mong có bạn. Nó cất lời qua tiếng thác reo, rủ bạn bè đến cùng vui vầy với mình trên xứ sở mới.

Cây cối đến với Sông Nai, chen chúc, quần tụ nhau thành rừng, đông đúc nhất là họ hàng nhà Dầu, nhà Tre. Các loài thú đầu tiên đến với Sông Nai toàn loài ăn cỏ, đông đúc nhất là họ hàng nhà Nai. Chim chóc đến với Sông Nai rộn vang tiếng hót. Từ phương bắc xa xôi, một đàn chim có bộ lông đen, đầu và ức lại trắng, bay đến. Chúng nói với Sông Nai:

– Chúng tôi là Chim Tóc, loài chim của tình yêu thương. Chúng tôi chỉ sống được ở nơi nào có tình yêu thương. Nếu xứ sở mới của bạn là đất lành, chúng tôi sẽ ở lại cùng bạn. Còn như trái lại thì chúng tôi sẽ bay về quê cũ.

Sông Nai hớn hở:

– Vậy thì các bạn hãy ở lại với tôi. Vì nơi đây chỉ có tình yêu thương.

Trong một thời gian không ngắn, khi Cha Đất còn chưa thức giấc, Sông Nai đã sống chan hòa yêu thương với các bạn mới của mình. Cây xanh tươi tầng tầng lớp lớp. Chim thú đùa vui dưới nắng hồng, sinh nở thành bầy đàn. Những con chim Tóc đã có ý định ở lại hẳn vùng đất mới mầu mỡ và vui vẻ này.

Đột nhiên, bầy cọp dữ từ phương xa tìm tới. Bầy kên kên ăn thịt cũng xuất hiện trên bầu trời. Đàn nai không còn những tháng ngày sống yên lành, lũ chim nhỏ bé bị bầy ác điểu đe dọa. Sông Nai lên tiếng xua đuổi bầy ác thú ra khỏi xứ sở của mình. Nhưng vô ích, chúng gầm gừ lì lợm, chúng tàn sát không thương tiếc những con vật nhỏ yếu hiền lành hơn. Vùng đất của Sông Nai trở nên náo động, ồn ã.

Chính vì vậy mà Cha Đất phải giật mình thức dậy khi giấc ngủ của Người chưa thật no đầy. Người bực bội vì bị phá giấc nên dễ sinh ra hung hãn khi phát hiện thấy vùng đất mới nổi trên những con sóng nhấp nhô của Mẹ Biển mà mình không hề hay biết. Cha Đất cho là mình bị xúc phạm. Người gầm lên giận dữ. Tiếng gầm vang dội từ đáy lòng Cha Đất khiến cả vùng đất mới rung chuyển và khiến cho Sông Nai cùng muôn loài hoảng hốt. Cha Đất hỏi:

– Ai cho phép các ngươi tự tiện làm việc này?

Mẹ Biển vỗ những đợt sóng mơn man Cha Đất mong làm cho Người nguôi ngoai đôi phần:

– Xin hãy nghe tôi nói…

Nhưng Cha Đất gầm lên:

– Không! Đừng van nài ta điều gì cả…

Rồi Cha Đất chuyển mình. Người quyết định trừng phạt những kẻ đã dám hành động trái ý mình. Cơn giận dữ khiến lửa trong lòng Người sôi sục. Một dải đất về phía mặt trời mọc của xứ sở Sông Nai chợt phập phồng rồi từ đó những dòng lửa lỏng phun lên. Rừng cây về phía đó chưa kịp bị thiêu rụi đã phải bật gốc trôi theo dòng lửa lỏng. Muông thú chỉ kịp có cảm giác như mặt trời từ trên cao sà xuống ngoạm lấy mình. Chim chóc cố tung cánh lên bầu trời nhưng không thể vượt cao hơn hơi lửa nóng hừng hực, chúng rơi lả tả như những chiếc lá đang tươi bỗng khô xác. Sông Nai thấy rõ một dòng sông lửa khổng lồ trườn qua dải đất phía đông của mình, đi đến đâu tiêu diệt mọi sự sống đến đấy. Dòng sông lửa ấy chồm lên một phần thân thể của Sông Nai khiến nó không khỏi thét gào đau đớn. Nó giãy giụa, cố vươn nhanh về phía Mẹ Biển.

Mẹ Biển đang hết lời van cầu Cha Đất:

– Hãy tha thứ cho tôi. Tất cả là lỗi ở tôi mà.

Nước mắt của Mẹ Biển bay lên bầu trời rồi rơi trở lại, thấm đẫm người Cha Đất. Tình yêu thương làm cho cơn thịnh nộ của Cha Đất nguôi đi. Nhưng cho tới lúc đó, dòng sông lửa giận đã tràn cả một khu vực rộng lớn trên vùng đất mới. Nó khô dần thành một miền đất đỏ như son, còn có vẻ mầu mỡ hơn cả miền đất cũ xám màu phù sa, vốn là tặng vật của Sông Rồng dâng Mẹ Biển.

Rừng cây trên miền đất xám ngơ ngác nhìn về phía miền đất đỏ. Muông thú còn sống sót trên vùng đất còn bình yên chưa hết cơn sợ hãi. Chim chóc ẩn mình dưới các tàn cây, run rẩy. Sông Nai im hẳn tiếng thác reo, lặng lẽ chảy như thuở còn là những con suối nhỏ róc rách.

Cha Đất trầm ngâm trước cảnh vật hoang tàn. Người thấy đàn chim Tóc vỗ cánh lên bầu trời cao, nhắn lời xuống với Sông Nai:

– Xin từ giã bạn! Chúng tôi bay về phương Bắc đây. Vì nơi đây không có tình thương.

Cha Đất gầm gừ:

– Lũ chim kia! Bọn ngươi vừa nói điều gì vậy?

– Chúng tôi nói rằng nơi đây không có tình thương.

– Tại sao bọn ngươi dám bảo rằng nơi đây không có tình thương?

– Vì người đã tàn phá cả một vùng rộng lớn đang tràn đầy lời ca tiếng hát, đang tràn đầy tình yêu cuộc sống. Đó là sự thù hận…

– Không đúng! Đó chỉ là một cơn giận dữ…

– Ngay cả sự giận dữ vô cớ cũng không giữ chúng tôi ở lại đây được.

– Như thế thật sao?

– Phải! Xin từ giã!

– Hãy khoan! Hãy nghe ta nói. Có thể, phải, có thể là bọn ngươi có lý. Nhưng không phải ta chỉ giận dữ vì xảy ra điều trái ý mình, mà ta còn khó chịu vì những trò húng hiếp của bầy ác thú với những con vật hiền lành. Dù sao thì ta cũng đã nguôi cơn giận dữ rồi. Đúng vậy, ta đã nguôi cơn giận dữ…

Rừng cây nghiêng người về phía mặt trời mọc lắng nghe lời Cha Đất. Muông thú nín thở chờ đợi. Chim chóc nép mình bên nhau nghe ngóng. Sông Nai quá hồi hộp, dòng nước chợt ngưng không chảy trong chốc lát.

Khá lâu, Cha Đất mới cất tiếng thở dài. Tiếng thở dài ấy khiến rừng cây rung động, những chiếc mắt lá khẽ chớp. Chim thú cảm thấy yên tâm hơn. Còn Sông Nai thì ứa nước mắt, dòng sông lại chuyển động, trôi về phía Mẹ Biển. Tiếng nói của Cha Đất trở nên hiền lành như bao thời gian trước đây Người vẫn bao dung, vẫn ban phát cho muôn loài cuộc sống phong phú. Cha Đất bảo Mẹ Biển:

– Hãy cất lời hát ru những đứa con thương yêu của chúng ta đi!

Người lại bảo Sông Nai và tất cả:

– Hãy sống yêu thương nhau. Nhớ đừng bao giờ làm cho cơn giận dữ tận đáy lòng ta phải bừng lên. Hãy nhớ đấy! Nếu muốn sống bình yên và hạnh phúc!

Muôn loài reo lên sung sướng. Mẹ Biển vỗ sóng miên man, lời hát ru bay đến tận nơi Sông Nai sinh ra, bay đến tận nơi Sông Rồng đổi dòng, bay khắp rừng cây đến với muông thú và chim chóc…

Xứ sở của Sông Nai trở lại yên lành từ đó.

Đàn Chim Tóc ở lại với Sông Nai, sinh con đẻ cháu…

K.V (mời xem tiếp kỳ 8)

Nguồn: Bongtram.vnweblogs.com

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *