Home » Truyện người lớn » NHỮNG NGƯỜI NUÔI LỬA – tiểu thuyết Khôi Vũ (Kỳ 2)

PHẦN THỨ HAI

1.

 Nước trong còn ở nguồn xanh
Trà thơm còn đợi chung sành mới thơm.

Tuổi thơ của Huyên và Nam gắn liền với những đồi cỏ, con suối Cát, những cơn gió chiều và một cây khế ngọt. Đồi cỏ, dòng suối và gió chiều là không gian làng Đồi, nơi ông cố của Huyên lưu lạc đến lập nghiệp, sinh con đẻ cháu tới đời cô là đời thứ tư, từ cách nay ngót trăm năm.

Đất nơi đây lượn sóng nên đồi. Rừng bị đẩy ra xa từ lâu và cỏ phủ kín những nơi không trồng cấy. Những buổi chiều, gió từ dòng sông Đồng Nai không xa ùa về những đồi cỏ. Con suối Cát len lách dưới chân đồi Lửa, qua chân đồi Chúa rồi tìm về sông mẹ tận cuối địa giới làng. Cây khế ngọt của Huyên có sự tích riêng. Theo lời ba má cô kể lại thì cô bé Huyên sinh ra vào một buổi hoàng hôn trong gian nhà vách đất lợp tranh do chính tay ông nội và ba cô dựng nên. Bà mụ vườn đã chôn nhau đứa trẻ sơ sinh ở một góc sân trước. Chính tại nơi đó, ông nội cô bé đã trồng lên một cây khế ngọt.

Gia đình Nam gốc gác miền tây đến đây sang lại miếng đất cạnh nhà Huyên rồi dựng lên ba gian nhà ngói, vách tường xây quét vôi vàng đẹp nhất làng Đồi ngày ấy. Đó là một gia đình khá giả muốn xây dựng cơ ngơi ở xa thành phố chuẩn bị lúc điền viên. Họ thuê mướn nhân công làm ruộng vườn. Cứ mỗi buổi sáng, ông Sáu Thành – ba của Nam – chở bà Sáu trên chiếc xe gắn mày hiệu Môbilét màu xanh lên chợ tỉnh buôn bán rồi quay trở lại làng Đồi vừa kịp cắt đặt công việc cho nhân công. Buổi chiều, ông Sáu lại chạy xe đi đón vợ về. Ông bà Sáu có hai người con, đứa lớn là Hảo, con gái, và đứa nhỏ là Nam, con trai. Về làng Đồi, chị em Hảo, Nam đi học trường thầy giáo Bảy Tín giống như tất cả những đứa trẻ có điều kiện đi học ở đây.

Ngày ấy, ở một miền quê hẻo lánh như làng Đồi, có một thầy giáo chịu đến dạy học như thầy Bảy Tín là một điều vui mừng cho cả làng. Thầy Bảy Tín năm ấy đã gần sáu mươi, độc thân. Người biết chuyện kể lại rằng ngày trước, thầy Bảy Tín từng đậu bằng Thành chung, lưu lạc nhiều nơi, dạy học nhiều trường, kể cả trường trung học. Tới làng Đồi từ một dịp tình cờ, thấy tình trạng trẻ con thất học ở đây, thầy quyết định ở lại để mở một trường học nhỏ. Thầy nói với các ông Ban hương chức đình làng: “Tôi đã bôn ba khắp nơi, nay quyết chọn nơi đây để dừng chân. Tôi sẽ đem chữ nghĩa và đạo lý thánh hiền dạy dỗ bày con trẻ, mong sao chúng lớn lên thành người hữu dụng. Ngược lại, tôi chỉ xin bà con trong làng, một mai khi tôi nằm xuống, lo giúp tôi một nơi yên nghỉ”. Cả làng Đồi đón nhận thầy Bảy Tín với lòng kính trọng. Mọi người góp công, góp của dựng cho thầy một ngôi trường vách ván, lợp lá, ngăn một phòng nhỏ làm nơi thầy trú ngụ. Trường của thầy Bảy Tín dạy đủ các lớp ở bậc tiểu học tùy theo trình độ của từng học sinh. Thầy chỉ dạy buổi sáng, nghỉ buổi chiều. Chiều về, thầy thường đi đây đi đó trong làng cho thư thả, có khi ra đình làng giúp ông từ làm cỏ, quét dọn hoặc ghé thăm một ông hương chức cùng đàm đạo chuyện đời, chuyện làng. Cũng đôi khi thầy Bảy Tín ghé nhà Huyên, gặp ông Mười Đờn, nội của cô bé, nghe ông đờn ca hoặc góp ý sửa sang lời một bài ca do ông Mười Đờn mới sáng tác.

Ngày ấy, chị em Hảo, Nam cùng học lớp ba. Huyên nhỏ tuổi hơn, học lớp tư.

Buổi chiều không đến trường, Huyên ở nhà vừa học bài vừa trông nom bé Hiếu cho ba má lo hai công vườn sau nhà cùng năm công ruộng dưới chân đồi Lửa. Nội Huyên, ông Mười Đờn thường đi đờn đám xá hoặc ngồi trên bộ ván gõ trong nhà soạn bài ca mới, chỉ khi rảnh rang mới thơ thẩn ngoài vườn tỉa nhánh, bắt sâu hoặc ra trước sân chơi với hai đứa cháu. Bé Hiếu nhõng nhẽo, hay khóc giận và thường làm cho Huyên bị rầy oan. Hai chị em cách nhau bốn tuổi, lại là trai gái nên không thể chơi chung một trò chơi. Cô bé bảy tuổi ngày ấy thường dỗ em bằng cách đứng dưới gốc khế khều trái chín đem rửa sạch, cho bé Hiếu ăn, còn mình thì cắt khế thành từng khoanh mỏng có hình ngôi sao chơi đồ hàng một mình.

Huyên rất thích được làm quen với Hảo. Nhà chỉ cách nhau cái hàng rào dựng lấy lệ, lại cùng là gái, chơi chung với nhau thì quá tuyệt. Nhưng mấy lần làm quen, Huyên đều phải thất vọng. Hảo kênh kiệu, chê Huyên là con nhà nghèo, không đáng để Hảo kết bạn.

Hôm ấy, cô bé Huyên phải loay hoay mãi với một trái khế trên cây. Cô bé kiễng chân, vươn cánh tay nhỏ bé và yếu ớt của mình cầm đoạn tre cố thu ngắn cái khoảng cách chỉ hơn một gang tay tới trái khế chín. Nhưng cái khoảng cách ấy vẫn cứ thách thức cô bé.

Đứng bên kia hàng rào, cậu bé Nam trông thấy. Không đành lòng để mặc cô bé hàng xóm, cậu bé lên tiếng:

– Để tao qua hái cho!

Nam không cần dùng đoạn tre đập khế mà cậu bé leo thẳng lên cây, hái từng trái khế chín ném xuống cho chị em Huyên. Bé Hiếu thích chí cười vang còn cô bé Huyên thì chỉ biết tròn mắt thán phục.

Mối quan hệ láng giềng giữa ông bà Hai Đương, ba má Huyên, và ông bà Sáu Thành cũng mau chóng trở thành thân thiết. Những người lớn từng có nhiều đêm ngồi uống trà ngắm trăng, nói chuyện đời với nhau. Có lần, ông Mười Đờn ngồi đờn ca ngoài sân, những người còn lại trong hai gia đình xúm quanh làm khán giả. Thỉnh thoảng, ông Sáu có việc phải lên tỉnh cả ngày, ông nội Huyên sẵn sàng ngó chừng giùm nhà cửa và má Huyên giúp lo cơm nước cho hai chị em Hảo, Nam. Có lúc vui miệng, ông Mười Đờn gọi Nam: “Lại đây nội biểu coi, cháu rể!”. Sự thân thiết, nếu còn một chút gì gờn gợn thì đó là sự phân biệt giàu nghèo đôi khi còn lộ ra trong cách cư xử của bà Sáu Thành và đôi câu nói của Hảo. Dù sao, mọi người vẫn nghĩ rằng thời gian sẽ xóa dần đi những vết gợn khó tránh ấy.

Ngày ấy làng Đồi chưa đông dân lắm. Nhà cửa tập trung ở hai ngọn đồi Chúa và đồi Lửa. Người ta làm ruộng dưới chân đồi, ven con suối Cát. Cây mía được trồng ở vùng này từ thuở mới khai hoang đến nay vẫn được chọn là giống cây trồng chính trong làng, sau cây lúa, phủ kín mấy ngọn đồi. Con suối Cát nước dâng cao và chảy như thác lũ vào những ngày mưa lớn, qua mùa nắng lại cạn khô trơ lòng suối đầy cát lấp lánh ánh nắng trời. Nhưng tuyệt vời hơn cả là trong số hai mươi mốt ngọn đồi, trừ đồi Oan Trái phủ kín cây rừng mà đứa trẻ nào cũng sợ “ma bà Huỳnh” không dám bén mảng tới, trừ đồi Chúa, đồi Lửa, những đồi mía và một ngọn đồi là nơi an nghỉ của những người đã khuất trong làng, người ta vẫn dành ra mấy ngọn đồi cỏ để chăn thả trâu bò. Đó cũng là nơi mà lũ trẻ trạc tuổi Huyên, Nam chọn làm chỗ vui chơi. Những buổi chiều, gió sông thổi về đồi cỏ dường như còn chở theo cả những bài hát của thiên nhiên mà chỉ có những đứa trẻ trong lứa tuổi hồn nhiên mới cảm nhận được.

Trên đồi cỏ, Huyên thường kể lại cho Nam nghe những câu chuyện cổ tích mà cô bé nhớ thuộc lòng sau khi nghe nội kể đêm đêm.

Một buổi chiều lộng gió không thể nào quên…

Huyên ẵm bé Hiếu cùng Nam ra đồi cỏ chơi. Cô bé định sẽ kể cho Nam nghe chuyện cổ tích “Ăn khế trả vàng” mà nội mới kể cho nghe tối hôm trước. Cô bé cũng định sẽ bắt chước nội để hỏi Nam, xem Nam có trả lời giống mình đã trả lời nội hay không?

– Con có thích gặp chim thần không?

– Thích chớ nội! Nhưng chim thần có về ăn khế của con hay không hả nội?

– Nếu con học giỏi và ngoan ngoãn thì chim thần sẽ về ăn khế của con.

– Con học giỏi mà nội! Con ngoan mà nội!

– Ờ… nội biết rồi. Vậy nội hỏi con, nếu chim thần về ăn khế, rồi chim thần chở con đi lấy vàng, chớ con có dám leo lên lưng chim thần cho nó chở đi không?

– Dám chớ nội! Nhưng mà… con không đi lấy vàng đâu.

– Lạ chưa! Vậy chớ con thích được gì?

– Con thích được chim thần chở con lượn một vòng quanh làng mình để con ngắm dòng sông nè, ngắm con suối nè, ngắm đình làng nè, ngắm nhà mình, ngắm cây khế của con…rồi…con ngắm nội ngồi đờn nữa.

– Con giỏi lắm! Nội tin chắc là thế nào rồi chim thần cũng về ăn khế của con cho con coi.

Huyên cũng tin vào lời đoán của nội. Cô bé náo nức chờ xem Nam sẽ ước gì nơi chim thần. Nhưng…

Huyên ngỏ lời:

– Nam nè, bữa nay Huyên sẽ kể cho Nam nghe câu chuyện cổ tích…

Nam không để Huyên nói hết. Cậu bé chỉ vào con diều giấy mới dán cầm trên tay:

– Thôi, để bữa khác sẽ kể. Bữa nay, chị em mày coi tao thả diều. Đây nè, cuộn nhợ này ba tao mới mua cho tao đó. Dài lắm. Lát nữa mày sẽ thấy diều của tao bay cao nhất…

– Nhưng Huyên muốn kể chuyện, chuyện này là…

– Đã nói tao không muốn nghe mà. Tao thích thả diều.

– Nếu vậy thì… Huyên không thèm coi thả diều. Huyên… Huyên về cho coi!

Nam hơi tròn mắt. Nhưng sau đó, nghĩ rằng Huyên chỉ dọa, cậu bé cười thách thức:

– Thì mày cứ về đi!

Đến lượt Huyên ngạc nhiên. Trong tưởng tượng của cô bé thì Nam sẽ nhượng bộ mình như bao lần khác. Không ngờ, Nam lại đuổi Huyên về. Kìa! Nam lại hỏi như trêu tức Huyên:

– Sao mày chưa về đi?

Huyên giận, mặt tái đi. Cô bé tức tốc ẵm bé Hiếu rồi bỏ chạy xuống đồi. Đôi chân Huyên băng trên cỏ, nhói đau khi giẫm phải một viên đá. Mặc, cô bé vẫn đi như chạy. Huyên giận Nam lắm mà…

Chợt, một khúc cây nằm ngang đường làm cho Huyên vấp té. Bé Hiếu bị văng qua một bên, òa lên khóc.

Nam đứng như chôn chân một chỗ chứng kiến sự việc không ngờ. Thấy Huyên té, cậu bé ân hận chạy lại. Bé Hiếu không bị trầy trụa gì nhưng nơi trán Huyên thì có một vết thương nhỏ đang rỉ máu. Nam lúng búng nói:

– Để tao chùi máu cho. Rồi… rồi tao sẽ ngồi nghe mày kể chuyện vậy…

Cô bé Huyên đã thắng cuộc nhưng làm sao có thể hết giận ngay được. Cô bé chu môi “xí” một tiếng đanh đá rồi ẵm Hiếu tiếp tục xuống đồi, chẳng thèm chùi vết máu trên trán. Cậu bé Nam gọi theo, đành thất vọng đứng lại một mình với con diều mới trong tay trong khi những ngọn gió ào từ phía dòng sông về đồi cỏ. Cậu bé bực tức xé nát con diều.

* * *

Một đêm khuya sau ngày ấy không lâu, khi Huyên còn chưa hết giận Nam, lại có chuyện bất thường xảy ra. Nửa đêm chợt có nhiều tiếng động sau vườn nhà Nam. Ông Sáu Thành thức dậy, soi đèn và bắt gặp mấy người lạ mặt trong vườn nhà mình. Ông vừa tri hô lên một tiếng thì đã bị một người trong bọn bịt miệng. Nhưng những người lạ không làm hại ông. Họ trình bày hoàn cảnh và đề nghị được ông giúp đỡ. Suy tính thiệt hơn, ông Sáu nhận lời và đưa họ vào nhà.

Bên nhà Huyên, nghe tiếng tri hô của người hàng xóm, ông Hai Đương tức tốc soi đèn qua giúp đỡ. Khi ấy chủ khách đã vào nhà.

Huyên ngủ với nội, thức giấc đòi đi theo ba. Ông Mười Đờn bảo cô bé:

– Chuyện người lớn để người lớn lo. Con ngủ đi!

Huyên vờ ngủ rồi thừa lúc nội cũng thiu thiu, cô bé lén tụt xuống giường ra khỏi nhà, vạch rào sang nhà Nam. Cô bé thấy bà Sáu Thành đang làm gà nấu cháo, còn ba mình và ông Sáu thì tiếp khách ở nhà trên. Ông Hai Đương bảo con:

– Về nhà ngủ đi con!

Ông Mười Đờn cũng vừa qua tới. Cô bé đành phải theo nội về nhà. Nằm bên nội, cô bé co tôm, lòng ấm ức. Lâu lắm, giấc ngủ mới trở lại với cô bé.

Sáng hôm sau, ông Sáu Thành vừa dẫn chiếc Môbilét xanh ra khỏi cửa định chở vợ lên tỉnh như mọi ngày thì có khách. Đó là ông trưởng ấp đi cùng một toán hỗn hợp vừa lính, vừa cảnh sát trên một chiếc xe díp. Có lẽ trước khi đến nhà ông Sáu Thành, họ đã ghé qua một số nhà khác trong làng. Họ đậu xe trước cổng rồi vào, yêu cầu khám nhà.

Trong lúc đám đông tỏa khắp nơi tìm kiếm gì đó thì một người cảnh sát râu rìa hỏi chị em Nam:

– Tối qua nhà mình có khách phải không hai cháu?

Nam chưa kịp trả lời thì Hảo đã đáp trước:

– Dạ đâu có!

– À… chú muốn hỏi là… là tối qua có người kiếm ba má cháu phải không? Cháu trai?

Hảo liếc mắt và Nam hiểu ý. Cậu bé lắc đầu:

– Dạ không!

Toán người khám xét trong nhà xong, thưa trình với người cảnh sát râu rìa và ông trưởng ấp. Họ chào chủ nhà rồi kéo qua khám xét nhà Huyên.

Vẫn là người cảnh sát để râu hỏi Huyên:

– Tối qua nhà mình có khách phải không cháu gái?

Huyên lắc đầu:

– Nhà con đâu có khách.

– Vậy sao hai đứa nhỏ nhà bên kia nói có?

Cô bé Huyên mới bảy tuổi đầu làm sao có thể biết được đó là một câu hỏi bẫy. Cô bé đỏ mặt vì tức giận liền trả lời không đắn  đo:

– Tụi nó nói láo đó chú ơi! Nhà tụi nó có khách thì có. Má tụi nó còn nấu cháo gà cho khách ăn nữa đó chú!

Ánh mắt của người cảnh sát râu rìa lóe lên sự thích thú. Ông ta nựng cằm Huyên:

– Cháu gái giỏi lắm!

Rồi ông ta lập tức trở lại nhà Nam, ra lệnh cho lính của mình:

– Giữ ông chủ nhà lại!

Ông Sáu Thành bị giữ lại cùng chiếc Môbilét xanh trước cổng nhà mình.

Ở bên này, ba Huyên ngồi thụp xuống, ôm lấy con gái, nét mặt ông vừa đau khổ vừa sợ hãi. Ông nói với Huyên:

– Con có biết là con hại bác Sáu rồi không Huyên? Mà không chừng chút xíu họ còn qua đây bắt cả ba con nữa nè con ơi là con!

Má Huyên nắm tay cô bé:

– Khổ thân! Con tôi dại quá!

Chuyện đau buồn trước mắt chưa xảy ra cho ba Huyên như ông lo lắng. Cả nhà Huyên đứng trước hiên nhà mình nhìn qua phía bên kia. Ông Sáu Thành bị trói tay đẩy lên chiếc xe díp giữa tiếng khóc lóc van nài của bà Sáu và chị em Hảo, Nam. Mấy người lính ngăn không cho người đàn bà và hai đứa trẻ sấn tới bên chiếc xe. Người cảnh sát râu rìa quát tháo:

– Tiếp tay cho phiến loạn còn kêu oan nỗi gì?

Chiếc xe díp lăn bánh. Gã râu rìa còn ném lại câu hăm dọa:

– Tù rục xương chớ chẳng!

Chiếc xe díp ném lại đám bụi mù.

Tiếp theo là những ngày tháng nặng  nề trôi…

Ông Mười Đờn và ông bà Hai Đương mừng vì gia đình mình không bị chính quyền làm khó dễ. Điều ấy có nghĩa là ông Sáu Thành rất tốt, đã không khai báo gì về sự có mặt của ông Hai Đương tối hôm đó. Nhưng thật đáng buồn vì tình cảm của những người còn lại trong gia đình Nam với gia đình Huyên có sự ngăn cách. Mấy lần, ông bà Hai Đương qua tìm bà Sáu Thành để phân bua, nhưng người đàn bà đau khổ ấy luôn tìm cách tránh mặt. Một lần, ông Mười Đờn tình cờ gặp bà Sáu giữa chợ, ông mới mở lời: “Ba má con nhỏ Huyên có nhờ tôi…” thì má Nam đã lắc đầu: “Xin bác Mười thông cảm, lúc này tôi rối trí quá. Lớp lo buôn bán trên tỉnh, lớp lo công chuyện gia đình…” Chị em Hảo, Nam đi học không rủ Huyên cùng đi nữa. Gặp nhau ở trường, Nam quay mặt đi nơi khác, còn Hảo thì mím môi, trừng mắt với Huyên. Huyên muốn khóc. Cô bé đã hiểu vì sao lại có chuyện đau lòng này. Cô bé chỉ không hiểu được là khi một người nói thật mà vô tình gieo tai họa cho người khác, thì người đó có tội hay không?

Cây khế ngọt trĩu trái chín rụng đầy sân.

Đồi cỏ tràn gió, vẫn tràn gió.

Chẳng biết đến bao giờ chim thần mới về ăn khế?

Khi ấy, Huyên sẽ không xin chim thần chở bay một vòng ngắm làng Đồi nữa. Ước mơ ấy bây giờ không cần nữa. Bây giờ, Huyên chỉ mong sao chim thần giúp cho ông Sáu Thành được tha về, những người lớn thôi giận nhau, Huyên lại được chơi thân với Nam và cả Hảo.

Chim thần chưa về, chẳng biết lúc nào về!

Nhưng ông Sáu Thành đã được thả ra. Ba tháng trong trại giam đã làm thay đổi hình dạng người đàn ông tội nghiệp ấy. Gương mặt ông tiều tụy, nước da ông xanh mướt, đôi mắt ông trĩu buồn. Ông chỉ nói cảm ơn những người lối xóm tới thăm hỏi, kể cả với ông Mười Đờn và ông bà Hai Đương.

Một buổi sáng, đợi bà Sáu Thành lên chợ tỉnh, ông Mười Đờn dẫn Huyên qua gặp ông Sáu. Làm theo lời nội dạy, Huyên vòng tay, mặt bừng đỏ, lí nhí nói với người đàn ông vừa ra tù:

– Con xin lỗi bác Sáu! Bác Sáu đừng giận con mà tội nghiệp con nghen bác Sáu!

Nói vừa hết câu, Huyên òa lên khóc. Cô bé thấy ông Sáu Thành đặt một bàn tay lên đầu mình, xoa xoa mái tóc. Rồi ông kéo Huyên, ôm cô bé vào lòng. Một lúc sau, ông mới thôi im lặng và nói với Huyên:

– Thôi, con nín đi. Bác Sáu có giận con bao giờ đâu nè! Tất cả chỉ là số phận mà thôi! Phải! Tất cả chỉ là số phận…

Số phận ư? Số phận là gì? Huyên không hiểu gì cả. Cô bé nhìn ông Sáu Thành qua màn nước mắt và cô bé thấy ông đang ứa lệ.

Một tuần lễ sau, một chiếc xe tải lớn đến đậu trước sân ngôi nhà ngói ba gian, những người khuân vác mướn chuyển hết đồ đạc trong nhà ra xe. Bốn người trong gia đình ông Sáu Thành leo lên buồng lái ngồi chung với tài xế, vẫy chào người chủ mới tới nhận nhà.

Bên nhà Huyên, ba người lớn đứng lặng thinh nhìn theo bóng chiếc xe tải khuất dần nơi khúc quanh dẫn về hướng đồi Chúa. Chỉ có ông Sáu Thành chào từ biệt họ bằng một cái gật đầu nhẹ.

Huyên đứng dưới gốc cây khế ngọt, nhìn những trái khế vàng mà ứa nước mắt. Gió tràn về làm cho mái tóc cô bé lòa xòa trước mặt, che vết sẹo nhỏ trên trán, kỷ niệm một buổi chiều lộng gió trên đồi cỏ.

* * *

Hơn hai mươi năm sau, dân làng Đồi đã có bao thay đổi, dẫu bao đời người đã chìm nổi mất còn khác xưa, dẫu cây khế ngọt ngày nào không còn nữa mà nó được thay thế bằng cả một vườn khế vài chục gốc, cậu bé Nam ngày ấy đã có cuộc đời riêng, cô bé Huyên ngày ấy đã có cuộc đời riêng và đã hiểu thế nào là số phận, kỷ niệm cũ vẫn còn đó, không phai mờ. Kỷ niệm ghi dấu trên trán Huyên và khắc đậm trong lòng Huyên.

Cô giáo Huyên bây giờ, người thích kể chuyện cổ tích cho học trò của mình nghe, đã rõ hơn về những người khách lạ đêm nào khi cô đọc được trong một cuốn sử địa phương, đoạn dưới đây:

“Buổi chiều một ngày đầu tháng 12 năm ấy, như thường lệ, tù chính trị ở trại giam Tân Hiệp được ra sân chơi, nghe vọng cổ phát qua loa phóng thanh. Khi kẻng gom phạm nhân vào trại vang lên, những người tù đã không tuân lệnh. Họ xông ra cổng trại giam cách đó chừng năm chục thước, diệt lính gác cổng rồi vượt trại. Một số bị bắn tại chỗ, hoặc trên đường bị truy kích. Đa số khác, thoát về vùng đồi bờ nam sông Đồng Nai, sau đó, vượt sông tìm về với những người bạn chiến đấu của mình trong khu rừng đại ngàn bờ bắc…”

K.V (mời xem tiếp kỳ 3)

Nguồn: bongtram.vnweblogs.com

Thẻ:

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống