Home » Truyện người lớn » NHỮNG NGƯỜI NUÔI LỬA – tiểu thuyết Khôi Vũ (Kỳ 4)

4.
TRONG NHẬT KÝ CỦA CÔ GIÁO HUYÊN

Năm 1973.

Một người quen cho tôi biết Nam xin đi dạy học ở một tỉnh rất xa thuộc miền Tây.

Năm 1974.

Tình cờ gặp dì Mười ở chợ Biên Hòa, tôi được biết Nam dạy học ở tận Cà Mau và hàng nửa năm mới chịu về thăm gia đình một lần. Anh rất buồn.

Năm 1975.

Nam vẫn ở Cà Mau, nơi tận cùng đất nước? Hay anh đã về Biên Hòa với gia đình? Hay anh đã đi đâu, một phương trời xa xôi nào đó?

Tháng 9 năm 1975.

Trường tư thục Khai Minh của tôi bị đóng cửa từ ngày giải phóng, vì bây giờ giáo dục là hoạt động của nhà nước. Tôi tự hỏi sao lại có thể suy nghĩ như thế được, nhưng tôi chỉ là một cô giáo, một con người nhỏ nhoi trong đất nước mấy chục triệu người. Vả chăng, còn đó cả một thiết chế nhiều năm…

Chính quyền mới cho xây dựng một dãy trường học ở lưng chừng đồi Chúa. Trường dựng bằng gỗ, lợp tôn, nền đất nện, chia thành năm phòng. Ủy ban xã cho biết vào năm học tới, trường Đồi sẽ nhận học sinh cấp 1. Thầy cô giáo được thành phố điều động tới gồm một thầy hiệu trưởng và ba giáo viên. Người ta đến tận nhà mời tôi dạy một lớp. Tôi xúc động không phải chỉ vì được công nhận. Lòng tôi vui sướng còn vì tôi lại được đứng lớp, lại được làm nhiệm vụ một người khai trí cho lũ trẻ làng Đồi.

Một hôm có việc lên tỉnh lỵ, tôi tình cờ gặp chị Hảo của Nam. May cho cả hai là chị ấy không thấy tôi. Như vậy là gia đình Nam không bỏ đi nước ngoài vào những ngày biến động của tháng tư. Nhưng tôi vẫn không thể biết được số phận của Nam. Nam đang ở đâu? Và ông Sáu Thành, bà Sáu Thành ra sao?… Mà thôi! Từ ngày ấy tôi đã tự bảo mình hãy quên đi những người trong gia đình ông bà Sáu Thành, cả Nam, cả mối tình bất hạnh của anh và tôi. Phải! Tất cả nên xếp vào một ngăn nhỏ và sâu kín nhất trong ký ức…

Năm 1978.

Sự phát triển của trường Đồi đặt ra một số yêu cầu mới. Trường sở phải xây dựng thêm một dãy thứ nhì, nhưng cũng chỉ bằng vật liệu nhẹ. Các thầy cô được điều động xuống dạy ở một ngôi trường xa xôi, hẻo lánh, tuy vẫn đứng lớp nhưng hầu hết đều mang tâm trạng chờ hết thời gian quy định để chuyển về thành phố. Chất lượng học tập không thể tỷ lệ nghịch với nhiệt tình của người giáo viên.

Thầy hiệu trưởng của năm học đầu tiên vẫn tiếp tục nhiệm vụ của mình nhưng ngày càng tỏ ra kém hào hứng, lơ là với công việc. Cuối cùng, thầy đệ đơn xin về thành phố và đề nghị tôi thay thế. Trước năm học mới một tháng, tôi được mời lên phòng giáo dục. Ông trưởng phòng trao cho tôi tờ quyết định bổ nhiệm tôi làm hiệu trưởng trường Đồi, điều mà tôi không hề được tham khảo ý kiến. Ông động viên tôi:

– Tuy trước đây cô từng là hiệu trưởng một trường tư nhưng trong lý lịch cô lại có nhiều thuận lợi. Cô có em trai và em dâu là liệt sĩ, hiện nay đang nuôi dưỡng con của hai liệt sĩ này. Cô lại tốt nghiệp đại học và là người địa phương. Cô hãy phát huy truyền thống gia đình và năng lực cùng nhiệt tình của mình trong nhiệm vụ mới.

Tôi chỉ quan tâm đến cái có thực của chính mình : đó là khả năng và lòng yêu nghề, yêu trẻ.

Một buổi chiều sau đó ít hôm, tôi đi bộ qua phía bên kia ngọn đồi nghĩa trang của làng Đồi, tìm đến trước ngôi mộ đá ong của thầy Bảy Tín. Tôi đốt nhang cắm trước mộ thầy và thầm khấn:

“Cho đến nay, con vẫn tiếp tục được đứng trên bục giảng, làm công việc đáng quý như thầy là dạy dỗ lũ trẻ trong làng. Xin thầy hãy giúp con đủ nghị lực vượt qua mọi khó khăn mà chắc chắn con sẽ gặp phải”.

Gió lộng. Mái tóc tôi lòa xòa. Tôi vén lại mớ tóc trước trán, tay chạm vào vết sẹo nhỏ ngày xưa. Tôi đã hai mươi chín tuổi rồi!

Bất giác tôi nhớ đến Nam…

*

*     *

 

5.

 Tháng đầu tiên của mùa mưa, những cơn mưa không thật lớn nhưng cứ nối nhau vài trận liền như một cái lệ. Những hôm không mưa, trời oi bức khó chịu. Vườn khế nhà Huyên xanh mướt, dưỡng sức chuẩn bị một mùa hoa trái. Cây vú sữa phủ bóng che mát phần mộ ông Mười Đờn thì đã đơm đầy từng chùm nụ, mỗi trận mưa lại rụng đầy sân những chiếc lá già và bông xấu. Nước con suối Cát dâng cao, chảy ồn ào dưới chân cây cầu gỗ nối đồi Lửa và đồi Chúa.

Bước vào tuổi sáu mươi, ông Hai Đương cũng bắt đầu thời gian bệnh nặng. Thật ra, chứng bệnh loét dạ dày cũng không đến nỗi ngày một trầm trọng hơn, nếu người cha ấy không quá sầu não vì sự ra đi vĩnh viễn của đứa con trai ông yêu quý. Thằng bé Khánh vừa là niềm an ủi, vừa là hình ảnh nhắc nhở ông nội nó nhớ con. Mỗi lần có người quen tới chơi, khen thằng bé dễ thương, thông minh, gương mặt giống cha như đúc, là bà Hai Đương lấy khăn thấm nước mắt, còn ông Hai Đương đứt từng khúc ruột.

Ngày hôm ấy, lúc ông Hai Đương kêu đau bụng rồi mửa ra một búng máu tươi, Huyên đang họp giáo viên trong trường. Một người hàng xóm đạp xe tới báo tin. Huyên cho hoãn cuộc họp, hối hả đi ngay qua trạm xá gần trường. Phụ trách trạm xá là chị y sĩ Vân, cũng là một học trò của thầy Bảy Tín, trên lớp Huyên.

– Chị Vân ơi, ba em thổ huyết, làm sao bây giờ hả chị?

Huyên lo lắng. Vân thì khác, chị đã quá quen với những trường hợp cần cấp cứu. Chị lấy một ít dụng cụ, thuốc men cần thiết cho vào túi và trấn an Huyên:

– Nếu ở trường cần có em thì em cứ ở lại. Một mình chị lo cho bác Hai được rồi.

– Em không yên tâm. Em phải về.

Mặc dù đã được sự chăm sóc chu đáo của y sĩ Vân, buổi tối hôm ấy, giữa cơn mưa tầm tã trút xuống làng Đồi, ông Hai Đương lại mửa ra máu tươi lần thứ nhì.

Sáng hôm sau, Huyên phải cùng y sĩ Vân chuyển ông Hai Đương lên bệnh viện tỉnh bằng xe lam ba bánh của một phụ huynh học sinh tình nguyện chở giúp.

Thời gian ông Hai Đương nằm điều trị khá dài. Huyên phải thu xếp đưa má lên ở luôn trên bệnh viện để nuôi bệnh, còn cô thì chạy đi chạy lại. Vào những ngày này, lương thực là mối quan tâm của cả nước, đời sống mọi giới nhất là những người ăn lương như Huyên gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng việc thuốc men chạy chữa cho người bệnh thì không thể trì hoãn. Huyên phải bán đi khá nhiều vật dụng đáng giá trong gia đình. Còn may là ông Hai Đương thoát hiểm.

Thật ra, chuyện chạy chữa cho ông Hai Đương không chỉ đơn giản như thế. Một bác sĩ ở bệnh viện tỉnh đã tận tình điều trị và can thiệp cho ông Hai Đương được hưởng ưu tiên sử dụng một số thuốc quý hiếm. Sau này, khi người bệnh đã về nhà, anh ta còn tìm đến mỗi cuối tuần để theo dõi bệnh trạng. Người bác sĩ ấy tên Khoa. Anh ta nói với gia đình Huyên khi mọi người nói lời ơn nghĩa:

– Tôi không dám từ chối lời cảm ơn. Nhưng quả thật có điều này : tôi cũng rất biết ơn những người bệnh như bác Hai đây, vì tất cả đã hỗ trợ tôi trong công trình nghiên cứu về bệnh đau dạ dày…

Bác sĩ Khoa trở thành người thân quen với gia đình Huyên.

 

***

 

Trước tháng 4-1975, cuộc đời cầm bút của Nam bắt đầu bằng một sự tình cờ. Nhân đọc một bài báo có nhiều chi tiết sai về kiến thức sử địa, Nam viết thư lên tòa soạn báo T.S góp ý. Nhân tiện, anh gửi một bài viết ngắn của mình về vấn đề tương tự. Bài báo được đăng. Rồi tiếp theo là một số bài khác ký tên Thanh Nam lần lượt đến với bạn đọc.

Một người bạn cũ thời sinh viên, nay trở thành cây bút chủ lực của báo T.S gặp lại Nam, tay bắt mặt mừng, hàn huyên tâm sự. Cuối cùng, anh bạn rủ Nam bỏ nghề dạy học chuyển qua viết báo. Nam vẫn thích thú với những cuộc phiêu lưu trong đời nên nhận lời mà chẳng phải đắn đo lắm. Nam trở thành phóng viên của báo T.S.

Hòa bình, Nam không về ở hẳn với gia đình mà tiếp tục ở lại Sài Gòn đã mang tên thành phố Hồ Chí Minh. Quê hương cũ đầy ắp kỷ niệm trong anh nhưng từ lâu lắm rồi, anh sợ phải trở về nơi ấy, nơi có một người con gái anh yêu mà cũng là nơi anh phải chôn vùi mối tình đầu vào quá khứ.

Nam được chấp nhận tiếp tục nghề phóng viên. Anh lao vào công việc cần mẫn, nhiệt tình và tạo cho bút danh Thanh Nam của mình một uy tín nhất định. Thỉnh thoảng, Nam mới về Biên Hòa một hai ngày thăm má và chị. Cứ nửa năm một lần, anh lại đi Vũng Tàu thăm ba, đã trở thành một nhà sư. Ông Sáu Thành vẫn như ngày xưa ở làng Đồi, thương yêu con bé Huyên ngày đó, vẫn mong cô bé trở thành con dâu của mình. Ông biết mọi chuyện nên mỗi lần gặp Nam, ông đều trách và khuyên Nam tìm gặp lại Huyên. Ông nói:

– Huyên có lý do để tự ái và quyết định chia tay con. Nhưng sao con không kiên tâm thuyết phục nó. Giống như ba luôn khuyên má con và chị Hảo vậy. Người ta sống với nhau phải biết tha thứ lỗi lầm cho nhau. Mà ngày đó, đâu phải là con nhỏ có lỗi…

Nam chần chờ…

Mãi đến một ngày chủ nhật đẹp trời, Nam về Biên Hòa. Rồi từ tỉnh lỵ, anh phóng xe trở lại làng Đồi. Anh đã có quyết định. Lòng anh hân hoan với bao hy vọng. Ba anh có lý. Anh tin rằng dù Huyên có cứng rắn đến đâu thì tình yêu chân thành và cháy bỏng của anh cũng sẽ xóa được vết sẹo thứ nhì trong đời hai đứa..

Nam ghé vào quán cố Hai nơi đỉnh đồi Chúa. Ông lão búi tó vui mừng nhận ra Nam. Ông nói:

– Bọn nhỏ tụi bay lớn hết rồi. Nhưng qua vẫn nhớ mặt từng đứa. Lâu lắm mới thấy bay về lại làng Đồi. Có chuyện gì nói cho qua nghe coi…

– Dạ, cháu ghé thăm gia đình bác Hai Đương…

– Vậy là qua biết rồi! Để qua nói thử coi có trúng không nghe! Bay về mừng cô giáo Huyên phải không? Năm trước được nhà nước cử làm hiệu trưởng trường Đồi, tới năm nay thì chuẩn bị lấy chồng. Bay biết ông bác sĩ Khoa trên bệnh viện tỉnh chớ? Chà! Ông bác sĩ đẹp trai, nhân hậu lắm. Cặp đó thiệt xứng đôi vừa lứa …

Nam không muốn tin ở tai mình.

Anh về làng Đồi đâu phải để nghe tin Huyên sắp lấy chồng…

 

*

*     *

PHẦN THỨ BA

1.

– Bớ… Quách Hòe..

– Ai? Ai gọi tên ta?

– Bớ Quách Hòe! Đây là Diêm Vương thập điện.

– Diêm Vương thập điện à? Trời ơi! Ta… Ta chết rồi sao? Bao Công đã giết ta chết rồi sao? Không! Không! Ta không thể chết!

– Quách Hòe! Ngươi đã chết thật rồi!

– Ta chết thật rồi ư?

– Phải! Ngươi hãy nhìn kìa! Kia là cung nữ Khấu Thừa Ngự, là người đã bị ngươi bức tử ở Bích Vân Cung ngày nào. Khấu Thừa Ngự chết oan, hồn thị đã đầu cáo rằng chính ngươi đã chủ mưu hỏa thiêu Bích Vân Cung. Có đúng như vậy hay không ? Bớ Quách Hòe…

– Không! Không! Oan… Oan cho tôi lắm…

– Hồn cung nữ kia! Sự thực thế nào, ngươi khá cung khai cho rõ!

– Bẩm Diêm Vương! Chính Quách Hòe đã buộc tôi phải giết hoàng tử là con của bà Lý Thần Phi. Ông ta đã giao cho tôi một thanh đoản đao và vòng vàng trăm lượng. Ông ta còn hứa khi tôi hoàn thành công việc thì ông ta sẽ cho tôi về quê cũ. Vậy mà ông ta đã bội hứa…

– Có đúng như vậy hay không? Bớ Quách Hòe!

– Không! Con tiện tì kia nó vu cáo cho tôi.

– Ngưu đầu mã diện đâu! Nghe lệnh ta đây! Hãy đổ thêm dầu vào vạc. Ta cho phép bọn bay ném Quách Hòe vào vạc dầu sôi mà nấu cho tới khi nào nó chịu cung khai mới thôi, nghe rõ chưa ngưu đầu mã diện?

– Ôi! Xin tha cho tôi, xin tha cho tôi…

– Quách Hòe! Ngươi có chịu cung khai hay không?

– Dạ… Tôi… Tôi…

– Ai ra lệnh hỏa thiêu Bích Vân Cung?

– Dạ… Tôi!

– Ai bày kế ly miêu hoán chúa?

– Dạ… Cũng tôi!

– Tại sao? Tại sao?

– Vì… Vì tôi… Tôi yêu… Tôi yêu Lưu hoàng hậu.

– Thật không ngờ! Ngưu đầu mã diện đâu! Đem giấy mực ra cho nó cung khai. Bớ Quách Hòe! Ngươi hãy khai đi! Hãy nhớ rằng, chẳng có kẻ nào có thể lừa dối được Diêm vương ta đâu!

– Dạ… Tôi xin cung khai tất cả…

………….

– Ngươi đã khai tất cả rồi! Tốt lắm! Quách Hòe! Bây giờ ta cho phép ngươi được ngẩng mặt lên mà nhìn ta. Hãy ngẩng mặt lên!

– Trời! Bao Công! Thiết diện vô tư! Trời ơi! Thì ra ta đã bị ngươi đánh lừa! Ta đã thua trí ngươi mất rồi! Trời ơi!…

 

Mờ sáng ngày mười sáu tháng giêng, vầng trăng tròn màu vàng sữa còn treo trên bầu trời đêm, dường như luyến tiếc đêm rằm huyên náo vừa qua. Mặt trời vẫn say ngủ phía rạch Bối Diệp cứ như đêm trước cũng tham dự lễ cúng đình uy nghiêm với dân làng Đồi, cũng mê mẩn trong tiếng trống chầu tuồng “Bích Vân Cung kỳ án” do gánh hát Bầu Beo trình diễn.

Gà gáy te te trên đồi Chúa, trên đồi Lửa rồi mà những nếp nhà vẫn lặng thinh, chưa thấy ánh đèn dầu thắp sớm. Đêm qua, một đêm vui mà mỏi mệt đã khiến bà con không thức dậy nổi vào giờ này như mọi hôm. Đêm qua, người ta đứng chật ních sân đình, leo lên cả cây vú sữa còn lưa thưa dăm trái. Người ta bắc thang tre dựa vào cột cờ mà leo đứng. Người ta ngồi vắt vẻo nơi bờ tường. Phía trước hai băng ghế dành cho kỳ lão và Ban hương chức ngồi là đám trẻ con chen chúc nhau dưới đất, lao nhao như bầy heo con dễ thương giành vú mẹ lúc sắp sửa mở màn, sau đó, tất cả nín khe, chong mắt lên sân khấu. Mấy trăm con người già trẻ, nam nữ cùng dồn ánh mắt như thế lên cái sân khấu bằng ván cốt pha kê trên thùng phuy nhưng cũng đủ cả phông màn, cánh gà, micrô, đèn màu… Lúc tới cảnh hỏa thiêu Bích Vân Cung cũng có lửa cháy dữ dội như thật. Gánh Bầu Beo chứ nào phải gánh hát xoàng!

Chiều hôm trước, cơm nước qua loa cho xong, cố Hai bỏ miệng miếng trầu, cục thuốc, mặc bộ bà ba trắng mới may còn thoảng mùi long não rồi đi khép cửa sổ, khép cửa cái, dán miếng giấy điều ngang hai đố cửa thay khóa rồi thủng thỉnh ra đình. Quá nửa đêm, cố Hai là một trong vài kỳ lão cuối cùng rời khỏi nơi thờ cúng thiêng liêng nhất làng Đồi để trở về quán của mình trên đỉnh đồi Chúa. Cố Hai gỡ miếng giấy niêm trước cửa, bật quẹt đốt ngọn đèn dầu nhỏ, nhai thêm miếng trầu cuối ngày rồi mới chịu ra chõng nằm nghỉ. Vậy mà cố cũng chỉ chợp mắt được một lát.

Ngọn đèn được thắp lên lúc mờ sáng ngày mười sáu này ở làng Đồi báo hiệu một ngày mới đã bắt đầu, là ngọn đèn măng sông treo giữa quán cố Hai. Cố nhai miếng trầu đầu ngày mới, cảm thấy vị nó vừa cay vừa chát hơn. Điềm gì đây chăng? Cố Hai nghĩ rồi mỉm cười một mình. Sống gần trăm tuổi, cái chết còn không ngán sợ thì chẳng lẽ cố lại sợ một sự xui rủi cho mình. Tốt hơn cả, cố Hai tự nhủ, cứ coi cái vị lạ của miếng trầu như một việc ngẫu nhiên. Cố lấy lóng chót ngón trỏ phải chùi mép. Nước trầu vẫn đỏ tựa son, nước trầu vẫn làm cho cố thấy ấm lòng và náo nức. Cố nhớ lại, tuổi thiếu niên mình đã được học và tin lời dạy của ông thầy Cự về tự thuật của Khổng Tử:

Ngô thập hữu ngũ, nhi chí ư học

Tam thập nhi lập

Tứ thập nhi bất hoặc

Ngũ thập nhi tri thiên mệnh

Lục thập nhi nhĩ thuận

Thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ

Năm mươi tuổi đã thấu triệt được mệnh trời ư? Bây giờ thì cố Hai không còn tin lời ấy là đúng với mọi người nữa. Đã xấp xỉ bách niên, cố Hai vẫn thấy cuộc đời luôn mới lạ. Mỗi ngày, sự náo nức vẫn đến với cố kể từ khi cố ngồi bơm dầu rồi bật quẹt châm cho cái măng sông đỏ dần lên, từ từ phát ra những tia sáng chói chang.

Có những tiếng lịch kịch ngoài sân. Cứ ngồi nguyên chỗ để rang cho xong mẻ cà phê bán trong ngày, không cần nhìn ra, cố Hai cũng biết những người khách mở hàng là một trong mấy nhóm dân xe thồ.

Quả thật ở ngoài sân, bảy thanh niên trạc tuổi ba, bốn mươi đang lặng lẽ dựng xe. Bảy chiếc xe thồ chất đầy củi tràm tươi còn thơm mùi nhựa cây với bảy người chủ của chúng dường như đã mệt nhoài sau khi vượt qua đoạn dốc đồi Chúa, vốn là đoạn dốc dài nhất làng Đồi. Tất cả cùng giữ sự im lặng có thể giữ được. Bảy khúc cây dài một đầu thúc vào những bó củi cột chặt trên xe, đầu kia chống xuống nền đất đồi màu gan gà lẫn sỏi giữ thế thăng bằng cho bảy chiếc xe. Xong đâu đó, những thanh niên mà trán và lưng đẫm mồ hôi mới kéo nhau vào quán. Bây giờ, một loạt tiếng động vang lên tựa như nhiều viên pháo cùng bén lửa phát nổ một lúc.

– Mạnh giỏi không cố?

– Chào cố buổi sáng! Good morning, sir!

– Cho bảy cái đen đi cố!

– Chà! Cà phê mới rang! Thơm chịu hết xiết!

– Thêm bảy điếu thuốc thơm nghen cố!

Sáng sớm mà những chàng trai trẻ vẫn phanh ngực áo, quạt lạch phạch bằng bất cứ vật gì có thể làm cho họ mát. Mồ hôi lấm tấm trên cổ, trên mấy bộ ngực cháy nắng lóng lánh ánh sáng đèn. Người lớn tuổi nhất đám đeo kính cận, anh ta gỡ kính ra lau bằng vạt áo rồi đeo lại, dáng ngồi trầm tư.

Nhóm giáo Đức!

Cố Hai múc cà phê vừa xay nhuyễn trong cái cối xay tiêu cổ lổ sĩ của mình ra phin. Ấm nước mới bắt đầu reo, cố để cho sôi già thêm chút nữa. Gương mặt giáo Đức xương xương rám nắng vừa lạnh lùng vừa u uất. Gió sớm từ ngoài sân lùa vào, thoảng mùi thơm nhựa tràm. Cố Hai đặt đĩa thuốc lá thơm trước bàn, ngay chỗ giáo Đức. Cố hỏi:

– Bay đi củi chôm hả?

Cố nghe rất rõ hơi thở hít sâu vào buồng phổi của giáo Đức rồi thoát ra với ý nghĩa cái thở dài. Anh ta trả lời bằng giọng phân bua:

– Đói ăn vụng, túng làm liều. Cố Hai thông cảm cho anh em tụi tôi.

Cố Hai muốn nói: “Nhưng giấy rách phải giữ lấy lề”. Nhưng sự ồn ào nơi sáu người bạn nhỏ tuổi của giáo Đức chợt biến mất đi trong giây phút sau câu trả lời của anh ta, đã ngăn lời cố Hai lại.

Khi những tiếng lanh canh của muỗng chạm ly vang lên vui tai từ mấy cái bàn gỗ tạp, thì lũ gà đâu đó lại đua nhau gáy te te thêm một hiệp. Lúc này đã có thêm nhiều nếp nhà sáng đèn. Cố Hai xách ấm nước trà ra bàn, kéo ghế ngồi chung với giáo Đức. Cố rê một điếu thuốc, cầm bằng hai ngón trỏ và cái vàng nhựa, đã đặt lên môi lại bỏ ra, chậm rãi hỏi giáo Đức:

– Đói thiệt sao bay?

Giáo Đức chưa kịp trả lời, đám đàn em đã nhao nhao lên:

– Bảo vệ lâm trường, bọn họ bắt dữ quá cố Hai ơi!

– Bị tuôn một chuyến là đủ tiêu tùng rồi, hỏi sao không đói hả cố?

– Họ phá rừng, chở đi từng xe tải gỗ thì không sao hết. Còn tụi tôi hai ngày mới bứng nổi một gốc cổ thụ để về bán làm thớt, bị bắt là bị phạt, bị giữ xe, giam người, thậm chí còn bị đánh đập tàn tệ nữa…

– Có khi tụi tôi phải đổi qua nghề khác thôi, cố à.

Giáo Đức ngồi lặng lẽ hút thuốc, nhấm nháp cà phê. Thái độ của anh ta đúng là của một thầy giáo đằm tính và hơn nữa, của một người từng bị tù oan ba năm trời chỉ vì viết tặng bạn một bài thơ xuân mà chẳng may lọt vào tay những kẻ ít học, rồi họ suy diễn ra nội dung chính trị là thiếu niềm tin vào chế độ. Được trả tự do, giáo Đức mất luôn chỗ dạy học, phải làm đủ thứ nghề để kiếm tiền nuôi vợ con cho đến khi mua chiếc xe thồ, đi củi với những người nhỏ tuổi hơn mình. Những chàng trai kia, mỗi người một số phận nhưng đều có chung sự sôi nổi của tuổi trẻ đồng thời với sự thiếu may mắn khi tìm một việc làm trong biên chế nhà nước.

Họ tiếp tục ồn ào nói chuyện làm ăn:

– Chôm củi tràm, tụi tôi kiếm chút cháo sống qua ngày vậy thôi cố ơi! Có nhằm nhò chi với thầy trò ông Danh bên lâm trường Đại Ngàn.

– Bữa nào cố về thành phố chơi thì thấy. Bảy tám giờ tối, xe be chở gỗ đi hàng chục chiếc. Khuya hơn chút nữa thì xe lam chở đồ mộc gia dụng đi hàng đoàn. Một lũ trốn thuế cả.

Giáo Đức uống xong ly trà nóng, đứng dậy ra sân kiểm tra lại chiếc xe thồ của mình. Đó cũng là sự nhắc nhở của anh ta với các bạn chuẩn bị tiếp tục lên đường.

Bầu trời vẫn chưa xuất hiện những tia nắng đầu tiên. Phía rạch Bối Diệp mới chỉ hắt lên một quầng sáng đục. Nhưng ngoài đường làng đã có người qua lại. Một hai người trong số đó rẽ vào quán cố Hai gọi cà phê.

Đợi cả nhóm ra sân đầy đủ, giáo Đức mới quành trở lại quán. Anh ta chưa hỏi tính tiền ngay mà lại nhìn cố Hai một giây khó hiểu trước khi hỏi:

– Cố Hai sống ở vùng này lâu năm, có bao giờ cố nghe nói hoặc thấy có động đất hay không?

Cố Hai không khỏi ngạc nhiên, hỏi ngược lại :

– Mày nói gì vậy hả giáo?

– Động đất! Tôi hỏi cố, vùng này có bao giờ động đất hay chưa?

– Động đất à? Qua chưa nghe ai kể chớ đừng nói là ngó thấy. Nhưng… Tại sao thằng giáo mày lại hỏi qua chuyện đó hả?

Giáo Đức ghé sát tai cố Hai nói:

– Lúc tụi tôi đang chặt trộm củi tràm thì mặt đất nghiêng qua nghiêng lại mấy lần. Động đất chớ còn gì nữa!

– Bay không nói dóc với qua đó chớ?

– Trời đất ơi! Cố là bậc trưởng thượng, tụi tôi đâu dám hỗn. Mà tụi tôi nói dóc để chi, có ích lợi gì chớ? Mà thôi, tôi kể cho cố biết vậy thôi. Cố tính tiền cà phê đi…

Cố Hai chần chừ:

– Bay đang đói… Thôi… Qua mời bay cữ cà phê sáng nay vậy!

– Đâu có được, cố cứ tính tiền. Tụi tôi đang đói nhưng đâu phải đã tới mức không đủ tiền trả cà phê.

Giáo Đức đặt mấy tờ giấy bạc vào tay cố Hai rồi cứ để yên tay mình trên bàn tay có vết sẹo lớn của ông lão. Anh ta nói như nhìn sâu vào mắt ông lão búi tó:

– Tôi nói thiệt đó cố! Tối qua vùng này có động đất. Lúc đó trên trời trăng sáng vằng vặc!

Nói rồi giáo Đức rút tay lại, quay lưng bước đi.

Một chút xíu sau, bảy chiếc xe thồ củi tràm nối đuôi nhau xuống dốc đồi Chúa.

* * *

Dân làng Đồi, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia, không ai không thuộc chuyện bà Huỳnh và đồi Oan Trái. Trẻ con trong làng đứa nào cũng được nghe kể về những chuyện linh thiêng ở ngọn đồi nhân tạo này. Trong nhiều trường hợp tranh chấp, người lớn đưa nhau ra thề thốt trước miếu bà Huỳnh. Sự linh thiêng được thêu dệt thêm từ hồi Mỹ tới, cho mấy chiếc máy bay bay dọc sông Đồng Nai thả xuống những luồng hơi thuốc thơm gắt mũi khiến cây cối suốt một vùng đất khô quắt lại, lá rụng tơi tả trơ thân cành khẳng khiu không còn sự sống. Cả trong thời ấy, lạ lùng thay, cây cối ở đồi Oan Trái cũng chỉ bị ảnh hưởng chút ít không đáng kể. Màu xanh vẫn tồn tại nơi đây như câu trả lời của một thế lực huyền bí nào đó với những người gieo rắc sự chết chóc và tàn lụi cho thiên nhiên. Người ta giải thích sự kiện này theo nhiều cách khác nhau. Một số có đầu óc khoa học cho rằng ngọn đồi may mắn không bị luồng hơi thuốc đi qua, hoặc một cơn gió bất chợt đã cuốn chúng qua nơi khác. Nhưng phần đông còn lại, nhất là các ông già bà cả đều lý giải đó là sự linh thiêng của bà Huỳnh!

Chim Tóc, những con chim nhỏ như chim sẻ, lông toàn một màu đen trừ đầu và ức lại trắng như bông, là một loài chim hiếm trong vùng, vẫn còn một đàn cư trú ở khu vực làng Đồi. Chưa bao giờ người làng Đồi thấy một con chim Tóc đi lẻ. Chúng là bạn của nhà nông vì thức ăn ưa thích nhất của chúng là cỏ non và sâu bọ. Mỗi buổi sáng trước khi mặt trời mọc, những con chim Tóc đua nhau uống sương sớm đọng trên lá cây cho đến khi vầng dương ló dạng mới rủ nhau tung cánh bay đi khắp nơi. Một đàn chim Tóc khá đông, khoảng vài trăm con, đã chọn đồi Oan Trái là nơi trú ngụ. Mỗi bình minh, đàn chim này bay qua bên kia sông đến những cánh rừng và chỉ trở về khi chiều xuống. Những lúc ấy, người làng Đồi trông thấy trên khoảng trời đồi Oan Trái một vệt đen lớn di chuyển tựa một đám mây bay nhanh.

Thường ngày, cố Hai ít chú ý đến đàn chim Tóc ở đồi Oan Trái. Nhưng trong buổi sáng nay, buổi sáng ngày mười sáu tháng giêng âm lịch này, thì có khác. Nguyên do là có tin có động đất vào đêm qua của giáo Đức.

Lúc mặt trời lên cũng là lúc quán cố Hai đông khách. Dù bận việc, cố Hai vẫn luôn hướng mắt về phía đồi Oan Trái theo dõi những hình ảnh trên bầu trời lúc một sáng xanh rõ hơn. Ngọn đồi hiện ra trên nền trời cái dáng thấp nhỏ có mấy tán dầu cổ thụ vươn cao, và chỉ có thế ! Suốt thời gian từ lúc bình minh tới khi mặt trời gắt nóng, vẫn không thấy hình ảnh đám mây chim Tóc xuất hiện. Cố Hai tự hỏi : “Phải chăng động đất đã khiến đàn chim sợ hãi bay đi từ lúc nửa đêm hoặc vẫn còn thu mình dưới những tàn cây. Con người bây giờ hư đốn tới mức làm cho trời đất phải thịnh nộ cảnh cáo rồi hay sao?”

Khách tới uống cà phê sáng ở quán cố Hai hầu như đều là người làng Đồi. Có cả khách tới uống nước trà nóng khỏi phải trả tiền để được hòa mình vào cái không gian nho nhỏ ấm cúng và đậm đặc thông tin đủ loại nơi đây.

Thời sự sôi nổi buổi sáng nay là chuyện lễ cúng đình đêm trước. Phân nửa số người có mặt xoay quanh vụ gánh Bầu Beo diễn tuồng “Bích Vân cung kỳ án”. Những ý kiến khá mâu thuẫn với nhau:

– Bầu Beo, hèn chi mà chẳng chém đẹp!

– Tiền nào của nấy chớ! Tui thì tui cho là vở tuồng hồi khuya coi rất đáng đồng tiền bát gạo!

– Xí ! Đạo diễn hạng cá kèo! Cái thời ly miêu hoán chúa đó mà nhà vua đeo đồng hồ điện tử.

– Mấy chú mấy anh có nhớ không? Cái đoạn Bao Công chui vô lò gạch để gặp bà Lý Thần Phi đó. Hết xẩy! Bao Công nói: “Bổn quan đã vào đây!”. Bà Lý Thần Phi trong bộ đồ rách rưới của tiện dân nói tỉnh bơ: “Mụ xin chào Thiết diện vô tư Văn Chuẩn”. Vậy là Bao Công ngạc nhiên: “Á…” một tiếng, tay chân run lật bật. Rồi tới lúc thằng nhỏ Quách Hải Thọ lấy ghế ra mời, Bao Công đang định ngồi thì bà Lý Thần Phi quát: “Ai cho phép ngồi?” giọng gằn từng tiếng một. Trời đất! Diễn như vậy còn chê nỗi gì?

– Nhưng Bao Công chi mà ốm nhách. Chỉ được cái mặt bôi đen, trán có vẽ vòng nhật nguyệt là coi được!

– Không lẽ cứ quan tòa thì phải mập hay sao?

– Quan tòa cũng là một loại quan, mà quan nào chẳng là quan tham…

– Nhưng đây là quan tòa Bao Công.

Lạc ra khỏi dòng thời sự trong ngày chỉ có một mình cố Hai!

Một lần, cố Hai hỏi hương chức Toàn đang tư lự rít thuốc rê:

– Hồi khuya, chú em có hay biết chi không?

– Ở đình về mệt quá, tôi ngủ như chết, có biết chi! Mà chuyện gì vậy cố Hai?

– Có đứa nói với qua rằng hồi khuya này vùng mình có động đất!

– Động đất! – Hương chức Toàn thốt lên ngạc nhiên rồi liền đó ông cười ha hả – Thôi, tôi biết rồi. Tụi nhỏ nó đùa cố cho vui đó mà. Động đất chi mà có ở vùng này!

Rồi hương chức Toàn chuyển đề tài:

– Bữa qua ban tổ chức có mấy cái dở quá. Thứ nhất là thành phần khách mời…

Lần thứ nhì, cố Hai hỏi Sáu Nhỏ, anh thanh niên làm nghề chăn bò mướn cho cả làng Đồi:

– Lóng rày, bay có ra phía đồi Oan Trái không hả Sáu?

– Dạ có! Mới bữa qua tôi ở đẳng.

– Vậy hả? Hay quá! Vậy chớ bay có thấy đàn chim Tóc còn ở đấy không?

– Cố hỏi lạ chưa! Trong ngày đàn chim bay qua bên kia sông, đâu có ở đồi mà thấy!

– Ờ… qua quên…Bậy quá! Bị sáng nay qua không thấy chúng bay qua bển…

– Để ý làm chi chuyện đó hả cố? Chúng bay sớm hoặc giả bay vào lúc cố đang bận việc trong bếp thì làm sao cố thấy được!

Những đợt khách đến rồi đi. Cố Hai hết đứng nơi quầy pha cà phê lại xuống bếp nấu nướng. Tháng giêng, đất miền đông như có cả bốn mùa trong ngày. Sáng sớm, tiết trời mát mẻ tựa như mùa xuân. Đến trưa là khí hậu mùa hè nóng nực. Nhiệt độ dịu dần thành tiết trời thu khi chiều về và đêm xuống đem theo cái lạnh đông.

K.V (mời xem tiếp kỳ 5)

Nguồn: Bongtram.vnweblogs.com

Thẻ:

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống