Home » Truyện người lớn » NHỮNG NGƯỜI NUÔI LỬA – tiểu thuyết Khôi Vũ (Kỳ 3)

2.

Hai chị em Huyên và Hiếu đều lần lượt thi đậu vào đệ thất trường công trên tỉnh. Hiếu thuộc đợt học sinh cuối cùng của thầy giáo Bảy Tín thi đậu đệ thất trường công. Mùa hè năm ấy, sau khi ăn mừng mấy đứa học trò thi đậu, thầy giáo Bảy Tín lâm bệnh nặng và chẳng bao lâu, thầy nhắm mắt lìa trần, thọ bảy mươi hai tuổi.

Đám tang của thầy giáo Bảy Tín là đám tang lớn nhất làng Đồi. Con người được nể nang kính trọng ấy không có ai là thân thuộc, nhưng theo sau quan tài là bà con làng Đồi, hầu như gia đình nào cũng có người đi tiễn, và đặc biệt là hàng trăm học trò lớn nhỏ thắt khăn tang. Việc thắt khăn tang cho thầy giáo Bảy Tín được ban hương chức Đình làng đề xuất và tất cả gia đình học trò thầy Bảy đều hoan nghênh. Tiếng khóc của học trò thầy Bảy Tín, có người đã thành gia thất, có đứa còn tuổi ngây thơ, nức nở và chân thành, là những tiếng khóc thực sự của tình cảm. Cả làng Đồi, người lớn lẫn trẻ con, đều hiểu rằng sau khi thầy giáo Bảy Tín mất đi, việc học hành ở trong làng sẽ gặp nhiều khó khăn. Đã mấy năm qua, biết mình già yếu, thầy Bảy có gợi ý và bà con đã cậy người mời thầy cô về làng Đồi dạy dỗ lũ trẻ, nhưng ai cũng chê nơi đây xa xôi hẻo lánh, không chịu nhận lời. Rồi sau đây, những gia đình muốn cho con cái tiếp tục việc học hành phải đưa đón hoặc bắt chúng tự lo liệu việc đi lại hàng chục cây số mới tới ngôi trường gần nhất ! Thầy giáo Bảy Tín được đặt nằm ở một vị trí khá trang trọng trong nghĩa trang làng Đồi, trên một ngọn đồi có trồng nhiều cây phi lao khi gió về, những chiếc lá hình kim vi vu như hát ru những người đang yên giấc. Theo truyền thống, người ta lặn lội hàng mấy cây số đến vùng có đất đá ong, đào xắn về xây mộ cho thầy Bảy, như đã từng làm với những hương chức và người có công lao khác trong làng.

Mỗi ngày, chị em Huyên và Hiếu giống như vài học sinh trung học khác cùng ở làng Đồi phải đạp xe đạp đi hơn hai mươi cây số đến trường. Nam nữ sinh học khác buổi nên ông bà Hai Đương phải mua cho chị em Huyên mỗi đứa một chiếc xe đạp. Huyên chọn xe màu trắng cho tiệp với  màu áo dài trắng mà cô bé phải mặc khi mười hai tuổi. Hiếu nhất định đòi chiếc xe đạp khung ngang cao lêu nghêu so với tầm vóc của mình, chỉ với lý lẽ: “Như thế mới là con trai”.

Thời gian qua đi, Huyên đã trở thành nữ sinh lớp đệ nhị, chuẩn bị thi tú tài phần nhất. Hiếu mười bốn tuổi, nhổ giò, cao nhưng chưa phát triển bề ngang, hiếu động và vẫn luôn chứng tỏ với mọi người mình là một thanh niên, một người đàn ông của tương lai. Ba ngày đầu tuần Huyên học buổi sáng thì Hiếu học buổi chiều, ba ngày cuối tuần ngược lại. Buổi trưa, hai chị em một đi một về, thường gặp nhau giữa đường. Huyên cười với em trai còn Hiếu thì giơ cao tay trái chào chị. Chỉ có buổi trưa thứ bảy, hai chị em không gặp nhau giữa đường vì sáng hôm ấy, Hiếu học đến giờ thứ năm.

Một ngày thứ bảy có nhiều dải mây xám vắt ngang bầu trời làng Đồi từ lúc giữa trưa. Bầu trời tỉnh lỵ Biên Hòa trong hơn, nhưng buổi học cuối tuần trong lớp Huyên không yên tĩnh. Cả lớp truyền miệng nhau tin tức về vụ rải truyền đơn chống chính phủ trong trường buổi sáng này. Khi ông hiệu trưởng cho mời cảnh sát đến và khi họ tìm ra lớp học là nơi phát sinh vụ việc thì họ chỉ còn thu được bó truyền đơn còn lại giấu trong ngăn bàn học của một nam sinh. Trước đó, cậu học sinh kia đã xin phép thầy đi vệ sinh và trốn mất. Huyên bình luận với bạn bè:

– Phải công nhận là đám con trai liều lĩnh thật!

Hơn sáu giờ chiều, đạp xe về làng Đồi, người làng đầu tiên mà cô gặp đã chặn cô lại để báo tin:

– Biết gì chưa cháu? Cảnh sát tới nhà cháu, bắt ông già cháu đưa đi rồi!

Huyên bủn rủn cả chân tay. Hình ảnh thuở ấu thơ vào buổi sáng ông Sáu Thành bị trói tay đưa ra xe díp hiện về trong trí nhớ cô gái. Mười mấy năm sau buổi sáng ấy, cảnh tượng lại tái diễn ở gia đình cô.

Huyên đạp xe loạng choạng. Mắt cô đỏ hoe, tối tăm. Tim cô đập loạn nhịp, nghẹt thở. Đầu óc cô rối bời, mê muội. Dường như tất cả những người dân làng Đồi gặp cô trên đường, đều nhìn cô với cái nhìn thương hại. Ở cái làng nhỏ nhoi này, bất cứ chuyện bất thường nào xảy ra cũng được truyền đi nhanh hơn cơn lũ.

Khi Huyên đạp xe đến đỉnh đồi Chúa, đôi chân cô rã rời muốn quỵ. Từ trong quán, cố Hai chạy ra, dằng lấy xe đạp của Huyên rồi chở cô về tận nhà.

– Đừng có hoảng quá mà hại thân nghe con Hai!

Cố Hai nhắc Huyên mấy lần như thế trên đường đi.

Cậu học sinh to gan dám lén rải truyền đơn trong trường nào ai ngờ lại chính là Hiếu. Đứa em trai nôn nóng làm người lớn của Huyên quen biết với ai, nhận truyền đơn của ai, làm việc ấy vì lẽ gì, gia đình Huyên không ai được biết. Sự thật khiến mọi người phải ngỡ ngàng.

Huyên xin nghỉ học mấy ngày để cùng má lo việc thăm nuôi ba. Ông Hai Đương gặp may hơn ông Sáu Thành ngày trước, cũng có thể do cách làm việc hoặc sự việc bây giờ không đến nỗi như trước, nên chỉ sau hai tuần bị tạm giam, ông được trả tự do. Cảnh sát buộc ông phải làm tờ cam kết sẽ giao con trai cho họ nếu nó về nhà. Chính quyền ấp cũng được thông báo lệnh bắt Hiếu.

Nhưng kể từ ngày ấy, Hiếu không bao giờ trở về làng Đồi. Gia đình Huyên bặt tin Hiếu cho tới gần một năm sau mới có người gõ cửa giữa nửa đêm trao thư của Hiếu rồi đi ngay. Hiếu báo tin vẫn khỏe mạnh và xin lỗi ba má đã không hỏi ý kiến người lớn khi hành động. Tuy nhiên, cậu trai tuổi thiếu niên vẫn xác định rằng mình không sai khi chọn đường. Ông Hai Đương đứng chết lặng, còn bà Hai thì ôm mặt khóc nức nở. Nội Huyên, ông Mười Đờn, đã già lắm, ngồi vấn thuốc rê thở dài. Tối hôm sau, ông Mười Đờn ôm cây đờn cò ra ngồi trước hiên nhà, kéo một bản Oán. Giọng ông thiếu hơi, rên rỉ :

Ai có thương cha, ai có thương cha

Nhớ nhớ mẹ, nhớ nhớ mẹ

Xót xa trong lòng

Ơn vua nợ nước

Mới mới xa

Mới xa gia đàng.

Nhìn nhìn xem, nhìn xem sau trước

Thấy cỏ cùng cây

Đằng đằng xa, đằng xa nghìn dặm

Ơi gió lùa

Gió lùa trải qua…

Hiếu không trở về làng Đồi từ ngày ấy. Cả đến khi cuộc chiến hai mươi mốt năm chấm dứt, cũng không thấy Hiếu về. Mùa mưa năm hòa bình đầu tiên, có một người đàn ông lạ mặt đi xe díp về làng Đồi hỏi thăm gia đình ông Hai Đương. Cùng đi với ông ta là một phụ nữ, ẵm theo một đứa bé trai chưa tròn tuổi thôi nôi. Trong ngôi nhà ngói chữ Đinh bấy giờ chỉ còn ba người: ông bà Hai Đương và Huyên. Ông Mười Đờn đã quy tiên từ mấy năm trước, mộ xây ngay trước sân nhà. Người khách lạ kể chuyện về Hiếu, đúng hơn, về vợ chồng Hiếu. Hiếu đã cưới vợ, là đồng đội của mình. Đứa bé trai là con của vợ chồng Hiếu. Nó là một đứa trẻ bạc phận phải chịu mồ côi cả cha lẫn mẹ vì vợ chồng Hiếu cùng hy sinh vào những ngày cuối cuộc chiến.

Ông Hai Đương ngồi bất động như một pho tượng, nước mắt như chảy ngược vào tim. Đôi gò má của ông giật nhẹ rồi lặng đi, như không còn cảm xúc. Bà Hai Đương khóc ngất trong vòng tay của con gái. Chỉ còn Huyên giữ được chút bình tĩnh. Cô nhận từ tay đồng đội của Hiếu hai di vật : tấm hình trong thẻ học sinh lớp đệ tứ của Hiếu được phóng lớn và tấm hình thứ hai của vợ Hiếu, một nữ văn công đang biểu diễn trên sân khấu dã chiến giữa rừng.

Đứa con trai của Hiếu được ông bà Hai Đương đặt tên là Khánh, là giọt máu của hai liệt sĩ, là người nối tiếp của một dòng họ chưa bao giờ có hạnh phúc trọn vẹn. Huyên trở thành cô Hai của Khánh, đồng thời cùng với bà Hai Đương đã già đi rất nhiều vì quá nhiều đau khổ, làm hai người mẹ chăm sóc cho đứa trẻ mồ côi…

 

*

*     *

 

3.

Những lời nói thật của cô bé Huyên năm nào đã vô tình khiến cho ba Nam lâm vòng tù tội. Những người lớn trong gia đình không có dịp nào gặp lại nhau, người chí thú với việc ruộng vườn ở một vùng hẻo lánh, người lao vào việc bán buôn tấp nập nơi tỉnh lỵ. Thời gian cũng đồng lõa để biến hai gia đình làng xóm thành người dưng hoặc nếu không thì cũng gần như thế.

Mãi sau này Huyên mới biết là trong nhiều năm, chị em cô đã học chung trường với Nam. Nam lên tỉnh cùng ba má, tiếp tục học xong bậc tiểu học rồi thi đậu vào đệ thất trường công, trước Huyên một năm. Do buổi học của nam và nữ sinh khác nhau, ngoài ra cả hai lại cũng không phải là những học sinh giỏi nổi bật trong ngôi trường hai ngàn học sinh ấy, nên không ai biết gì về người kia. Khi Hiếu thi đậu vào trường thì Nam đã chuẩn bị thi tú tài phần nhất, vả lại, cả hai cũng chẳng thể nhận ra nhau dù học chung buổi vì hồi còn ở làng Đồi, Hiếu còn quá nhỏ.

Huyên tuy không phải là một nữ sinh xuất sắc, nhưng cô đều vượt qua các kỳ thi không mấy khó khăn. Có mảnh bằng tú tài toàn phần trong tay, Huyên xin với ba má cho mở trường  dạy học tư ở làng Đồi. Cô nói:

– Từ hồi thầy Bảy Tín qua đời, trẻ con làng mình gặp biết bao khó khăn trong việc học hành. Con muốn tiếp tục công việc của thầy Bảy Tín…

Ông bà Hai Đương chỉ có một mình Huyên, trong lòng không muốn phải xa con nếu cô đi Sài Gòn học đại học, nên vui vẻ bằng lòng. Vả chăng, có người con gái làm cô giáo dạy lũ trẻ nhỏ trong làng cũng là điều hãnh diện cho họ.

Nhưng cố Hai, ông lão bán quán ở đỉnh đồi Chúa, khi biết chuyện đã đưa ra một ý kiến khác:

– Đúng là việc dạy dỗ trẻ nhỏ trong làng này là cần thiết và đáng quý lắm. Nhưng ta thử tính lại coi. Một cô giáo Huyên chỉ có bằng cấp tú tài hay một cô giáo Huyên có bằng cấp đại học thì có lợi hơn? Chẳng lẽ người làng Đồi mình không thể có mơ ước ở đây có một ngôi trường trung học hay sao?

Cả đến ban hương chức đình làng cũng tham gia ý kiến ủng hộ cố Hai. Họ hào hứng hứa hẹn khi Huyên học xong, trở về làng, ban hương chức sẽ đứng ra vận động bà con góp công góp của dựng cho Huyên một ngôi trường đàng hoàng.

Cuối cùng, Huyên trở thành một nữ sinh viên đại học. Cô từ giã ba má, từ biệt xóm làng, bà con để lên Sài Gòn trọ học.

Một ngày nọ nơi sân trường đại học Văn khoa, một nam sinh viên năm thứ ba ban Sử Địa ngập ngừng hỏi thăm cô tân sinh viên ban Việt văn đang ngồi đọc sách ở hành lang giảng đường trong giờ nghỉ trưa :

– Xin lỗi, tôi muốn hỏi thăm…

Cô gái ngẩng lên, hơi ngỡ ngàng:

– Chào anh… anh muốn hỏi chi?

– Xin lỗi… tôi muốn hỏi… cô có phải là… là Huyên, trước kia ở làng Đồi…

Cô gái mở lớn đôi mắt nhìn chàng trai đứng trước mặt mình để tìm những nét thân quen. Cô đứng lên, lúng túng:

– Anh… anh Nam đó phải không?

Chàng trai nở một nụ cười:

– Đúng rồi. Cảm ơn Huyên vẫn nhận ra tôi. Tôi thật không ngờ có ngày gặp Huyên…

– Nhưng làm sao anh có thể nhận ra Huyên kia chớ?

– Huyên thay đổi nhiều lắm. Nhưng tôi vẫn nhận ra Huyên nhờ… nhờ cái sẹo nhỏ trên trán Huyên kìa…

Kỷ niệm buổi chiều lộng gió trên đồi cỏ năm xưa trở về với Huyên. Hình ảnh cây khế ngọt trĩu trái trở về với Nam. Dĩ vãng vụt sống dậy, trở thành hiện tại, hòa nhập vào hiện tại.

Ngay buổi trưa hôm ấy, họ đã đi bên nhau dưới bóng mát của tàn cây cổ thụ trong sân trường mà ôn lại chuyện ngày xưa.

– Tuổi thơ chúng ta có những kỷ niệm thật khó quên – Nam nói – Ngày ấy có biết bao chuyện vui buồn, nhưng câu chuyện trên đồi cỏ cứ làm tôi day dứt mãi. Huyên à… Huyên có còn trách giận tôi chuyện buổi chiều hôm ấy không? Huyên hãy cho tôi biết, rất thật lòng nghe Huyên?

Câu hỏi của Nam khiến Huyên bất ngờ. Chuyện xảy ra vào buổi chiều trên đồi cỏ năm nào, mỗi khi soi gương nhìn thấy vết sẹo nhỏ trên trán, Huyên vẫn nhớ. Nhưng trong lòng cô thì không bao giờ cô còn trách giận gì Nam. Tình cảm ấy đã không hiện hữu trong cô từ lâu lắm rồi. Thế mới biết – Huyên thầm nghĩ – Có những chuyện mình chỉ cho là bình thường nhưng đối với một người khác lại có thể là quan trọng đến mức khiến người ấy phải day dứt. Nghĩ vậy, Huyên không nén nổi tiếng cười:

– Thì ra bấy lâu nay anh vẫn nghĩ rằng Huyên giận anh à? Nghĩa là trong suy nghĩ của anh, Huyên là một cô bé giận dai lắm phải không?

Nam chưa tin là Huyên không hề giận mình. Anh tiếp tục phân bua:

– Hôm ấy, tôi muốn khoe với Huyên con diều tôi mới dán và cột bằng cuộn nhợ ba tôi mới mua cho. Tôi thích được khoe con diều bay cao của mình. Cho tới bây giờ, ước muốn được sống cuộc đời tung hoành, khám phá, vươn cao mãi như con diều vẫn còn nằm trong lòng tôi. Trong khi đó thì Huyên lại thích kể chuyện cổ tích. Không biết bây giờ, Huyên có còn thích đi tìm vẻ đẹp cuộc sống trong những câu chuyện cổ hay không? Có điều lớn lên, tôi mới phát hiện ra rằng ý thích của tôi và Huyên chẳng hề mâu thuẫn nhau. Cả hai đều muốn vươn lên, hướng tới. Vậy mà… vậy mà chúng ta đã cãi nhau, thách thức nhau rồi… giận nhau…

– Vậy mà đã hơn mười năm, anh Nam nhỉ?

– Thời gian đi nhanh quá…

Nam kể chuyện gia đình mình. Rời khỏi làng Đồi, ông bà Sáu Thành về tỉnh lỵ mua một căn nhà nhỏ có mặt tiền quay ra nhà lồng chợ Biên Hòa để dễ làm ăn. Việc kinh doanh thuận lợi, phần do địa điểm tốt, phần do sự ngọt ngào và chiều khách của bà Sáu. Vài năm sau, căn phố được cơi thêm lầu, sửa sang tầng trệt khang trang hơn. Hảo thi rớt trường công phải học tư thục đến khi thi đậu trung học đệ nhất cấp mới trúng tuyển vào đệ tam trường công. Nhưng Hảo chỉ học được nửa năm thì phải nghỉ ở nhà vì thường xuyên đau ốm. Từ đó, Hảo bỏ học luôn để ở nhà vừa dưỡng bệnh, vừa phụ má buôn bán. Cuộc sống tình cảm của Hảo cũng chẳng được vui. Đã có mấy đám có ý định tiến tới nhưng cuối cùng lại rút lui vì ngại tình trạng sức khỏe của người con gái không đảm bảo cuộc sống hạnh phúc gia đình tương lai. Hảo đau khổ, trở thành một cô gái khó tính và mọi người đều cảm nhận rằng sau đó, cô đã chọn việc tính toán lời lỗ một cách chi ly trong kinh doanh như một niềm vui cho riêng mình. Hảo trở thành “thần giữ của” trong gia đình Nam với cả hai nghĩa tốt và xấu. Ông Sáu Thành sau nhiều năm lao vào việc buôn bán lọc lừa không thích hợp với bản tính, càng ngày càng tỏ vẻ yếm thế. Vào dịp Nam lên đại học, Hảo đã quán xuyến được việc nhà thay má, ông Sáu thường đi đây đi đó làm việc chùa chiền. Cuối cùng, ông xin làm công quả và ở luôn trong một ngôi chùa tại Vũng Tàu.

– Còn anh, vì sao anh lại học Văn khoa, lại học ban Sử Địa?

Huyên tò mò hỏi Nam. Nam cười vẻ ngượng ngập trước khi đáp:

– Thì tôi cũng giống như nhiều người khác, ghi tên thi đủ thứ trường như Y, Dược, Kiến trúc, Nông lâm súc… Nhưng, mình học dở nên chẳng đậu được trường nào. Vậy là đành phải ghi danh tự do vào một trong các trường Khoa học, Luật khoa hay Văn khoa. Tôi chọn Văn khoa vì lý do khá buồn cười nhưng rất thực tế: nhà người quen mà tôi ở trọ gần khu vực trường Văn khoa hơn cả!

– Chẳng lẽ lại đơn giản như thế?

– Đúng như thế! Nhiều khi người ta chọn lựa một cái gì đó đâu phải là vì lý tưởng, vì ước muốn mà chỉ bởi một điều kiện trước mắt. Trong một số trường hợp, diễn biến sau đó tốt đẹp, người ta bảo là mình gặp may mắn. Một số trường hợp khác gặp điều bất như ý, người ta than thở là mình phải chịu đựng bi kịch.

– Và bi kịch đang đến với anh đó chớ?

– Không! Tôi rơi vào trường hợp gặp may! Sau năm dự bị học hành chưa hào hứng lắm, bước vào học các chứng chỉ, tôi đâm ra mê sử địa thật. Tôi hy vọng sự say mê đó không mất khi tôi tốt nghiệp cử nhân. Khi đó, chắc chắn tôi sẽ tiếp tục theo một chương trình cao học.

– Con diều của anh bay cao quá! Nhưng… để làm gì?

– Để làm gì ư? – Đột nhiên Nam nhìn thẳng vào mắt Huyên – Chẳng hạn để cùng Huyên tìm hiểu sâu hơn ý nghĩa những câu chuyện cổ tích có được không?

Huyên nóng bừng nơi tai. Cô lườm Nam:

– Anh “ghê” lắm đó!

Kỷ niệm thuở nhỏ, những buổi học thường gặp nhau trên sân trường, những lần ngồi bên nhau dưới bóng cây rợp mát trong thảo cầm viên, những buổi chiều sóng bước trên đường phố Sài Gòn, những khi vừa ra khỏi cổng nhà học sinh mình dạy kèm, Huyên đã thấy Nam đợi sẵn… Tất cả đã là mạch nước ngọt lành, là miếng đất phù sa cho cây tình yêu nẩy nở.

Mùa giáng sinh năm học cuối bậc cử nhân của Huyên ở trường Văn khoa, Nam rào đón mãi mới ngỏ được ý mình cùng người yêu:

– Cuối năm nay anh sẽ trình tiểu luận cao học, còn em thì cũng vừa lấy xong bằng cử nhân. Anh nghĩ là mình có chuẩn bị mọi mặt ngay từ bây giờ cũng không còn sớm sủa gì. Huyên à, lâu nay, mình vẫn chưa dám cho gia đình hai bên biết chuyện tình cảm của hai đứa. Tình trạng này đã đến lúc phải chấm dứt. Anh có ý thế này. Cuối tuần này, anh sẽ đưa em về nhà anh chơi một lát rồi đi thăm hai bác ở làng Đồi. Hai đứa sẽ thưa chuyện với người lớn… Em nghĩ thế nào?

Lòng Huyên tràn ngập hạnh phúc, hy vọng. Cô nắm tay người yêu:

– Em bằng lòng, nhưng với một điều kiện!

– Điều kiện gì? Em nói đi?

– Điều kiện là: về làng Đồi, em sẽ kể cho anh nghe câu chuyện cổ tích “Ăn khế trả vàng” để đòi lại anh món nợ ngày xưa nhưng ngược lại, anh không được từ chối để đi… thả diều! Được không?

Nam cười ý nhị:

– Anh đã gửi em giữ dùm con diều của mình rồi!

Nhà Nam sang trọng hơn Huyên nghĩ. Căn phố ngoài tầng trệt còn có hai tầng lầu. Tầng trệt là nơi buôn bán văn phòng phẩm và đồ mỹ nghệ như gốm, tranh sơn mài, tượng gỗ…

Một phụ nữ mập mạp, vẻ mặt phúc hậu ngồi sau quầy hàng vừa trông thấy Nam đã lên tiếng:

– Cậu Ba mới về!

– Chào dì Mười. Mạnh giỏi không dì? Má tôi và chị Hảo đâu cả rồi?

– Dạ, bà mới lên lầu chút xíu thì cậu Ba về. Còn cô Hảo đi ra nhà thuốc tây mua thuốc.

Nam giới thiệu với Huyên:

– Đây là dì Mười giúp việc buôn bán trong gia đình anh. Còn đây là Huyên, bạn thân của tôi đó dì Mười à.

Người đàn bà cười rất tươi. Bà ta gật đầu chào đáp tiếng chào của Huyên. Rồi bà ta nói với cậu chủ:

– Chèng ơi! Cậu Ba bí mật dữ hôn! Tới bữa nay mới chịu giới thiệu với tôi… mợ Ba!

Nam kéo tay Huyên vào nhà. Cả hai cùng không tránh khỏi ngượng ngùng trước cách xưng hô của người đàn bà giúp việc.

Một chút xíu sau, họ đã đứng trước cửa văn phòng nhìn ra nhà lồng chợ ở tầng một. Nam nói nhỏ với Huyên:

– Phòng này là phòng của ba má anh hồi trước. Nay chỉ còn má anh ở. Phòng sau lưng đây là của chị Hảo. Phòng riêng của anh thì ở lầu hai, nhìn ra cái sân thượng nhỏ…

– Em hồi hộp quá!

– Bình tĩnh đi mà, anh gọi cửa má đây!

Mười mấy năm kể từ khi xảy ra chuyện không may ở làng Đồi, Huyên mới gặp lại bà Sáu Thành. Trước mặt cô là một phụ nữ già hơn số tuổi xấp xỉ năm mươi của mình, nét mặt không vui. Bỗng nhiên, sự lạc quan hồn nhiên của Huyên biến mất, thay vào đó là mối lo vu vơ.

Huyên chào bà Sáu Thành:

– Con chào thím!

Bà Sáu Thành bỏ tờ báo đang đọc xuống bàn, gỡ mắt kính đặt lên tờ báo rồi nhướng mắt nhìn cô gái. Bà gật đầu chào lại Huyên:

– Chào cháu! – Người mẹ nói với con trai – Nam về đó hả con? Ở trển có được mạnh không con?

– Dạ thưa má con mới về. Mọi việc tốt đẹp cả má à. Thưa má, đây là Huyên, bạn con.

– Huyên? Cháu tên là Huyên? Cái tên nghe là lạ. Như là thím có nghe tên cháu lần nào rồi…

– Dạ thưa má, Huyên là con gái bác Hai Đương, cháu ông Mười Đờn là hàng xóm gia đình mình ở làng Đồi ngày xưa đó má… Má nhớ ra chưa má?

Bà Sáu Thành nhíu mày suy nghĩ trong lúc nhìn Huyên kỹ hơn. Huyên bối rối, cảm nhận rằng cùng với ánh mắt ấy, dĩ vãng đang trở lại trong trí nhớ của bà. Bà gật gù, thái độ vẫn chưa rõ ra sao:

– Má nhớ rồi! Con nhỏ Huyên ưa ẵm em chơi dưới gốc khế hồi đó…

Nam chưa biết nói gì thêm vì tới lúc này chính anh cũng thấy hồi hộp. Còn Huyên thì như một kẻ tội phạm đang chờ lời phán xử. Bà Sáu Thành đứng lên, nắm tay cô gái dẫn tới bên bàn tiếp khách:

– Ngồi xuống chơi đi cháu! Thím Sáu lớn tuổi rồi, trí nhớ không còn tốt như xưa nữa. Nói cho thím Sáu nghe coi nào! Anh chị Hai có được khỏe không? Ngồi đi, ngồi xuống đi cháu… Chao ơi! Bay lớn xộn hết rồi…

Nam nháy mắt với Huyên. Có lẽ điều lo sợ của cả hai về tình cảm của bà Sáu Thành với cô bé Huyên ngày xưa chỉ là điều lo lắng quá đáng. Huyên ngồi xuống ghế, đáp lời:

– Thưa thím Sáu, má cháu vẫn khỏe. Nhưng ba cháu thì bệnh rề rề. Ba cháu bị đau bao tử…

– Ờ! Người lớn, không bệnh này thì cũng bệnh kia thôi. Còn ông Mười? Nội cháu ra sao rồi?

– Dạ, nội cháu đã mất…

– Thím Sáu lẩm cẩm mất rồi. Hồi gia đình thím còn ở làng Đồi, nội cháu đã trọng tuổi lắm rồi mà…

– Thưa thím Sáu, gia đình cháu ở xa lại ít có việc đi lại trên tỉnh nên không biết tin tức gì về gia đình thím Sáu. Nhưng ba má cháu vẫn thường nhắc tới chú thím Sáu luôn…

Nam có vẻ đã yên tâm, góp chuyện:

– Má à, Huyên học chung trường đại học với con đó má. Cuối năm nay, Huyên sẽ tốt nghiệp cử nhân ban Việt văn.

– Vậy hả? Cháu giỏi lắm, Huyên à. Con gái thời nay cũng nên học hành kha khá một chút còn góp mặt với đời. Nhưng mà Nam nè, nghe má hỏi, con nói hai đứa học chung trường mà tụi bay gặp lại nhau hồi nào?

– Dạ… con xin lỗi má… thưa má, bữa nay con đưa Huyên tới thăm má và cũng để…

– Con nói vậy má tự hiểu rồi. Thôi, bỏ qua chuyện đó đã. Bây giờ má tính thế này. Trưa nay, con nhỏ Huyên ở lại cơm nước với gia đình mình. Má sẽ xuống coi hàng cho bà Mười đi chợ làm bữa. Con đưa Huyên lên phòng mà trò chuyện cho được tự nhiên…

Nam không giấu được nỗi vui:

– Con cảm ơn má…

Huyên đứng lên:

– Cháu xin phép thím.

Sự việc xảy ra sau đó hoàn toàn bất ngờ.

Vừa rời phòng bà Sáu Thành, Huyên và Nam gặp Hảo đang lên thang lầu. Nam vội chào chị và giới thiệu:

– Đây là Huyên, con gái bác Hai Đương…

Hảo, người dong dỏng cao, gương mặt xương, không xấu nhưng da dẻ xanh xao. Cô nhìn Huyên từ đầu xuống chân không cần giữ lịch sự. Bàn tay cầm hộp thuốc tây của Hảo run run. Nước da cô tái hơn. Cái khoảng thời gian im lặng ngắn ngủi giữa ba người tưởng chừng dài vô tận. Huyên nén lo, nén cả sự bực bội của mình trước thái độ bất nhã của Hảo:

– Chào chị Hảo! Chị còn nhớ em không?

– Chào cô Huyên! Tôi nhớ chứ, dù đã mười mấy năm qua rồi! – Giọng Hảo đột nhiên như bị hụt hơi, giọng của một người đang xúc động mạnh – Tôi… tôi tưởng rằng sẽ không bao giờ cô còn đặt chân tới nhà tôi nữa chớ!

Nam tái mặt:

– Kìa! Chị Hảo…

Cửa phòng bà Sáu Thành mở ra. Người mẹ bảo con gái:

– Hảo à! Huyên nó đang là khách của em con.

– Nhưng ngày xưa nó đã làm cho ba phải vô tù, má đã quên rồi hay sao?

Hảo nói như thét rồi mở cửa phòng mình đi vào. Liền đó, cánh cửa đóng sập lại.

Bà Sáu ái ngại bảo Huyên:

– Huyên à, cháu đừng để ý lắm đến con Hảo. Nó bệnh hoạn hoài nên lúc nào cũng dễ cáu gắt, cháu thông cảm. Ở nhà này, thím Sáu là chủ. Cháu cứ lên chơi với thằng Nam, đừng ngại nghe chưa!

Huyên nuốt khan mà nói:

– Cháu xin nghe lời thím. Thím cứ yên tâm vào phòng nghỉ ngơi đi…

Nói vậy, nhưng khi bà Sáu khép cửa, và khi Nam nắm tay dẫn lên thang lầu thì Huyên đứng lại. Cô nói với Nam, giọng bình thản đến không ngờ:

– Anh cho em về!

Nam đau khổ:

– Em đừng làm khổ anh mà, Huyên!

– Em chẳng sung sướng gì. Nếu anh không đưa em ra bến xe thì em sẽ đi bộ vậy.

Thái độ cương quyết của Huyên càng khiến Nam bối rối:

– Nhưng… nhưng ít ra em cũng lên phòng anh nghe anh nói đôi điều đã chớ…

– Em nghĩ việc ấy không cần thiết, ít ra là vào lúc này. Anh Nam à, anh chiều em đi mà, anh đưa em ra bến xe rồi trở về xin lỗi thím Sáu giùm em…

Đêm hôm ấy ở làng Đồi, Huyên đã âm thầm khóc. Cả buổi trưa tới buổi chiều, mấy lần cô muốn kể cho má nghe chuyện xảy ra hồi sáng ở nhà Nam để tìm nơi má một lời an ủi, một lời khuyên. Vậy nhưng cô không đủ can đảm nói ra.

Trằn trọc mãi không ngủ được, Huyên thức dậy châm đèn ngồi viết thư cho Nam. Mấy lần, mấy tờ giấy pơluya trắng cũng chỉ ghi được vài dòng chữ dở dang. Cuối cùng, Huyên đành phải đốt đi những lá thư không viết nổi ấy. Ngọn lửa bùng lên như nỗi đau. Nhưng ngọn lửa bùng lên rồi tắt, còn nỗi đau cứ âm ỉ trong lòng.

Từ đây, Huyên biết là tình yêu của cô và Nam sẽ lại giống như câu chuyện cổ tích “Ăn khế trả vàng” ngày nào, chẳng biết đến bao giờ cô mới có dịp kể cho Nam nghe để hỏi anh ước gì nơi chim thần…

K.V (mời xem tiếp kỳ 4)

Nguồn: bongtram.vnweblogs.com

Thẻ:

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống