Home » Truyện người lớn » NHỮNG NGƯỜI NUÔI LỬA – tiểu thuyết Khôi Vũ (Kỳ 5)

Một ngày mặt trời nhìn xuống làng Đồi sắp chấm dứt. Trời chiều dịu mát và êm ả. Con đường huyết mạch của làng xuyên qua đồi Chúa đã vắng người qua lại. Giờ đây cái nhìn lưu luyến của vầng dương chỉ còn thấy được những nếp nhà nép mình dưới bóng cây ăn trái, dàn bầu bí mùa nắng xanh mởn, những chậu bông tết muộn héo, những khoảng sân trước cửa nhà có bàn thờ ông thiên đỏ nhang. Lúc này, người làng Đồi đang quây quần bên mâm cơm gia đình, râm ran chuyện một ngày.

Cố Hai dùng bữa chiều đạm bạc. Hai lưng chén cơm gạo lứt, cố ăn với nửa hột vịt luộc dằm nước mắm ớt và một đĩa rau bông bí. Khác với mọi khi vẫn đứng ăn nơi quầy hàng, chiều nay cố Hai ngồi dùng cơm nơi chiếc bàn sát cửa sổ. Đôi mắt cố dõi về phía đồi Oan Trái. Nắng chiều đang hắt về phía đó một màu đỏ quạch bám trên mấy chòm dầu. Một khoảng trời màu lam có mây trắng lững lờ trôi. Chỉ có thế! Cái hình ảnh mà cố Hai chờ đợi, cái vệt xám như đám mây từ bên kia sông bay về, chẳng thấy đâu!

Người khách duy nhất còn ngồi lại quán, cách chỗ cố Hai một cái bàn, đang nhâm nhi ly cà phê đá. Thuở nhỏ, đó là một thằng bé chăn trâu láu lỉnh, chuyên bày đặt chuyện lừa gạt mọi người để cười vui. Lớn lên, sau hàng chục năm bỏ làng Đồi đi những đâu không rõ, y trở về trong bộ quần áo một nhà tu Phật giáo nhưng lại không cạo đầu. Y dựng một gian nhà lá trên ngọn đồi nhỏ và vắng vẻ, khá xa đồi Chúa và đồi Lửa là hai nơi tập trung dân cư. Y tự xưng là Đạo nước suối vừa giảng đạo riêng của mình vừa chữa bá bệnh cho bà con trong làng. Thuốc của y là những gói bột bí mật trao cho người bệnh với lời căn dặn phải uống với nước của con suối Cát. Y thu hút được một số bà con theo mình, xin làm đệ tử

Với cố Hai thì đó là một con sâu bọ đội lốt người. Nó dám chữa bệnh một cách vừa khó hiểu vừa huyền bí trong khi ở làng Đồi vẫn còn cố Hai, một thời lừng danh thầy thuốc nam, và hiện nay, trạm xá trong làng vẫn hoạt động. Rất nhiều lời đồn đãi về Đạo nước suối đã được kể lại tại quán cố Hai. Những lời đồn bao giờ cũng có độ tin cậy không cao lắm, nhưng chẳng phải nó không phản ánh được một phần sự thật. Vả lại, những lời rõ ràng nhất đã phơi bày trước mắt dân làng Đồi đủ vạch mặt Đạo nước suối. Từ khi y về làng lập am, đã có một đứa trẻ trai và một đứa bé gái ra đời, sinh bởi hai người đàn bà góa là đệ tử trung tín của Đạo nước suối. Càng lớn, hai đứa trẻ càng có những nét giống Đạo nước suối. Ngặt một nỗi, Đạo nước suối chối tội đã đành, mà cả hai bà góa cũng một mực minh oan cho y. Tuy nhiên họ cũng không khai ra cha của hai đứa nhỏ là ai!

Đạo nước suối không có thói quen ngồi quán. Mỗi lần y đến quán cố Hai đều có mục đích gì đó. Lần này, y có mặt từ lúc quán còn đông khách ăn cơm chiều. Y gọi một tô mì chay, ăn rất chậm. Sau đó, y gọi thêm ly cà phê đá. Suốt thời gian từ lúc đó, Đạo nước suối phân bua về một tin đồn bất lợi cho y vừa loan truyền trong làng Đồi vài hôm nay. Khi thấy khách đã về hết mà Đạo nước suối vẫn còn nán lại, cố Hai biết ngay là y còn muốn trực tiếp nói chuyện với mình.

– Cố Hai coi đó, người ta ác khẩu quá mà! – Cuối cùng Đạo nước suối không đủ kiên nhẫn đợi cố Hai ăn cơm xong, y nói vọng sang – Cô Vân y sĩ, cô có bầu với ai đâu, vậy mà bà con lại đổ tội cho tôi. Cố Hai biết mà, ở làng này, riêng cái vụ chữa bệnh cho bà con, tôi với cô Vân đã có mâu thuẫn như mặt trời mặt trăng rồi. Làm sao có thể có chuyện tôi với cổ… Vô lý quá chừng! Oan cho tôi quá chừng, cố Hai ơi!

Cố Hai bực bội ngắt lời con sâu bọ:

– Nếu thằng em mày cây ngay thì sợ chi chết đứng.

– Cố Hai nói chí phải! Nhưng khốn nỗi, cố Hai biết mà! Ở trên đời này, còn thiếu chi người bị oan ức.

– Bị oan ức? – Cố Hai cười gằn – Tới nỗi oan của bà Huỳnh ngày xưa mà người ta còn giải được thì thằng em mày có gì phải lo. Qua đây chỉ e rằng lời đồn kia đúng là sự thật…

– Oan tôi lắm cố Hai ơi… Tôi là kẻ tu hành…

Bây giờ không phải là tiếng cười gằn mà chỉ còn cái nhếch mép khinh bỉ của cố Hai dành cho con sâu bọ. Đạo nước suối theo dõi từng cử chỉ của cố Hai. Y thừa hiểu rằng ông lão búi tó đang nghĩ không tốt về mình. Y đứng lên, nhắc ghế của mình qua đặt gần chỗ cố Hai ngồi, lui phía sau để tỏ lễ kính nhường rồi y mới ngồi xuống, giọng van lơn:

– Tôi nghe nói lần này Ban hương chức đình sẽ làm đơn thưa tôi ra chính quyền. Nhưng tôi vô tội. Cố Hai biết mà. Ở làng Đồi này, tôi không có thân thuộc, chẳng biết trông cậy vô ai. Tôi cắn cỏ van xin cố Hai giúp tôi một phen. Cố là người có uy tín trong làng, một tiếng nói của cố bằng tiếng nói cả trăm người. Cố phải giúp tôi một lời, tôi vô tội mà…

Bỗng nhiên Đạo nước suối thấy đôi mắt cố Hai chớp chớp, hướng về phía đồi Oan Trái. Y nhìn theo và thấy trên nền trời phía đó lơ lửng một vệt xám lớn. Cố Hai kêu khẽ:

– Đàn chim trở về rồi!

Đạo nước suối hiểu là cố Hai nói tới đàn chim Tóc, nhưng y chẳng thể tự giải thích vì sao cố lại vui mừng thấy đàn chim bay về giống như bao buổi chiều khác. Y cố tìm hiểu nơi nét mặt cố Hai. Y bắt gặp nét thất vọng hiện rõ trong ánh mắt cố cùng lúc cái đầu búi tó của cố khe khẽ lắc. Y nhìn về phía đàn chim. Không phải là đàn chim. Đó chỉ là một đám mây chiều vì nó đang trôi rất chậm.

Dù sao, việc của Đạo nước suối vẫn quan trọng hơn tất cả. Y cố gắng thuyết phục cố Hai một lần chót:

– Chẳng lẽ cả cái làng Đồi này không còn ai đủ sáng suốt để hiểu rằng tôi bị oan hay sao cố Hai? Tôi vẫn muốn tin rằng cố Hai là người trăm tuổi, hiểu sâu biết rộng, tường tận lẽ đời…

– Thôi đi! – Cố Hai không kềm được giọng gắt gỏng – Thằng em mày quấy rầy qua chừng đó quá đủ rồi. Thằng em mày về nhà đi!

– Nhưng mà tôi muốn nói…

Con sâu bọ vẫn chần chừ. Cố Hai đứng thẳng lưng, gằn từng tiếng một:

– Về nhà đi!

Đạo nước suối biết rằng hôm nay thế là y không còn hy vọng lay chuyển lòng cố Hai. Y buồn bã đứng dậy ra về. Những bước chân thất vọng của y xiêu vẹo như của một gã say rượu.

Suốt buổi tối ngày mười sáu tháng giêng này, cố Hai ít nói. Sau giờ cơm chiều, nhà nhà lên đèn. Quán cố Hai cũng rực ánh đèn măng sông. Lại có những đợt khách đến lai rai cà phê thuốc lá, tán chuyện đời. Những câu chuyện trong làng, ngoài phố, chuyện thế giới, cả chuyện vũ trụ, giống như bao ngày đã qua đi, lại râm ran từ miệng những người khách đủ thành phần…

Trăng mười sáu tròn vành vạnh. Nửa khuya, nó lên tới đỉnh đầu, rắc ánh vàng xuống làng Đồi đang yên tĩnh trong giấc ngủ.

Đêm nay, đêm đầu tiên cố Hai không đóng cửa quán kể từ bao năm qua. Ngọn đèn dầu nhỏ sáng leo lét được thắp lên thay cho ngọn đèn măng sông, cùng ông lão búi tó trăm tuổi suốt đêm thao thức!

2.

Tiếng cười vui của chị em Bình Minh và Khánh đánh thức Huyên dậy. Nắng mai đã tràn ngập. Ngoài vườn khế, tiếng chim hót ríu ran lẫn với tiếng đập cánh của vài con chim nhút nhát và tiếng khế rụng. Chị em Bình Minh đang hái khế đem bán. Thế nào trưa nay Khánh cũng nấu nướng một món đặc biệt gì đó. Con trai mà kể cũng lạ, Khánh giỏi chuyện bếp núc không ngờ. “Chẳng trách các đầu bếp nổi tiếng hầu như là đàn ông cả”. Huyên mỉm cười với ý nghĩ của mình.

Chiếc đồng hồ quả lắc ngoài phòng khách gõ bảy tiếng. Có lẽ đêm qua, Huyên đã làm việc đến hai, ba giờ sáng. Dù sao, giấc ngủ trễ sáng nay cũng giúp cô hồi phục sức khỏe, tinh thần thấy sảng khoái hơn. Cô nhìn lên bàn làm việc, cuốn lịch để bàn mở qua tờ mới, ghi ngày mười tám âm lịch. Ngày cúng đình làng Đồi vừa qua không lâu. Cả câu chuyện của cố Hai kể về vụ động đất không hiểu có thật hay không ở đây đêm rằm tháng giêng cũng như mới nghe đâu đó. Học kỳ hai đã bắt đầu, kéo Huyên vào với sự bận rộn của một người hiệu trưởng.

Khi Huyên ra vườn, Khánh đang khệ nệ bưng một thúng đầy khế từ vườn vào nhà. Cậu bé mười bốn tuổi, học sinh giỏi lớp tám trường Đồi, ít nói, hay tư lự, là “người đàn ông” trong gia đình Huyên bây giờ. Khánh trông thấy cô liền nở nụ cười tươi. Nụ cười! Đó là lời chào của Khánh với mọi người, vào mọi lúc.

Huyên hỏi Khánh:

– Thấy cô Hai ngủ quên, sao con không kêu cô Hai dậy hả Khánh?

– Bị con thấy tối qua cô Hai làm việc khuya quá. Con nói với Bình Minh cứ để cho cô Hai ngủ cho khỏe.

– Việc trong trường lu bù, Khánh ạ.

– Bữa nay chủ nhật, cô Hai cứ thoải mái mà làm việc. Cơm nước trưa nay, con bàn với Bình Minh rồi, tụi con sẽ chiêu đãi cô Hai.

– Món gì vậy Khánh?

– Cô Hai cho con giữ bí mật. Cô Hai ra vườn chơi, Bình Minh đang hái khế ở ngoải. Con đem thúng khế này vô nhà rồi con sẽ ra sau.

Khánh đi về phía chái ngôi nhà chữ Đinh, Huyên nhìn theo cháu trai, bất giác nghĩ đến Hiếu. Khánh đang hiện diện trước mặt cô đây, nhưng rõ ràng đó cũng là hình ảnh của Hiếu ngày nào…

Khác với Khánh, Bình Minh hay nói, cũng có thể bảo là lém lỉnh. Là con gái của Huyên, Bình Minh ở vai chị. Nhưng vào lúc Huyên sinh Bình Minh thì Khánh đã là một chú bé sáu tuổi, biết “coi em” những khi cô Hai nhờ. Lớn lên, Huyên dạy hai chị em xưng hô với nhau bằng tên, dạy Bình Minh phải quý trọng Khánh như anh, dạy Khánh phải coi Bình Minh như em. Thật đáng mừng là Khánh không phụ công dạy dỗ và lòng tin của Huyên. Đó là một cậu bé sớm chững chạc, “người đàn ông” trong gia đình Huyên, theo một nghĩa nào đó.

– Má! Sao má không ngủ tiếp hả má ? Bữa nay chủ nhật mà má!

Bình Minh tíu tít từ xa. Cô bé lên tám ném cây sào hái khế rồi chạy lại bên má, vẫn cái kiểu nói như chim vang bên tai Huyên:

– Má ơi! Khánh rủ con bữa nay hái thật nhiều khế đem ra chợ bán mối lấy tiền trưa nay đổ bánh xèo ăn đó má… ý! Thôi chết rồi! Khánh dặn con phải bí mật…

Huyên cười :

– Má sẽ không cho Khánh biết là con đã tiết lộ bí mật đâu.

– Má ơi! Khánh nói tự tay Khánh sẽ đổ bánh xèo chiêu đãi má đó. Khánh muốn trổ tài mà! Khánh giỏi ghê má há!

– Ừ! Khánh giỏi lắm! Mà con gái của má cũng giỏi nữa đó.

Bình Minh níu cổ má, hôn lên đó. Rồi cái giọng líu lo lại vang lên:

– Má coi kìa! Khế bắt đầu ra bông vụ mới rồi đó má!

Vụ khế đã vào cuối, trái không còn lớn và xanh mởn tuy vẫn giữ được hương vị. Bông vụ tiếp đang trổ điểm những chùm tím li ti trong tàn lá kép xanh. Vườn khế choàng lên Huyên bao kỷ niệm xa xưa. Có lẽ là cô luôn tìm được trong khu vườn này không khí riêng để hít thở, nuôi dưỡng tình cảm đời mình. Màu tím của bông khế càng gợi nhớ về dĩ vãng.

Thời gian vùn vụt trôi nhưng kỷ niệm lại cứ như mới xảy ra đó. Cây khế ông nội Huyên trồng từ nơi bà mụ vườn chôn nhau cô bé, ngày nay chỉ còn lại cái gốc cưa phẳng mặt bị mưa nắng xoi phá lỗ chỗ. Từ ngày Hiếu ra đi, ông Hai Đương buồn bã chẳng thiết gì đến chăm sóc vườn tược. Vườn cây thiếu người chăm sóc lại gặp đúng dịp cả vùng bị thả thuốc khai hoang, cây cối lụi đi để trơ lại nền đất gan gà dưới nắng mặt trời. Thời gian sau đó khi nỗi buồn nguôi ngoai, cả nhà mới tính chuyện gây lại khu vườn cây ăn trái để có nguồn lợi tức sinh sống. Những cây khế con được đặt khắp nơi trong vườn không nằm trong dự tính của ông bà Hai Đương, nó chỉ là kế hoạch cầu may của cô sinh viên Huyên mỗi lần về thăm nhà. Không ngờ những loại cây ăn trái khác mà ông bà Hai Đương chăm bón, giống như bao gia đình khác ở làng Đồi đang gây lại vườn cây với bao kỳ vọng, đã không phát triển được với tầng đất bị nhiễm độc. Trong khi đó những cây khế vẫn vươn lên xanh tốt, trở thành một vườn khế đặc biệt ở làng Đồi. Những cây khế lấy giống từ một cây mẹ, lúc trưởng thành lại chua ngọt khác nhau chẳng khác gì con người với bao số phận vui buồn. Nhưng dù chua dù ngọt, gia đình Huyên vẫn giữ đủ, chiều theo mọi ý thích của khách hàng. Vườn khế đã trở thành nguồn thu nhập đáng kể, trở thành những thành viên đặc biệt của gia đình cô.

Khánh đã trở ra. Bình Minh hỏi từ xa:

– Hái nữa thôi Khánh?

– Thôi đủ rồi. Tụi mình về còn lo chở ra chợ bán cho kịp, Bình Minh ạ.

“Người đàn ông” mười bốn tuổi giành ôm thúng khế đem vào nhà. Huyên dắt Bình Minh theo sau.

Một chút sau đã thấy Khánh đẩy xe đạp ra sân trước, phía sau là một bao tải đầy khế. Cậu bé gọi:

– Đi, Bình Minh!

Cô bé nói với má:

– Con phụ Khánh đem khế ra chợ nghen má!

Huyên gật đầu. Đôi chân sáo của Bình Minh tung tăng ra cổng. Nắng vẫn chưa chói gắt. Chắc rằng buổi sáng nay Huyên sẽ làm được nhiều việc vì vui…

Tiếng xe gắn máy tắt trước cổng nhà khiến Huyên ngừng viết, quay nhìn ra. Cố Hai ngồi sau chiếc Honda của một người đàn ông, vừa xuống xe vừa chỉ vào nhà Huyên rồi đi qua nhà ông Tám Cần, hàng xóm nhà Huyên.

Người đàn ông đi xe Honda đầu đội mũ kết, mắt đeo kính mát, mặc quần Jean áo sơ mi trắng ngắn tay, vai khoác một túi da nặng. Anh ta xuống xe, nhìn vào nhà Huyên với vẻ tần ngần. Rồi, có lẽ đã quyết định xong, anh ta đẩy xe qua cổng, dựng bên gốc vú sữa, nơi có ba ngôi mộ xây mới quét vôi trước tết. Khách đứng nhìn sững ba ngôi mộ như xúc động lắm.

Huyên rời khỏi bàn làm việc bước ra trước hiên:

– Chào ông, ông hỏi ai?

Cất tiếng hỏi mà mắt Huyên không rời quan sát người lạ. Khách bỏ mũ, gỡ mắt kính và trả lời :

– Xin lỗi… đây có đúng là nhà cô giáo Huyên?

Những hình ảnh tự xa xưa hiện về trong mắt Huyên. Cả cái giọng nói kia nghe cũng quen thuộc. Cố trấn tĩnh, không để câu trả lời của mình bị run:

– Vâng, tôi là Huyên…

Rõ ràng là người đàn ông xúc động khi tay cầm cặp kính mát của anh ta run run. Anh ta nhìn Huyên không chớp mắt, môi mấp máy:

– Huyên! Tôi là Nam đây!

Huyên đã nhận ra Nam trước khi anh tự giới thiệu. Mười sáu năm đã qua đi kể từ ngày cô quyết định chia tay với Nam và lần cuối cùng hai người gặp nhau cũng chính tại ngôi nhà này, khi Nam quay đi thì Huyên cũng chạy vào phòng, gục đầu khóc. Mười sáu năm với bao thay đổi trong cuộc đời Huyên, với những thay đổi ngoại hình của Nam, nhưng cô vẫn nhớ ra đôi mắt ấy, gương mặt ấy, vóc dáng ấy.

– Tôi… tôi không ngờ lại có ngày gặp lại anh… Mời… mời anh vào nhà chơi…

Nam đặt chân lên hiên nhà. Nền gạch tàu đã cũ và mòn đi nhiều lắm. Những cây cột lên nước đen bóng. Cái sập gụ nơi ông Mười Đờn thường ngồi soạn bài ca cổ vẫn kê nguyên chỗ cũ. Chỉ có mái ngói là mới thay. Và, nơi bàn thờ gia đình, năm tấm ảnh treo thành ba hàng khiến Nam ứa nước mắt : trên cùng là ảnh ông Mười Đờn, kế là ảnh ông bà Hai Đương và cuối cùng là ảnh của Hiếu thuở nhỏ và một cô gái đang múa hát. Nam nói, giọng nghẹn lại:

– Xin phép Huyên.

Anh thắp mấy nén nhang, vái mấy vái rồi cắm lên bàn thờ.

Huyên đứng bên nhìn khách, khăn thấm nước mắt. Khi  Nam quay ra, cô kể:

– Ba tôi mất năm tám mươi. Má tôi mất sau đó một năm. Ba ngôi mộ anh thấy trước nhà là của nội và ba má tôi.

– Còn Hiếu?

– Hiếu đi giải phóng, lấy vợ trong rừng. Hai vợ chồng hy sinh cả, hài cốt đã được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ tỉnh. Đứa con của cậu ấy được đưa về gia đình tôi từ sau ngày hòa bình, năm nay thằng nhỏ đã mười bốn…

– Tôi không sao hình dung nổi những thay đổi trong gia đình Huyên…

– Mời anh ngồi chơi. Tôi xin phép đi pha nước…

Huyên cố tình chậm rãi trong khi lấy trà, pha nước. Cô cảm thấy lòng mình đang bị xáo động bởi rất nhiều kỷ niệm xưa và cần được bình tĩnh hơn. Trở lại bàn tiếp khách, Huyên ngồi đối diện với Nam, cô nghe rõ cả tiếng nước vang lẫn tiếng vỗ cánh của đôi chim Tóc ngoài trời.

– Con gái của Huyên đâu rồi?

Nam hỏi để mở đầu câu chuyện. Câu hỏi như một mũi kim khâu vô ý đâm vào ngón tay Huyên. Cô nhìn khách:

– Anh cũng biết chuyện tôi lập gia đình à?

– Có! Trước khi đến đây, tôi có nói chuyện với cố Hai. Cố có kể cho tôi nghe chuyện của Huyên. Thú thật, khi nghe đến chuyện tan vỡ của vợ chồng Huyên, tôi đã định không đến đây nữa như đã dự tính… Tôi ngại rằng mình bị hiểu lầm…

– Còn anh, anh đã lập gia đình với ai ? Anh chị được mấy cháu rồi?

Nam cười nhẹ:

– Tôi vẫn là con diều một mình bay mãi Huyên à…

– Anh nói thật đó chớ? – Huyên hỏi rồi mới nhận ra mình thiếu lịch sự – Xin lỗi anh, lẽ ra tôi không được phép nghi ngờ như thế…

Nam khẽ lắc đầu không hiểu nghĩ gì. Rồi anh kể vắn tắt cho Huyên nghe chuyện gia đình mình. Ông Sáu Thành mới qua đời hơn năm. Bà Sáu về già mập ra, siêng năng kinh kệ, tóc trắng cả mái. Hảo cũng thay đổi tính tình từ khi xin được đứa con gái trong cô nhi viện về nuôi và đứa bé tỏ ra ngoan ngoãn, mới lên mười mà đã lộ nét đẹp xinh khác người.

Rồi Nam trở lại chuyện của Huyên:

– Nghe cố Hai kể chuyện tình cảm của Huyên, tôi buồn quá. Nhưng về công việc của Huyên hiện nay thì tôi lại thấy mừng…

– Cũng ba chìm bảy nổi lắm anh Nam à. Làm hiệu trưởng được năm năm thì Huyên bị mất chức vì chồng vượt biên. Nghĩ cũng lạ, mình không đi mà ở lại, lẽ ra phải được động viên thì lại bị đối xử ngược lại. Ba năm kế đó, Huyên làm giáo viên với bao gian nan lẫn bực bội. Cái tác phong hiệu trưởng quen thuộc đã làm hại cái nhiệm vụ giáo viên bình thường. Mình quen nghĩ ra điều này điều kia mới lạ, nhưng một giáo viên thường thì không ai yêu cầu nghĩ ngợi, đề xuất như thế ! Cuối cùng, đầu năm học trước lại được cử làm hiệu trưởng. Mà lý do chẳng phải vì người ta tin tưởng khả năng của mình. Chẳng qua bởi không có thầy cô nào muốn trụ lại lâu dài ở cái trường Đồi heo hút này…

– Xã hội chúng ta còn nhiều việc đáng bàn lắm. Thật đáng tiếc là thời gian qua, tôi không được biết những chuyện Huyên vừa kể. Nhưng tôi hy vọng sắp tới sẽ viết được một bài báo về Huyên…

– Ồ! Anh làm báo?

– Vâng, tôi viết báo ở Sài Gòn.

– Bây giờ thì Huyên đã hiểu hơn câu nói lúc nãy của anh. Đúng, anh vẫn là một con diều…

– Bởi không phải một con chim Tóc để luôn có đôi, con diều tôi đơn độc với những chuyến phiêu lưu…

– Chuyến về làng Đồi lần này của anh chắc cũng là một chuyến phiêu lưu?

– Vâng! Một việc còn có thể gọi là nguy hiểm. Nhưng có lẽ ta không nên đi sâu lắm vào việc ấy…

Chị em Bình Minh và Khánh về tới. Tiếng Bình Minh vang từ ngoài cổng:

– Má ơi! Khế bữa nay có giá, Khánh mua thêm con cá lóc để nấu canh chua đó má…

Thấy nhà có khách, hai chị em cùng khoanh tay chào. Huyên nói với hai đứa nhỏ:

– Đây là bác Nam, bạn của má hồi nhỏ. Trước kia, gia đình bác Nam ở nhà ông bà Tám Cần bây giờ.

Nam vui vẻ:

– Chào hai cháu! Bác hy vọng chúng ta sẽ trở thành bạn thân của nhau trong một thời gian ngắn nữa.

Huyên giới thiệu với Nam:

– Đó là Khánh, con của Hiếu. Còn đây là Bình Minh, con gái tôi – Cô bảo con và cháu – bữa nay bác Nam tìm thăm gia đình mình, ta đãi bác Nam bữa cơm trưa được chớ?

Khánh đáp giọng nhỏ nhẹ:

– Con mời bác Nam ăn bánh xèo.

Bình Minh tiếp theo giọng liếng thoắng:

– … Và canh chua cá lóc nữa, bác Nam chịu không?

Nam xoa đầu Khánh:

– Bác Nam rất sẵn sàng, kể cả xuống bếp phụ hai cháu.

Khánh mỉm cười:

– Thưa bác Nam, con làm bếp không đến nỗi tồi ! Bác Nam cứ yên tâm ở trên này nói chuyện với cô Hai con…

Hai đứa nhỏ xin phép xuống bếp.

Câu chuyện của hai người bạn cũ tiếp tục, đã không còn sự dè dặt ban đầu.

Nam hỏi Huyên rất nhiều chuyện ở làng Đồi, những gì mà cố Hai chưa kể rõ. Chuyện chị Vân y sĩ, chuyện Ban hương chức sẽ thưa Đạo nước suối, chuyện đồn động đất… và cuối cùng là chuyện gia đình ông Ba Công. Nam nói:

– Những người quen cho tôi biết gia đình bác Ba hiện rất giàu. Nhưng khi đi ngang nhà, tôi thấy đó chỉ là một ngôi nhà cũ kỹ…

Huyên cười giải thích:

– Đó là do anh mới nhìn bên ngoài. Vào nhà, anh sẽ có nhận xét hoàn toàn khác. Trong ấy có đủ mọi thứ tiện nghi máy móc hiện đại nhất mà chưa chắc một gia đình giàu có ở thành phố đã có.

– Bác Ba làm ăn ra sao mà đạt được sự giàu có ấy?

– Bác Ba già yếu rồi, còn làm lụng gì đâu. Tất cả là tài sản của anh Danh. Bà con đều hiểu anh Danh đã lấy chính ngôi nhà của cha mẹ làm nơi cất giữ tài sản cho mình. Anh còn nhớ anh Danh chớ? Danh mắt lươn, hồi đó cùng học thầy Bảy Tín…

Đến lúc này Nam mới chịu nói:

– Tôi về làng Đồi lần này chính vì chuyện của anh Danh.

– Chuyện gì vậy?

– Tòa báo chúng tôi nhận được khá nhiều thư của công nhân lâm trường Đại Ngàn tố cáo giám đốc Danh. Nếu đó đúng là sự thật thì quả đáng buồn biết bao! Dù sao, tôi với anh Danh cũng là chỗ quen biết xưa…

– Anh đã gặp anh Danh rồi chớ?

– Chưa! Sáng mai tôi sẽ qua bên kia sông tìm đến lâm trường Đại Ngàn, nơi có lãnh chúa Danh. Còn hôm nay, tôi muốn tìm hiểu về cuộc sống của bác Ba Công và những người em anh Danh còn ở làng Đồi…

– Thế còn gia đình riêng của ảnh ở thành phố?

– Tôi đã gặp chị Hồng, vợ anh Danh. Đó là một phụ nữ không cảm thấy hạnh phúc trong cảnh giàu sang của gia đình mình.

– Anh Nam à, tôi muốn góp với anh một ý. Anh còn nhớ lời dạy của thầy Bảy Tín ngày xưa không? Người ta sống để hoàn chỉnh chữ nhơn cho mình chớ không phải ai sinh ra cũng đã hoàn hảo…

– Tôi hiểu ý Huyên. Chính cố Hai cũng bảo tôi: Chữa bệnh có hai phép, phép chữa gốc và phép chữa ngọn, trong đó, chữa gốc vẫn quan trọng hơn. Nhưng tôi lại nghĩ, dù sao việc trước mắt vẫn là làm lành những ung nhọt ngoài da đã… Nếu quả thật anh Danh đã hành động không tốt…

Bé Bình Minh lên phòng khách, hồn nhiên:

– Má ơi! Má mời bác Nam xuống ăn bánh xèo đi má. Khánh biểu con nói má vậy.

Nam đứng lên trước. Anh ẵm Bình Minh, hỏi nhỏ vào tai cô bé :

– Bình Minh thích ăn bánh xèo lắm hả?

– Dạ thích. Còn bác Nam, bác có thích không?

– Thích!

– Con sẽ nói với Khánh là bác Nam thích. Thế nào mai mốt bác Nam trở lại, Khánh cũng đổ bánh xèo mới bác Nam ăn nữa.

Buổi trưa yên tĩnh và nắng bắt đầu nóng. Nam thèm một cơn gió. Và anh nhớ quay quắt về buổi chiều lộng gió trên đồi cỏ ngày xưa, ngày Huyên còn ở lứa tuổi hồn nhiên như cô bé Bình Minh anh đang ẵm trên tay…

***

Không tiện nghỉ đêm tại nhà Huyên, Nam từ giã Huyên sau buổi cơm chiều để tới quán cố Hai.

Suốt buổi trưa, sau bữa bánh xèo ngon miệng, Nam kể chuyện nghề nghiệp cho Huyên và hai cô cậu bé nghe. Khánh mê những chuyến đi của Nam, cậu bé ao ước: “Lớn lên con sẽ làm nhà báo như bác Nam vậy”. Còn Bình Minh thì ôm cổ má: “Con chỉ thích làm cô giáo như má thôi”.

Từ giã, Huyên dặn Nam:

– Xong việc bên lâm trường, anh nhớ ghé lại đây. Thú thật, tôi muốn biết anh Danh là người thế nào?

Nam hứa sẽ trở lại.

Buổi tối, Huyên lại ngồi bên ngọn đèn dầu như đêm trước. Lời hứa của Nam khiến cô thấy yên lòng. Nhưng, cô chợt tự hỏi mình: Có phải cô muốn Nam trở lại chỉ vì muốn biết tin tức về Danh hay còn vì một lý do khác nữa? Huyên nhớ tới Khoa và có cảm giác phạm tội…

Ngọn đèn dầu không chỉ tỏa sáng. Huyên thấy ngọn lửa nhỏ ấy vừa truyền qua người cô một hơi ấm dịu dàng, vừa như muốn dọa dẫm…

K.V (mời xem tiếp kỳ 6)

Nguồn: Bongtram.vnweblogs.com

Thẻ:

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống