Home » Truyện người lớn » NHỮNG NGƯỜI NUÔI LỬA – tiểu thuyết Khôi Vũ (Kỳ 6)

3.

Nam không ghé vào văn phòng lâm trường Đại Ngàn để làm việc với giám đốc Danh như ở nhiều đơn vị khác anh từng đến. Anh quyết định đi thẳng vào khu vực các phân trường.

Cái chợ nhỏ của dân cư quanh khu vực văn phòng vắng người mua bán. Chợ nhỏ trong rừng, lại là chợ chiều, những hình ảnh lười nhác chuyển động, một không gian êm ắng và đẫm hơi nước, lành lạnh, gợi buồn, gợi nhớ.

Anh Tám Thiện là chủ quán ăn mà Nam ở trọ suốt ngày nay, là một trong những người viết thư tố cáo. Khi hai bên đã nhận ra nhau, Tám Thiện mời Nam vào nhà trong rồi lập tức sai con đi gọi Út Huê, người không viết đơn nhưng Tám Thiện cho biết là nhân vật quan trọng biết rất nhiều bí mật chốn “thâm cung của lãnh chúa”.

Út Huê khá đẹp. Theo lời cô kể thì trước kia cô là thư ký riêng của giám đốc Danh, chỉ vì không chiều theo một số ý muốn thiếu lành mạnh của giám đốc mà bị đẩy xuống bán căn tin. Khi nói “thiếu lành mạnh”, Nam thấy mặt Út Huê ửng đỏ. Trí tưởng tượng giúp anh hình dung ra những gì đã xảy đến với cô gái mà trước mặt người lạ, lại là người khác phái, cô ta không thể kể rõ ràng. Út Huê kể về một vài vụ làm ăn lớn của giám đốc mà theo cô là không hợp pháp. Cô cho Nam xem một số chứng từ mà cô có được. Anh chụp hình số giấy tờ này làm tài liệu. Anh dặn Út Huê phải hết sức giữ bí mật cuộc tiếp xúc với anh. Cô gái nói:

– Anh yên tâm. Em biết việc này có liên quan đến chỗ làm và có khi, cả đến tính mạng của em nữa. Nhưng em không thể điềm nhiên để cho người ta phá rừng làm giàu, ức hiếp công nhân…

Nhân vật thứ hai mà Tám Thiện cũng cho là quan trọng có tên là Bảy Mót, công nhân ở tận phân trường bảy, phân trường cuối cùng của lâm trường Đại Ngàn. Tám Thiện nói:

– Trong ngày, nó vô rừng làm. Muốn gặp nó chỉ có buổi tối…

Nam quyết định ngay:

– Nếu vậy tôi sẽ tìm gặp Bảy Mót ngay tối nay.

– Nguy hiểm lắm, nhà báo ạ. Đường rừng buổi chiều, ông lại là người lạ. Tôi tính thế này, sáng mai tôi sẽ đưa ông vô đó rồi ông tùy cơ ứng biến trong ngày, đợi tới khi Bảy Mót về sẽ gặp nó…

Cuối cùng, Nam vẫn thực hiện ý định của mình. Anh lên xe vào rừng với lá thư giới thiệu của Tám Thiện. Mạo hiểm? Nam còn xa lạ gì với những chuyến đi như thế! Vả chăng, kinh nghiệm cho Nam thấy rằng những hành động bất ngờ như vậy lại thường đem đến kết quả tốt.

Trên đường rừng xuất hiện một vọng gác. Cái ba-ri-e chắn ngang con đường đất đỏ. Từ trong vọng gác, một thanh niên tóc tai bù xù, mặc áo bộ đội, quần dân sự, tay xách súng M.16 bước ra. Anh ta giơ tay chắn dù Nam đã dừng xe. Anh ta hất hàm hỏi bằng giọng miền Trung khó nghe:

– Đi đâu giờ này? Cho xem giấy tờ!

Suýt chút nữa Nam đã móc thẻ nhà báo ra theo thói quen. Trong trường hợp này, cái thẻ sẽ giúp anh giải quyết việc trước mắt nhưng biết đâu nó lại chẳng gây khó khăn cho anh mai sau.

Nam móc gói thuốc thơm:

– Làm một điếu cho ấm bụng đi em! Chà! Chiều xuống coi bộ lạnh dữ…

Anh chàng bảo vệ nhìn Nam dò xét nhưng vẫn nhận một điếu thuốc, lấy quẹt trong túi mình ra mồi. Câu hỏi được lập lại nhưng lần này đã rút ngắn đi một nửa và giọng nói dịu hơn:

– Anh đi đâu vậy?

Nam cười thân mật:

– Nhà ông Tám lùn ở đâu, em làm ơn chỉ đường giùm anh…

Một tiếng cười bật ra cùng cái gật đầu:

– Hiểu rồi! Anh kiếm ông Tám lùn mua thịt nai phải không? Anh ở ngoài chợ hả? Có độ gì vậy?

Nam cười không đáp. Anh chìa gói thuốc thơm về phía anh chàng bảo vệ:

– Lấy thêm vài điếu bỏ túi đi em. Nhà ổng có xa lắm không?

Anh chàng bảo vệ lấy thêm ba điếu, cử chỉ khá tự nhiên. Anh ta vừa rít thuốc vừa chỉ dẫn khá tận tình:

– Anh đi chừng cây số rồi rẽ trái. Đi qua một ngọn đồi tới chân đồi bên kia, anh hỏi thăm, ai cũng có thể chỉ cho anh tới tận nhà ông Tám lùn cả…

Cái barie được nâng lên. Nam đạp số nhưng chưa vội rồ ga:

– Nhắm chừng bữa nay có thịt không em?

– Cũng khó biết lắm! Rừng kỳ này ít thú rồi! Nhưng ông Tám lùn có bao giờ vô rừng mà chịu về tay không đâu!

– Cảm ơn em, anh đi nhé!

Chiếc Honda lao về phía trước.

Đúng như lời chỉ dẫn của anh chàng bảo vệ, cách vọng gác chừng một cây số có ngã rẻ trái. Nhưng Nam vẫn chạy thẳng vì anh chẳng hề có mục đích tìm Tám lùn mua thịt nai. Tám lùn, theo lời Tám Thiện kể, chỉ là một công nhân lâm trường trên giấy tờ. Trong thực tế, ông ta là một thợ săn chuyên đi bắn nai lấy gạc, nhung hoặc đuôi nai cái bán cho giám đốc Danh dùng làm quà biếu cấp trên hoặc sử dụng cho chính mình.

Rừng Đại Ngàn trong ý nghĩ của nhiều người, là khu rừng già với hầu như đủ loại gỗ quý và chim thú hiếm. Cái cảnh quan trù phú và xinh đẹp ấy ngày nay không còn ở đây nữa. Cảnh rừng đã thay đổi hẳn. Từ khu văn phòng lâm trường, người ta phải đi sâu hơn ba mươi cây số mới đến phân trường bảy là đơn vị mới nhất và duy nhất của lâm trường còn có chức năng khai thác gỗ ! Rừng thực sự đã lùi sâu ba mươi cây số!

Chiều đang xuống. Không gian thấm lạnh. Con đường đất đỏ xuyên rừng vắng lặng. Dù đã từng nhiều lần đi trên độc đạo xuyên rừng ở nhiều nơi, Nam vẫn thấy rờn rợn. Trong đầu anh lởn vởn những câu chuyện được nghe kể về luật giang hồ mà giám đốc Danh thường áp dụng để giải quyết những vụ việc có ảnh hưởng xấu đến anh ta. Buổi trưa ở nhà Huyên, Khánh đã tắc lưỡi: “Những chuyến đi của bác Nam nghe mê quá!”, còn Huyên thì ái ngại nhắc anh: “Phải lo giữ mình, anh Nam ạ!”. Nam nghĩ về Huyên, anh hình dung ra giờ này ở làng Đồi, Huyên đang làm cơm và chuẩn bị dùng bữa chiều ấm cúng với con gái và cháu trai. Dù sao, Huyên cũng còn được hưởng đôi phần hạnh phúc. Nam khác hơn, những chuyến đi xa, mạo hiểm, cực khổ… Có thật là niềm vui của anh?

Đêm xuống sớm. Nam cũng vừa đến khu vực của phân trường bảy. Ánh đèn điện yếu ớt từ chiếc máy phát điện công suất nhỏ làm sáng lên khu vực văn phòng phân trường ở phía phải, ven một dòng suối. Dãy hàng quán nằm dọc phía trái con đường vào rừng sâu le lói ánh đèn dầu. Ba bốn chiếc xe be, xe tải nằm rải rác trên bãi đậu xe rộng thênh thang chờ đến lượt vào rừng kéo gỗ. Mấy cái bàn nhậu, bàn cà phê của dãy hàng quán xúm xít dăm người đàn ông, có nơi còn có mặt cả phụ nữ. Họ là những người lái xe hoặc áp tải của những chiếc xe nhận gỗ tư nhân. Có bàn ồn ào tiếng trò chuyện trong khi nơi bàn khác lại lặng lẽ như tờ. Nơi một bàn nọ có mặt hai cô gái mà cách trang phục và cử chỉ dễ cho người ngoài đoán được thành phần. Nghĩa là ở một nơi rừng sâu heo hút này, trên một diện tích rừng bị bóc trắng, vẫn có một xã hội thu nhỏ với đầy đủ mọi thành phần và phần lớn sinh hoạt như một phố thị.

Nam dắt xe đến cái quán gần nhất, chọn một chỗ ngồi gần quầy hàng và gọi một ly cà phê đá. Khi chủ quán, một cô gái trạc ba mươi khá dễ coi bưng nước ra, anh hỏi:

– Xin lỗi, tôi muốn hỏi nhà Bảy Mót có gần đây không?

– Anh tìm Bảy Mót à? – Cô gái trả lời tự nhiên như với một người đã quen – Sáng nay em thấy nó vô rừng nhưng không biết đã về chưa. Nhà nó đằng kia – Cô gái chỉ cho Nam thấy căn phòng không xa lắm, có ánh sáng một bóng đèn tròn công suất yếu – Mà anh kiếm Bảy Mót chi vậy?

– Tôi là người quen Bảy Mót ở thành phố mới tới. Cảm ơn cô đã chỉ giùm nhà nó!

Cô gái cười:

– Dạ không có chi… – Giọng cô ta hạ xuống – Anh có cần người trò chuyện cho vui không? Để em kêu?

Nam hiểu ngay đây là một quán có gái. Anh đáp:

– Lúc này thì tôi chưa cần. Nhưng thế nào trong thời gian ở đây, tôi cũng sẽ có lần cần một người trò chuyện…

– Vậy khi đó xin mời anh tới quán em.

Uống nước xong, Nam dắt xe về phía nhà Bảy Mót.

Một bà già và một cô bé mười lăm, mười sáu cùng chạy ra tiếp khách. Nghe họ xưng hô, Nam biết đó là má và em gái út của Bảy Mót.

– Chú kiếm thằng Bảy làm chi vậy? – Bà già hỏi.

– Thưa dì, cháu có chuyện làm ăn muốn bàn với cậu Bảy.

– Chú ở Sài Gòn xuống à?

– Dạ.

– Mà có đúng là chuyện làm ăn không đó?

Má Bảy Mót hỏi gặng. Nam nhớ lại lời Tám Thiện kể và hiểu rằng đây là thái độ tất nhiên của người mẹ từng bị phiền hà nhiều phen vì con trai bị tình nghi tham gia tố cáo giám đốc. Nam lấy lá thư của Tám Thiện ra trao cho bà già:

– Thưa dì, cháu có thư của anh Tám Thiện ngoài chợ…

– Vậy hả? – Người mẹ quay qua đứa con gái – Mày coi thư coi thằng Tám nó viết gì ở trỏng.

Cô bé đọc thư rồi nói với má:

– Má, dượng Tám nói ông này là bạn, nếu không có anh Bảy ở nhà thì má cho ổng ở tạm đêm nay, sáng mai chỉ đường cho ổng vô gặp anh Bảy.

Má Bảy Mót nhìn Nam với ánh mắt thiện cảm hơn. Bà bảo anh đẩy xe vào nhà, hối con gái xếp đặt cho khách ngủ nơi giường của Bảy Mót. Bà nói như phân bua với khách:

– Thằng Bảy nó nóng tính nhưng được cái tốt bụng. Chỉ rầu là nó không chịu nghe lời dì mà ngậm miệng cho yên thân. Ở trên lâm trường người ta cho người dò hỏi về nó hoài.

Nam thu xếp hành lý rồi ra sau nhà tắm rửa sơ. Khi anh trở lên, nhà lại có khách. Một thanh niên trạc ba mươi đi xe Suzuki màu đỏ tróc sơn cho xe chạy sát cửa ra vào đang nói chuyện với má Bảy Mót. Bà vui vẻ bảo Nam:

– Chú hên lắm đó. Thằng Bảy nó mới về, đang nhậu với bạn bè ở gần đây. Sẵn có thằng Mừng kia, chú có cần gặp thằng Bảy thì dì biểu nó chở đi luôn.

Nam mừng rỡ lấy túi hành lý khoác vai và định đẩy chiếc Honda ra. Cậu trai tên Mừng nói:

– Anh lên xe em đi luôn cho tiện. Để xe đó cho an toàn.

Mừng rồ ga lớn trước khi sang số. Chiếc xe vọt đi với sức kéo khá mạnh và bất ngờ khiến Nam suýt té nhào. Mừng nói như khoe:

– Xe em mới xoáy nòng!

– Đi xa không em?

– Chừng hơn cây số thôi. Anh ở Sài Gòn xuống hả?

– Ờ…

Xe chạy ngược về phía lâm trường. Chợt, dưới ánh đèn của chiếc Suzuki, hai người thấy một chiếc xe con đời mới đậu bên đường. Hai thanh niên ăn mặc lịch sự vẫy xe Mừng. Nam cảnh giác hỏi Mừng:

– Mình có nên dừng lại không em?

– Không sao đâu anh. Chắc là xe của khách mua gỗ bị pan. Mình dừng lại coi họ nhờ gì.

Mừng đạp thắng.

Hai người thanh niên cùng bước tới. Cái nháy mắt của một trong hai người và cái gật đầu khẽ của Mừng khiến Nam giật mình, trong đầu thoáng nghĩ tới một tình huống bất lợi. Nhưng anh không còn cơ hội kịp đối phó.

– Anh là nhà báo ở Sài Gòn mới tới lâm trường tụi tôi phải không?

– Phải ! Nhưng các anh muốn gì?

Nam hiểu là mình không thể trả lời khác hơn. Anh sẵn sàng chống lại sự tấn công của hai kẻ lạ, kể cả của Mừng mà anh đã biết là cùng bọn với chúng đã lừa chở anh tới đây. Nhưng những người kia không có hành động tấn công. Họ nói với anh:

– Nghe tin anh tới, giám đốc tụi tôi sợ anh vô rừng một mình gặp nguy hiểm nên sai tụi tôi đi đón anh về văn phòng.

Người còn lại nói với Mừng:

– Thôi, việc của mày xong rồi, mày dzọt đi thôi. Nè! Giám đốc dặn mày sáng mai phải mang xe của nhà báo về văn phòng cho ông. Rõ chưa?

Nam đứng lặng thinh nhìn Mừng phóng đi trên chiếc xe cũ. Anh nghĩ: “Danh đúng là một con cáo! Thôi đành vậy, mình đành phải trực diện với anh ấy!”.

Một người thanh niên đã lên xe, ngồi nơi tay lái. Người kia nói với Nam:

– Anh nhà báo! Xin mời anh!

 

4.

Xe Lađalat là một kiểu xe được chế tạo tại Việt Nam của hãng xe Pháp Citroen, giống như loại “con cóc”, “đơsơvô” được sản xuất tại chính quốc, dùng di chuyển trên địa hình gồ ghề của nông thôn hay rừng núi. Tuy vậy, cái tính năng đặc biệt ấy đã không phát huy được trong chuyến đi này của thầy Thuyết. Người giáo viên dạy toán mẫn cán có hai mươi năm đứng trên bục giảng và gần đây là ba năm làm công tác quản lý, vừa nhận nhiệm vụ phó phòng giáo dục từ đầu năm học này, không khỏi thấy mệt nhọc lẫn bực bội từ khi xe rời khỏi quốc lộ, rẽ vào con đường đất dẫn đến trường Đồi. Đường đất có lẫn đá sỏi, bề ngang chỉ vừa hai xe du lịch tránh nhau, cứ vài mươi thước lại có một ổ trâu.

– Gọi là ổ voi mới chính xác, phải không thủ trưởng?

Cậu lái xe nói và lắc đầu ngao ngán. Thầy Thuyết nhún vai:

– Mà đâu chỉ có chừng đó ! Hết xuống dốc lại leo dốc, rồi lại xuống dốc. Hèn chi cái làng tên là làng Đồi…

Ông phó phòng muốn nói tiếp: “Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng trường Đồi lại ở một nơi hẻo lánh như thế này”. Nhưng ông không nói ra vì sợ cậu lái xe sẽ đánh giá mình là quan liêu, ngại khổ.

Thật ra ông phó phòng tự cho rằng mình không hề quan liêu chút nào! Mới nhận nhiệm vụ được một học kỳ, với thời gian vài tháng ngắn ngủi tính luôn nửa tháng trước và sau tết âm lịch không khí làm việc chẳng ra gì, thế mà ông cũng đã đi cơ sở được hàng chục lần, nhẩm tính đã có mặt ở khoảng một phần ba tổng số trường trong quyền quản lý của mình. Trường Đồi là một nơi heo hút càng khiến chuyến đi của ông có ý nghĩa hơn.

Cậu lái xe chép miệng, gài số mạnh để leo lên ngọn đồi cao nhất:

– Chà! Không biết đã tới nơi chưa? Thủ trưởng ơi, chiếc xe của mình, nó tã quá rồi. Có lẽ thủ trưởng cho đại tu…

– Đại tu ư? Dễ thôi! Nhưng tiền! Tiền! Cậu hiểu không? Cái món ấy bây giờ rất khó xin… Ồ! Kìa! Có cái quán nước. Có lẽ đã tới nơi rồi. Theo lời cô hiệu trưởng thì trường ở ngọn đồi cao nhất, đỉnh đồi có cái quán nước…

Đúng là chiếc Lađalat đã leo lên đỉnh đồi Chúa và hai người trên xe đã trông thấy quán cố Hai. Vì thế, chỉ chạy thêm một quãng nữa, chiếc xe đã đưa họ tới trường Đồi. Hai dãy lớp song song cùng quay mặt vào sân cờ và ẩn dưới bóng mát của hai hàng trâm bông vàng, thấp thoáng bóng thầy cô và học trò trong giờ học. Tuy nhiên nơi cổng trường, tấm bảng dùng sơn xấu lâu ngày nứt nẻ gây ấn tượng không hay cho ông phó phòng.

Huyên đã nhận ra chiếc xe Lađalat là của phòng giáo dục ngay khi nó vừa vượt qua quán cố Hai nhờ cái mui vải màu xanh rêu đặc biệt. Cô nói với chị Thủy, kế toán trưởng:

– Không biết ai trên phòng tới trường mình đây?

Rồi cũng chính Huyên trả lời khi chiếc xe giảm tốc độ trước cổng trường:

– Thầy Thuyết!

Chị Thủy khẽ lắc đầu:

– Ổng tới chắc chắn là có chuyện. Nhưng cô đừng lo, cứ bình tĩnh mà đối phó.

Huyên đứng lên:

– Chị pha giùm em ấm trà nóng đi.

Thầy Thuyết xuống xe, chưa vội tìm văn phòng hiệu trưởng mà đứng bên xe ngắm cảnh trường Đồi một lát. Lần đầu tiên ông phó phòng nhìn tận mắt hai dãy nhà dùng làm lớp học của ngôi trường hẻo lánh này. Tuy hai dãy nhà chỉ làm bằng cột gỗ, vách gỗ, lợp tôn, nền láng xi măng nhưng xem sạch sẽ và có lẽ cũng còn chắc chắn. Trước hiên mỗi lớp là một bồn hoa, viền gạch thẻ đặt chéo, trồng nhiều loại hoa khác nhau, có lẽ thuộc trách nhiệm của từng lớp. Sân trường còn đường chổi quét, đơn độc cây cột cờ. Một dãy nhà bốn căn làm thành đáy chữ U của hai dãy lớp có vẻ ọp ẹp, phía trước trồng hai cây vú sữa còn lơ thơ trái. Thầy Thuyết đoán đó là khu văn phòng. Ông sửa lại áo, sửa lại cặp kính lão gọng đồi mồi trễ trên sống mũi định bước về phía đó.

Nhưng Huyên đã bước ra từ phòng đầu tiên của dãy nhà bên phải:

– Chào thầy Thuyết!

– Ồ! Xin chào cô Huyên! Văn phòng hiệu trưởng ở bên này à? Thế mà tôi lại tưởng ở đằng kia. Sao? Cô khỏe chớ?

– Cảm ơn thầy. Mời thầy vào văn phòng. Trường nhỏ, chúng tôi không có phòng riêng cho hiệu trưởng mà chỉ thu xếp một phòng cho cả bộ phận văn phòng lẫn giáo viên sinh hoạt. Còn dãy nhà kia là nhà tập thể của giáo viên. Lát nữa xin mời thầy tới tham quan nơi ăn chốn ở của anh em để thầy lưu ý giúp đỡ cho…

Thầy Thuyết ừ hử, mắt nhướng nhìn hàng chữ kẻ dài  theo vách văn phòng:

– Tiên học lễ, hậu học văn! Này cô hiệu trưởng! Cô cho kẻ khẩu hiệu này đấy à?

– Vâng, thưa thầy. Có gì không đúng không ạ?

– Không! Đó là chữ thánh hiền để lại. Nhưng nó chưa được phép kẻ ở nhà trường. Cô khá tùy tiện đấy!

Chị Thủy là người ở trường Đồi thường xuyên liên hệ với phòng giáo dục, là người có điều kiện nhất để gật đầu chào ông phó phòng, cười với ông và nói một câu có thể hiểu là xã giao, cũng có thể hiểu là mỉa mai, đồng thời giải tỏa được việc khách bắt bẻ cô hiệu trưởng:

– Chào thủ trưởng! Lần đầu tiên mới thấy rồng đến nhà tôm!

Huyên kín đáo liếc chị Thủy ra dấu cho chị đừng làm mất lòng khách. Nhưng ông phó phòng đã nhíu mày, hơi nhếch mép khó chịu. Có điều, ông lại nói những lời khiêm tốn:

– Ấy chết! Sao chị lại nói thế! Muốn tới các cơ sở cũng phải có nhiệm vụ chớ đâu phải chỉ là đi chơi…

Chị Thủy, như đã tính trước, vừa rót nước mời khách, vừa tươi cười nói với khách:

– Xin được nói thật với thủ trưởng, tôi công tác ở đây đã nhiều năm, đi lại liên hệ với phòng cũng khá thường xuyên. Nhưng phải đến tận hôm nay tôi mới thấy một thủ trưởng của phòng chịu khó tới thăm trường này. Thầy là người tiên phong đã phá bỏ đi cái tác phong quan liêu bấy lâu nay…

Chị Thủy nháy mắt với Huyên như ngầm nói: “Cô thấy chưa, tôi chuyển bại thành thắng mấy hồi”.

– Cảm ơn chị đã nhận xét tốt về tôi – Ông phó phòng lộ vẻ hài lòng – Khi nào về phòng liên hệ công tác, chị nhớ ghé qua chỗ tôi chuyện vãn ít phút nhé!

Sau những chuyện xã giao rào đón ban đầu, chị Thủy lui về chỗ của mình để ông phó phòng làm việc với Huyên.

– Thầy cất công về trường Đồi, ắt có chuyện quan trọng phải không?

– Theo tôi, chuyện không đến mức gọi là quan trọng đâu. Có thể coi như một cuộc trao đổi để đi đến thống nhất ý kiến giữa phòng và nhà trường.

– Xin thầy cứ nói.

– Tôi đoán là cô hiệu trưởng đã biết chuyện gì rồi. Ta vào thẳng vấn đề nhé! Vụ “Câu chuyện dưới cờ” của trường Đồi ấy mà! Nếu tôi nhớ không lầm thì tôi đã có ý kiến sơ bộ trong cuộc họp giao ban các hiệu trưởng đầu năm học, về việc cô đề nghị đưa “câu chuyện dưới cờ” vào chương trình ngoại khóa…

– Vâng, đúng là trong lần giao ban ấy…

Huyên xác nhận cái thời điểm bắt đầu câu chuyện mà cô biết chắc là ông phó phòng không thể không nhớ chính xác. Lời nghi vấn của ông có dụng ý muốn người đối thoại hiểu là với ông, đó không phải là chuyện quan trọng, càng không gây ra một ấn tượng cá nhân khiến các ý kiến sau đó trở thành chủ quan.

Thầy Thuyết lại sửa cặp kính lão, mấy ngón tay xoa cằm nghĩ ngợi một chút mới nói:

– Thế này, cô Huyên ạ. Có lẽ ta nên trở lại từ đầu để vấn đề được sáng tỏ hơn. Nghĩa là trong cuộc họp giao ban lần ấy, cô đã đề nghị được đưa vào chương trình ngoại khóa của trường mình tiết học “Câu chuyện dưới cờ”. Theo cô trình bày đó là những câu chuyện kể xưa và nay, có thể rút ra một điều hay, lẽ phải, giáo dục đạo đức cho học sinh. Hôm đó, phải, nếu tôi nhớ không lầm, thì chính tôi đã có ý kiến rất hoan nghênh những sáng kiến dạy học có hiệu quả với điều kiện chúng phải được tiến hành đúng nguyên tắc. Sau đó ít lâu, lãnh đạo phòng đã họp bàn về vấn đề này và có thông báo chính thức là trường nào có sáng kiến giáo dục cứ làm tờ trình lên phòng, phòng sẽ có ý kiến và chuyển lên sở. Khi nào sở duyệt, phòng sẽ thông báo cho nhà trường để thực hiện. Thế đó… Nhưng thật đáng tiếc là trong học kỳ I vừa qua, chúng tôi được biết là trường Đồi đã triển khai “Câu chuyện dưới cờ” vào mỗi buổi sáng đầu tuần mà không hề có ý kiến của phòng, của sở. Nếu tôi nhớ không lầm, tôi đã nhắc nhở cô hiệu trưởng trong lần họp…

– Thưa, trong lần họp chuẩn bị tổ chức thi học kỳ I.

Huyên lại xác nhận cái thời điểm mà ông phó phòng vẫn “nếu tôi nhớ không lầm”. Cô muốn cho ông hiểu là cô sẽ không biện bác với bất cứ lý do khách quan nào. Cô không ngờ sự cố ý này lại vô tình khiến thầy Thuyết nghĩ là ông đang bị thách thức. Cái nhíu mày và cái nhếch mép kèm theo vốn là thói quen của ông phó phòng cho thấy là ông đang bực mình mà vẫn ra vẻ thản nhiên. Ông gật gù trước khi nói tiếp:

– Cách đây ít hôm, phòng mới nhận được văn bản chính thức của trường Đồi do cô ký tên đề nghị việc này. Về thủ tục, thế là đúng. Phòng ghi nhận việc làm sửa sai của nhà trường. Phòng cũng đã họp bàn bạc, trao đổi ý kiến về đề nghị trên. Kết quả là phòng đã có công văn trả lời trường Đồi, đồng kính gửi lãnh đạo sở. Công văn đã được gửi theo đường bưu điện, vì đó là nguyên tắc. Tuy nhiên, hôm nay tôi có đem theo một bản sao, nếu cô hiệu trưởng cần xem trước…

Nói vậy nhưng không đợi Huyên có ý kiến, ông phó phòng đã mở cặp lấy ra một công văn đặt lên bàn, trước mặt Huyên. Cô cầm tờ giấy và đọc. Nội dung không có gì lạ. Phòng ghi nhận thiện chí và sáng kiến của trường Đồi, phòng kính chuyển Sở cho ý kiến, phòng yêu cầu trường không thực hiện khi chưa có ý kiến thuận của cấp trên. Đó là tất cả!

Huyên trả tờ công văn cho thầy Thuyết. Vẻ ái ngại cho cô, ông phó phòng nói:

– Thế đấy, cô Huyên ạ. Chúng ta sống trong một xã hội có kỷ cương và những nguyên tắc của nó. Chúng ta phải chấp nhận nó. Vả lại, chúng ta còn là những nhà giáo, là những người mẫu mực, chúng ta càng phải tôn trọng các nguyên tắc. Tôi tin là cô hiệu trưởng hiểu nhiều hơn những gì tôi nói. Còn chuyện này, có lẽ tôi cũng cần kể thêm cho cô biết. Đáng lẽ cùng với công văn này còn có một công văn thứ nhì nữa. Đó là công văn phòng nhắc nhở việc làm sai nguyên tắc của trường Đồi. Vâng, đó là sự thật. Nhưng chính tôi đã thuyết phục được lãnh đạo hủy bỏ công văn thứ nhì đó…

Huyên mỉm cười. Cả chuyện cái công văn nhắc nhở, thậm chí một quyết định kỷ luật của phòng giáo dục cũng không làm cho cô ngạc nhiên. Cô chỉ ngạc nhiên khi biết người ta luôn kêu gọi phát huy sáng kiến, đồng thời lại ôm khư khư những nguyên tắc này nọ mà tác dụng rõ nhất của nó là ngăn cản các sáng kiến.

Huyên mở ngăn kéo bàn, lấy ra bản nội dung câu chuyện mới nhất cô vừa kể cho học sinh nghe hồi đầu tuần. Cô nói:

– Thưa thầy, trước hết, xin phép thầy cho tôi được trình bày ý kiến cá nhân của tôi về việc này. Về nội dung, đây, thầy có thể xem nguyên văn một câu chuyện dưới cờ. Tuần này, tôi kể cho các em học sinh nghe chuyện Hàn Bá Du bị mẹ đánh trong một lần có lỗi và ông đã khóc mãi. Khi mẹ hỏi, Bá Du trả lời vì lần này mẹ đánh không đau, nghĩa là mẹ đã già yếu, Bá Du lo cho mẹ mà khóc ! Một câu chuyện như thế, tôi thiết tưởng là chẳng những vô hại mà còn có ích cho các em không nhiều thì ít. Có lẽ thầy không phản đối nội dung của câu chuyện này?

– À… ờ… chuyện Hàn Bá Du tôi biết… tôi biết. Đó là một người con hiếu đời Hán bên Trung Quốc.

– Thưa thầy, trong khá nhiều cuộc họp, chúng ta thường nói là chương trình dạy môn đạo đức hiện nay không còn phù hợp nữa, cần được sửa đổi lại. Tôi nghĩ rằng việc tôi làm đáp ứng được phần nào yêu cầu ấy. Như vậy, lẽ ra chúng tôi phải được ủng hộ chớ?

– À… về điều này… phòng chưa hề phê bình về nội dung và mục đích các câu chuyện như trên. Nhưng tôi xin nhắc cô hiệu trưởng là: trường Đồi đã làm một việc chưa được cấp trên đồng ý. Có lẽ thế này cô Huyên ạ. Cô nên cho phòng biết ý kiến của cô về tinh thần công văn vừa rồi, nghĩa là trường Đồi có thực hiện yêu cầu của phòng hay không?

– Vâng, nếu thầy muốn biết ngay thì đây là ý kiến của cá nhân tôi. Thứ nhất, chúng tôi chưa nhận được công văn qua bưu điện, theo nguyên tắc như thầy từng nói, nên chúng tôi chưa thể trả lời được. Thứ nhì, khi nào nhận được, các giáo viên chúng tôi sẽ họp để thống nhất ý kiến trả lời, trong đó tôi là một thành viên. Ý kiến của chúng tôi sẽ được làm văn bản gửi lên phòng.

– Thôi, thôi… Tôi hiểu rồi. Đây là một cách trì hoãn. Đây là một cách… một cách chống lệnh!

Ông phó phòng mất bình tĩnh trong khi Huyên vẫn cứng rắn:

– Xin thầy đừng chụp mũ chúng tôi. Thầy nhắc lại đi, vừa rồi là ý kiến của cá nhân thầy hay của phòng giáo dục?

Tiếng kẻng ra chơi khá đúng lúc. Học sinh ùa ra sân chơi đùa ồn ào. Câu chuyện đang tới lúc gay go giữa Huyên và thầy Thuyết có lý do dừng lại không khiến một trong hai người phải khó chịu vì mình có cơ bị trấn át. Các thầy cô rời lớp về tới văn phòng, họ chào ông phó phòng giáo dục và nhất định mời cho bằng được ông đi xem nơi ăn chốn ở của mình. Một nam giáo viên nói:

– Để thầy mạnh tay duyệt kinh phí sửa chữa cơ sở cho tụi em!

Ông phó phòng vừa đi theo các thầy cô trẻ vừa phân trần:

– Ồ! Lúc nào mà phòng chẳng quan tâm tới đời sống giáo viên. Nhưng… vấn đề là tiền từ bên tài chính rót qua. Tiền! Cái ấy mới là quyết định, các thầy cô ạ.

Huyên ngồi lại văn phòng, cố định tâm một chút. Nỗi bực tức không thể ngăn nổi trong lòng cô. Cô tự hỏi việc cô làm có gì tai hại mà lại bị ngăn cản vô lý. Chẳng lẽ chỉ đơn giản vì cô đã dám vượt qua cái hàng rào nguyên tắc, vì thế đã vô tình chạm đến tự ái của những người có quyền lúc nào cũng muốn chứng tỏ mình là người trên trước!

Hết giờ ra chơi, thầy Thuyết trở lại. Nhưng ông phó phòng không ngồi làm việc nữa. Ông đứng nói với Huyên:

– Thế này cô Huyên ạ. Hôm nay tôi tới đây để thăm trường và các thầy cô, đồng thời chỉ muốn tìm hiểu ý kiến ban đầu của cô về vụ “Câu chuyện dưới cờ”. Theo tôi, ta làm việc như vậy đã đủ. Tôi xin phép cáo từ. Tôi sẽ báo cáo lại đầy đủ với thầy trưởng phòng. Chúng ta chờ văn bản của trường Đồi như cô đã hứa. Trước mắt, tôi chỉ xin nhắc lại lần cuối kể từ tuần sau, việc kể những “câu chuyện dưới cờ” ở trường Đồi phải dừng lại!

Huyên tức nghẹn. Cô không buồn tiễn thầy Thuyết ra xe mà chỉ chào từ giã bằng một cái gật đầu nhẹ. Chị Thủy tế nhị theo ra tận nơi chiếc Lađalat đậu chờ. Chị cố nói những lời vui vẻ với hy vọng làm bớt đi phần nào sự căng thẳng lúc chia tay.

K.V (mời xem tiếp kỳ 7)

Nguồn: Bongtram.vnweblogs.com

Thẻ:

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống