Home » Truyện người lớn » NHỮNG NGƯỜI NUÔI LỬA – tiểu thuyết Khôi Vũ (Kỳ 1)

Tiểu thuyết “Những người nuôi lửa” của nhà văn Khôi Vũ được viết xong vào năm 2004 và được NXB Văn học ấn hành vào đầu năm 2005. Năm 2006, trong đợt xét Giải thưởng VHNT Trịnh Hoài Đức lần thứ II, UBND và Hội VHNT tỉnh Đồng Nai đã trao Giải A cho tiểu thuyết này. Nay trang văn nghệ BÔNG TRÀM xin được giới thiệu tác phẩm “Những người nuôi lửa” của nhà văn Khôi Vũ trong mục “TRUYỆN DÀI”, mời bạn đọc đón theo dõi !

LỜI KỂ CỦA CÔ GIÁO HUYÊN

Trên bức vách giữa lớp học, thầy giáo Bảy Tín kính yêu của chúng tôi dán một vuông giấy điều, trên có viết một chữ nho. Thầy giảng cho chúng tôi nghe rằng:

– Đây là chữ NHƠN, gồm chữ nhơn nghĩa là người và chữ nhị nghĩa là hai, đem ghép lại. NHƠN có nghĩa là đạo làm người. Con người ta sinh ra, lớn lên, học tập và làm việc suốt một đời cũng là để hoàn chỉnh chữ NHƠN cho mình.

Tất cả chúng tôi, những đứa học trò nhỏ của thầy giáo Bảy Tín ngày ấy, không đứa nào hiểu hết được lời thầy dạy. Nhưng tất cả đều nhớ nằm lòng lời dạy ấy.

Ngày nay, thầy giáo Bảy Tín đã ra người thiên cổ, còn chúng tôi thì lớn dần theo năm tháng. Càng ngày, chúng tôi càng có dịp hiểu hơn về chữ NHƠN…

*

*     *

 

PHẦN THỨ NHẤT

CHUYỆN KỂ THỨ NHẤT Ở LÀNG ĐỒI

Đó là thuở những người Việt đầu tiên di dân xuống phương nam lập nghiệp. Đó là thuở làng mạc chưa được đặt tên, như cái làng nhỏ nằm ven sông Đồng Nai có hai mươi ngọn đồi lớn nhỏ, nơi cây cối mọc thành rừng cao, nơi là rừng chồi, lại có nơi chỉ là đồi cỏ. Cái làng nhỏ ấy, trước khi người Việt đến, đã có người bản địa sinh sống, là con cháu không biết bao đời của những con người thuở khai thiên lập địa. Ở đó có cả ác thú, chim dữ lẫn nai hiền, và một đàn chim Tóc.

Ngày ấy, rạch Bối Diệp còn bị phủ bởi một khu rừng lá bối xen lẫn mã tiền. Nước rạch ẩn mình dưới bóng mát, trong leo lẻo và lạnh tựa nước mùa đông. Cá tôm chọn nơi đây làm nơi sinh sản. Có con cá sơn đài nặng bằng một người đứng tuổi, miệng há rộng có thể nuốt chửng một đứa bé con. Lũ cá khóa hớp nước rạch có hòa tan chất độc trái mã tiền bị say ngất, mình xù vây bạc ánh xanh, mắt ngầu màu máu. Cuối mùa mưa, xuất hiện ít chú cá chình mình lóc đuôi chạch thích lội trên mặt nước, lúc nguy biến mới lẩn vào hang. Con suối Cát như một đứa trẻ nhỏ yếu đuối sợ nắng, sinh ra từ những mạch nguồn quanh giếng Ngọc, nơi có nai thiêng, có voi thần về uống nước, lại có cả dấu chân tiên nữ để lại trên đá.

Những người dân Việt đầu tiên đến khai phá đất này đã chọn ngọn đồi lớn nhất để dựng nhà, lập vườn cây trái và làm ruộng ven suối. Họ ra sức khai phá đất đai các ngọn đồi chung quanh để trồng mía làm đường. Trong số họ, nhiều người đã phải bỏ mạng vì khí hậu khắc nghiệt của rừng thiêng nước độc. Họ lại phải đương đầu với chúa sơn lâm và đành chịu khuất phục trước mãnh thú. Họ gọi con cọp vằn tung hoành cả một vùng đồi ngày ấy là Ông Cả. Mỗi tháng, họ cống Ông Cả một con vật, khi thì heo, gà, lúc là cả một con nai, con mễn trúng bẫy của thợ săn. Ông Cả vừa lòng nên không sát hại con người nữa. Cho đến một năm kia, trong nhiều tháng liền lễ vật dâng Ông Cả không hề bị đụng tới. Người ta đoán rằng Ông Cả đã tịch hoặc đã bỏ đi qua vùng đất khác, cũng có thể Ông Cả đã lội qua sông tìm về rừng thiêng xa tít tắp bên kia bờ bắc dòng sông.

Họ Phạm là một điền chủ đi khẩn hoang theo chính sách của chúa Nguyễn. Không giống như nhiều điền chủ khác, ông là người vừa giàu của lại vừa giàu chữ. Ông nói với điền nô của mình:

– Ta thích làm một người hướng đạo hơn làm một ông chủ của các ngươi.

Lời nói và hành động của họ Phạm đã chứng minh ông không phải là kẻ khoác lác. Với các điền nô người Việt, ông thường quan tâm đến việc làm của họ và giúp đỡ họ có cuộc sống dễ chịu hơn. Những đứa trẻ ngoan, sáng dạ hoặc hiếu học, được ông chiêu tập đến điền trang của mình mà dạy chữ. Với nô tì là người bản địa, người nào tập mãi vẫn không quen được việc cày cấy, trồng tỉa ruộng vườn, ông giao cho làm việc vặt trong nhà hoặc trả họ về bản làng. Điền chủ họ Phạm trở thành một người mẫu mực được kính trọng cả một vùng. Những lời ông khuyên bảo mọi người được nhắc lại như những lời dạy dỗ. Những ý kiến phân giải của ông được xem như công lý mà mọi người răm rắp tuân phục.

Thật đáng tiếc là công tử họ Phạm, người con trai duy nhất của điền chủ Phạm thì trái ngược hẳn với cha. Đó là một gã trai lười nhác học chữ, chỉ giỏi vờ lễ nghĩa trước mặt cha trong khi với mọi người thì y hống hách, quát nạt, háo thắng. Điền chủ họ Phạm không hay biết gì về tính xấu của con trai. Gã công tử đóng kịch quá khéo, trong khi những người dân trong vùng tuy khinh ghét gã trai nhưng vì kính nể người cha mà không ai nỡ hé môi, e khiến ông phải buồn lòng.

Trong đám lưu dân có gái họ Huỳnh vừa xinh đẹp, vừa nết na. Gái họ Huỳnh lọt vào mắt xanh công tử họ Phạm. Đầu tiên, gã công tử ngọt ngào tỏ tình:

Trường đồ tri mã lực

Sự cửu kiến nhân tâm

Sen trong đầm lá xanh bông trắng

Sen ngoài đầm bông trắng lá xanh

Chim khôn lót ổ lựa nhành

Gái khôn tìm chỗ trai lành kết duyên.

Gái họ Huỳnh vốn cũng có dăm ba chữ nghĩa, nghe lời đó liền thẳng thắn từ chối:

– Con cá tróc vi hiềm vì nước chảy

Cần câu gãy vì bụi gốc vướng cong

Như tôi nay phận gái đã có chồng

Tình ai xin trả lại

Tơ hồng chẳng nên

Công tử họ Phạm đâu dễ chịu lui ngay. Y buông lời quyến rũ:

– Phú tắc cộng lạc

Bần tắc cộng ưu

Hoạn nạn tương cứu

Sinh tử bất ly

Em còn suy nghĩ nữa chi

Chọn nơi quyền quý đâu bì nơi anh

Gái họ Huỳnh sợ hãi, phải trốn lánh công tử họ Phạm. Thật ra cô chưa phải là gái đã có chồng mà mới chỉ hứa hôn với ngư dân họ Trần, một chàng trai tháng ngày rong ruổi trên sông nước cùng chiếc thuyền câu. Cái đám cưới nghèo được tổ chức sớm hơn dự định chính là để giúp gái họ Huỳnh thoát khỏi cảnh bướm ong ve vãn của công tử họ Phạm. Họ Trần rời chiếc thuyền câu về làm rể gia đình họ Huỳnh. Đôi uyên ương dựng một căn chòi dưới chân ngọn đồi lớn thứ nhì trong vùng, cách đồi Ông Cả con suối Cát, không xa những căn chòi khác của bà con trong vùng bao lăm. Đó cũng là những ngày nương mía trên đồi sắp đến kỳ thu hoạch, phần dưới lá xác xơ, trên ngọn đâm bông trắng như cờ.

Chợt có tin công tử Phạm mắc chứng nhức đầu đông. Rồi vài hôm sau chàng rể mới họ Trần được điền chủ họ Phạm mời tới điền trang. Ông nói với anh ngư dân:

– Con trai ta chẳng may mắc chứng bệnh trầm kha. Ta cần có nhớt cá chình để làm thuốc điều trị. Nhà ngươi vốn là dân sông nước nhưng nay đã thành người sống trên điền đất của ta, thì ngươi phải có bổn phận giúp đỡ ta cũng như mọi người khác ở đây. Tuy nhiên, ta không ra lệnh mà chỉ van nài ngươi hãy giúp ta tìm đem về đây một con cá chình.

Họ Trần vòng tay thưa:

– Nhưng bẩm điền chủ, mùa này làm sao có thể lưới được loài cá ấy?

– Ta biết! Nhưng há ngươi chẳng thuộc câu “còn nước còn tát” hay sao? Nếu phận con trai ta không đến nỗi bạc, ắt trời cao run rủi cho ngươi lưới được cá chình. Ngươi không thể giúp ta hay sao? Ngươi nỡ điềm nhiên tọa thị trước một con bệnh đau khổ hay sao?

Họ Trần không thể chối từ lời khẩn cầu tha thiết của điền chủ họ Phạm. Anh trở về chòi dặn vợ cố đợi anh ít hôm để anh ra sông lưới cá chình làm thuốc cứu công tử họ Phạm. Người vợ mới cưới của anh linh cảm có chuyện gì khuất lấp bên trong nên ngăn cản chồng:

– Chàng ơi đừng đi. Sao lòng em không yên chút nào.

– Ta phải đi nàng ạ. Cứu người là việc nghĩa lớn.

Rồi họ Trần thu xếp ra sông.

Đêm khuya thứ nhì kể từ khi họ Trần vắng nhà, cô dâu mới họ Huỳnh đang chập chờn trong giấc ngủ thì nghe có tiếng động ngoài chòi. Vừa nhỏm dậy định khêu lớn ngọn đèn, cô đã thấy tấm liếp cửa bị xô qua, rồi cái dáng dễ nhận ra của công tử họ Phạm xuất hiện. Y chồm tới bịt miệng gái họ Huỳnh, vừa hăm dọa vừa dụ dỗ:

– Hãy thuận tình với ta đêm nay rồi ta sẽ thưởng tiền. Bằng trái lại chớ trách ta độc ác.

Gái họ Huỳnh đã hiểu ra. Công tử họ Phạm chỉ vờ kêu bệnh để cha y tưởng thật và vì thương con mà ông đã nhờ chồng cô đi tìm cá chình về làm thuốc. Thừa dịp người chồng vắng nhà, y dở trò ép liễu nài hoa để thỏa lòng dục và cũng để trả mối hận tình.

Đời nào gái họ Huỳnh ưng chịu hành động vô đạo ấy. Còn công tử họ Phạm thì đã nuôi quyết tâm chiếm đoạt cô gái. Thân gái tuy yếu đuối nhưng được lòng đoan chính tiếp thêm sức mạnh, cô đã chống trả quyết liệt với kẻ tà dâm. Chính trong khi đôi bên giằng co, ngọn đèn dầu bị đổ, lửa bén vào vách lá thưng nổ lép bép rồi reo lên rào rào khi bốc tới mái tranh. Bụi tre khô cạnh đó không trốn nổi ngọn lửa thần. Đêm bức bối, ngột ngạt òa lên quầng lửa gào thét. Công tử họ Phạm tưởng đâu gần đạt được mục đích, còn gái họ Huỳnh đã định tâm sẽ liều cắn lưỡi tự tử để bảo toàn danh tiết, thì hơi nóng của ngọn lửa vô tình đã buộc gã trai phải buông con mồi ra, sau một phút tiếc rẻ, y bỏ chạy tháo thân về điền trang, lên giường trùm mền làm kẻ vô can. Nạn nhân ở lại chỉ kịp chạy ra khỏi chòi trước khi nó biến thành một ngọn lửa sáng rực.

Dân làng chạy đến nơi xảy ra hỏa hoạn với mọi thứ có thể chữa cháy. Mõ hồi một vang khắp vùng đồi. Cứ một hồi mõ thúc lại thêm một hồi dùi bồi. Nhưng ngọn lửa vẫn bốc cao. Từ lùm tre nó chồm sang ruộng mía, loang loáng chạy trong bóng đêm như một kẻ tham mồi. Nó tàn phá tất cả, nuốt chửng nửa ngọn đồi vừa ruộng mía, vừa nhà cửa của những người dân nghèo. Cứ thế, nó nhấm nháp những con mồi cho đến sáng hôm sau mới chịu ngưng nghỉ. Nửa ngọn đồi phủ tro, khét mùi khói.

Những nạn nhân của trận hỏa hoạn khủng khiếp ấy nguyền rủa gái họ Huỳnh mà họ cho là thủ phạm gây ra vụ cháy. Cô kêu oan và kể lể sự tình. Nhưng cô không thể đưa ra một bằng chứng!

Chuyện đến tai điền chủ họ Phạm. Ông giận dữ nói với mọi người:

– Gái họ Huỳnh cả gan quá đáng! Thị đã vu oan cho con trai ta. Thời gian qua, ai chẳng biết con trai ta mắc chứng nhức đầu đông, đêm xảy ra cớ sự nó còn nằm liệt trong thư phòng. Ta không thể chứa chấp kẻ ác tâm trên điền đất của mình. Kể từ nay, gái họ Huỳnh phải theo chồng sinh sống trên sông, không được cư trú ở vùng đất này nữa.

Họ Trần từ sông trở về. Người vợ kêu oan. Nhưng cả đến người chồng cũng không tin lời vợ. Không tìm được ai chia sẻ nỗi niềm, gái họ Huỳnh treo cổ tự tử để minh oan.

Người ta đem chôn kẻ bất hạnh ở vùng đất tận cùng làng, một nơi hẻo lánh quạnh hiu ở cuối rạch Bối Diệp.

Mãi về sau này, khi điền chủ họ Phạm mất đi, công tử Phạm thay cha cai quản điền trang, có cơ hội bộc lộ mọi tính xấu, sự thật kia mới được phơi bày vào một hôm quá chén, chính miệng y đã kể lại chuyện xảy ra trong đêm khủng khiếp năm nào… Không nhiều năm sau đó, điền trang họ Phạm đã bị gã trai hư làm cho tan hoang. Bản thân y phải tha phương cầu thực, không còn ai biết đến tăm tích nữa.

Những người dân làng Đồi cảm thương bà Huỳnh, ai có dịp cũng ra viếng mộ bà, ném thêm những nắm đất vun đắp cho ngôi mộ. Có đến gần trăm năm ở làng Đồi vẫn giữ tục lệ ra viếng mộ bà Huỳnh và ném đất vun mộ như thế. Nơi đó biến thành một ngọn đồi nhân tạo, ngọn đồi thứ hai mươi mốt của vùng đồi này. Người ta dựng miếu thờ bà Huỳnh, trồng cây trên đồi và quanh đồi để bảo vệ. Ngọn đồi nhân tạo ấy được đặt tên là đồi Oan Trái.

Ngọn đồi lớn, nơi xảy ra trận hỏa hoạn ngày xưa, được đặt tên là đồi Lửa. Riêng đồi Ông Cả, vào năm 1776, Nguyễn Lữ dùng thủy quân đánh Gia Định lấy được thành Sài Gòn, đặt Tư khấu Uy trấn đất Đồng Nai, chúa Nguyễn Phước Thuần cùng Vương mẫu, Nguyễn Phước Ánh, đệ tam công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh và cung quyến phải chạy về vùng đồi, trú ẩn nơi đây. Sau này, khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, người làng Đồi đổi tên đồi Ông Cả thành đồi Chúa.

 

* * *

CHUYỆN KỂ THỨ HAI Ở LÀNG ĐỒI

Thôn Vĩnh Cửu, kỷ niệm Phật Đản năm 1905.

Ông thầy Đoàn Văn Cự, chủ tướng của chú bé Hai Hồng tuy đã tuổi bảy mươi mà vẫn phương phi khỏe mạnh. Ông thầy vừa nhận được tin mật báo ngày hôm đó quân Pháp sẽ kéo đến đánh. Thầy Cự chít khăn lụa điều trên đầu, thắt dây lưng hồng có giắt thanh đao đầu hổ. Thầy ra lệnh triệu tập nghĩa binh khắp vùng thôn Vĩnh về phục kích chờ địch. Ai vào chỗ nấy rồi, thầy mới một mình đi tới đi lui trước bàn thờ tổ vừa suy nghĩ vừa chờ đợi.

Nhưng trời cứ tối dần mà vẫn chưa có hiệu báo tin địch tới. Thầy Cự phán đoán: “Có lẽ địch chỉ tung tin để dò xem phản ứng của nghĩa binh ra sao, chớ chúng chưa dám tấn công”. Một số nghĩa binh bắt đầu nóng ruột, muốn về nhà. Ít ra họ cũng phải có một tí gì dằn bụng nếu cần tiếp tục chờ địch và chiến đấu có hiệu quả.

Ông thầy Cự bảo chú bé Hai Hồng:

– Con đi truyền lệnh ta cho nghĩa binh giải tán một nửa về nhà cơm nước, nửa còn lại chờ đổi phiên và sẵn sàng chiến đấu.

Hai Hồng làm nhiệm vụ liên lạc của mình, thoáng chốc đã có mặt khắp nơi truyền lại lệnh chủ tướng. Nghĩa binh phân công nhau người về kẻ ở. Hai Hồng trở lại nhà thờ tổ, vòng tay thưa với ông thầy:

– Thầy cũng nên đi ăn một chút gì đó.

Ông thầy khẽ lắc đầu:

– Mặc ta! Nếu con có đói thì cứ đi ăn trước.

Quân Pháp do một tên đại úy dẫn đầu bất ngờ kéo ập đến. Chúng bao vây khu vực nhà thờ tổ rồi mà nghĩa binh phục kích trên đường vẫn chưa hay biết gì. Tên đại úy tiến tới nhà thờ tổ cùng người thông ngôn và hai tên lính hộ vệ. Có lẽ nó không muốn xảy ra giao tranh mà chỉ muốn thương lượng hoặc vây bắt riêng ông thầy Cự, khiến nghĩa binh thành rắn không đầu.

Từ trong góc tối của hậu liêu, chú bé Hai Hồng thấy ông thầy Cự quay ngoắt người lại bàn thờ tổ, chắp tay vái nhanh một vái, rồi ông thầy quay lại, rút thanh đoản đao đầu hổ nhảy ra sân. Tên đại úy vừa mở miệng nhưng chưa kịp nói điều nào đã bị ông thầy chém sả một đao vào đầu. Nó vừa nhảy tránh vừa xì xồ mấy tiếng Tây. Thanh đao sớt ngang vành tai nó, chém thêm một vết nơi vai. Người thông ngôn hoảng hốt nằm mọp xuống đất, miệng ú ớ:

– Lạy ông thầy! Tôi vô tội! Lạy ông thầy…

Hai tên lính hộ vệ chĩa mũi súng về phía ông thầy Cự đang khoa đao định tấn công tiếp tên đại úy. Tên đại úy cũng đã ra tay cùng lúc với lính của mình. Mấy tiếng súng ngắn, súng dài cùng nổ vang. Ông thầy Cự vẫn đứng sừng sững trước bàn thờ tổ, người ông như cao lớn hẳn lên so với bình thường. Ông trợn mắt nhìn tên đại úy Pháp tay còn run rẩy với khẩu súng bốc khói, tay kia ôm rịt vết thương bên vai đang ròng ròng máu. Ông thầy cố giơ thanh đoản đao lên, nhưng nó bỗng trở nên quá nặng nề rồi cuối cùng tuột khỏi tay ông. Ông gượng đứng thêm một phút nữa. Máu loang đỏ nơi ngực và bụng ông, những chỗ trúng đạn. Trời vần vũ muốn mưa, một ánh chớp lóe lên soi tỏ cái dáng ông thầy đang ngã nhào, nằm sóng xoài trên nền nhà. Mấy nén nhang cắm nơi bàn thờ tổ đỏ ánh mắt căm thù. Bọn lính ùa vào đỡ tên đại úy Pháp bị thương. Hai tên kéo xác người chủ tướng nghĩa binh bấy lâu nay từng làm điên đầu quan lính Pháp và tay sai vùng thôn Vĩnh Cửu, bỏ ra ngoài sân. Tên đại úy ra lệnh đốt ngôi nhà thờ tổ.

Ngay lúc đó có những bóng người từ khắp nơi quanh vườn cây phóng tới. Nhận ra đó là những nghĩa binh cầm gươm giáo, gậy gộc hò hét xông vào đánh trả thù cho chủ tướng, tên đại úy giận dữ bắn một phát súng lệnh, đồng thời hét vang:

– À la phơ!

Hai Hồng từ trong hậu liêu nhảy ra sân với cây tầm vông trong tay. Chú bé mười lăm tuổi lợi dụng tình huống bất ngờ tấn công làm bị thương một tên lính trước khi xông tới phía tên đại úy Pháp. Nó lùi lại, giơ súng ngắn lên nhắm người Hai Hồng. Một nghĩa binh thét lớn:

– Hai! Coi chừng!

Một người khác nói thêm:

– Chạy đi Hai! Để đó cho các chú lo!

Hai Hồng lao cả cây tầm vông về phía tên đại úy Pháp sau khi tiếng súng trong tay nó nổ vang và chú bé biết là viên đạn đã không làm hại được mình. Chú ngã lăn vào bụi trúc kiểng, chạm phải một vật mềm mềm, ấm ấm. Một con người đang nằm thu lu trong đó. Trong bóng tối đang phủ trùm cảnh vật, Hai Hồng vẫn nhận ra đó là người thông ngôn. Ông ta quá sợ hãi, chẳng thiết để ý tới chú bé mà cứ dập đầu lạy hướng về ngôi nhà đang cháy đỏ cùng cái xác ông thầy Cự nằm giữa sân.

– Lạy ông thầy sống khôn thác thiêng, tôi chỉ làm thông ngôn nuôi vợ nuôi con, tôi vô tội. Lạy ông thầy…

Hai Hồng nhổ một bãi nước miếng lên con người đó trước khi len mình vào khu rừng rậm bên cạnh, nhắm hướng nhà mình ở cù lao Phố.

Hai Hồng trốn thoát về với gia đình.

Chú bé nghe đồn rằng sau đêm đau thương đó, địch đã gom mười mấy cái xác của ông thầy Cự và anh em nghĩa binh hy sinh đem chôn chung trong một cái hố lớn. Hai Hồng mừng vì mình đã may mắn thoát chết. Nhưng mỗi khi nghe tin bọn Pháp ruồng bố tới cù lao Phố và ba má buộc chú bé phải đi trốn, chú bé lại uất ức muốn được chết anh hùng như chủ tướng!

Một buổi sáng nọ, Hai Hồng đã cãi lời ba má không chịu đi trốn. Chú bé liều lĩnh vung cây tầm vông xông vào bọn lính Pháp đang đi tuần tra vì chú nhận ra tên cầm đầu chính là tên đại úy Pháp ngày nào. Bọn lính không ngờ có kẻ dám tấn công chúng, Hai Hồng đánh gãy tay một tên, đánh trúng lưng tên thứ hai trước khi lao mình xuống sông lặn trốn. Trước đó, chú bé còn cố ném cây tầm vông về phía tên đại úy Pháp. Hậu quả của việc làm nóng nảy và dại dột này là chỉ sau một hồi bao vây, bọn lính Pháp đã tóm cổ chú bé ướt như chuột lột từ dưới sông ngoi lên.

Chúng điệu Hai Hồng ra sân đình. Bà con hay tin kéo đến coi đông nghẹt. Ba má Hai Hồng ra tới. Người mẹ chạy lại bên con mà khóc lóc van xin bọn lính Pháp. Chúng hung hãn đẩy bà té nhào trên đất. Bà con phải xông ra để bảo vệ cho bà mẹ và cản không cho người cha lộ diện, e bọn Pháp sẽ bắt cả ông ta. Ông đứng lẫn với mọi người, cắn răng, mở căng mắt mà chứng kiến cảnh con trai mình bị tra tấn.

Tên đại úy Pháp với vành tai bị thương vừa lành và một bên vai còn cộm băng gạc, chắp tay sau lưng đi tới đi lui chờ cho mọi người kéo đến khá đông mới bắt đầu xử tội Hai Hồng. Nó nói một tràng tiếng Tây. Người thông ngôn bước ra. Hai Hồng trợn mắt nhìn ông ta. Vẫn là người thông ngôn mà đêm nào chú bé từng nhổ vào mặt. Ông ta quay lưng về phía tên đại úy, lén chắp tay xá Hai Hồng một xá rồi mới dịch lời của tên chỉ huy:

– Ông đại úy hỏi cậu có phải là tàn dư nghĩa binh của giặc Cự hay không?

Hai Hồng nhìn bà con đứng quanh, dừng mắt nơi chỗ ba má mình. Chú bé ưỡn ngực dõng dạc đáp:

– Phải! Tao là nghĩa binh. Nhưng chủ tướng của tao không phải là giặc. Chính thằng đại úy chủ mày mới là giặc. Nó từ phương xa tới đây cướp bóc tàn sát người Việt. Chỉ có những thằng hèn nhát như mày mới cam chịu làm tay sai cho nó.

Người thông ngôn xám mặt. Ông ta cắn hai hàm răng vào nhau, môi run run vì giận và nhục. Nhưng ông ta không khỏi cảm phục Hai Hồng. Ông ta cố trấn tĩnh để dịch lại lời của chú bé cho tên đại úy Pháp nghe, nhưng với một nội dung hoàn toàn khác:

– Thằng nhỏ khai nó chỉ là thằng chăn trâu bị người ta xúi giục làm bậy.

Hai Hồng hét lên:

– Mày dịch cho nó nghe rồi chưa? Mày nói thêm với nó câu này đi: tao có chết cũng thành quỷ hiện hồn về bắt nó phải đền mạng cho chủ tướng tao, cho đồng bào tao!

Tên đại úy thấy thái độ hung hăng của chú bé liền hỏi người thông ngôn:

– Nó nói gì?

Người thông ngôn đáp:

– Nó xin được tha tội!

Tên đại úy tỏ vẻ không tin. Dù sao sự che chở của người thông ngôn cũng có hiệu quả. Hai Hồng chỉ bị trói vào một gốc cây sao trước đình. Rồi tên đại úy ra lệnh đóng một cây đinh ghim bàn tay phải của chú bé vào thân cây. Lúc Hai Hồng cắn răng chịu đau để cây đinh xuyên qua bàn tay mình mà không kêu một tiếng, má của chú bé nhìn máu ứa ra chảy ròng ròng, sợ hãi thét lên một tiếng và ngất xỉu. Tên đại úy cắt hai tên lính đứng lại canh chừng hàng giờ sau mới bỏ đi. Mọi người chạy lại cứu Hai Hồng. Hai Hồng bất tỉnh ngay khi người ta nhổ cây đinh ra khỏi bàn tay của chú bé.

Suốt đêm hôm ấy, Hai Hồng sốt mê man. Gần sáng hôm sau, thân hình chú bé bỗng cứng đơ như khúc gỗ. Ba má chú bé vội vàng khiêng con trai xuống ghe, tức tốc vượt sông qua ngôi cổ tự Long Thiềng phía bờ bên kia dập đầu xin đại sư trụ trì ra tay cứu độ.

Hai Hồng được cứu sống, xin được ở lại cổ tự học nghề làm thuốc chữa bệnh cho tới khi thành tài. Năm hai mươi lăm tuổi, ba má lần lượt qua đời, ông thầy thuốc trẻ Hai Hồng bắt đầu rời cổ tự lao vào cuộc đời phiêu bạt nay đây mai đó cho tới khi ông lưu lạc tới làng Đồi và quyết định dừng chân tại đây.

Hơn sáu mươi tuổi, tự thấy trí óc mình có phần kém minh mẫn, sợ nếu tiếp tục bốc thuốc sẽ có lúc làm hại tính mạng con bệnh, thầy thuốc già Hai Hồng bỏ nghề, chuyển qua mở quán ăn uống. Không một ai ở làng Đồi, kể cả ông chủ quán già ấy lại ngờ rằng ba chục năm sau, cái chết vẫn chưa đến với ông. Trong khi đó quán ăn uống của ông đã trở thành một địa điểm quen thuộc, một hình ảnh không thể thiếu trong đời sống và ký ức của người dân làng Đồi. Đó là nơi người ta đến uống cà phê nói chuyện đời, là nơi người ta tới ăn cơm tháng hay cơm bữa mà có thể thiếu nợ thoải mái, là nơi dừng chân của người lạ lỡ độ đường mà chủ nhân sẵn lòng mời ly trà đá.

Dân làng Đồi gọi ông lão chủ quán bằng cố, cố Hai!

K.V (mời xem tiếp kỳ 2)

Nguồn: bongtram.vnweblogs.com

Thẻ:

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống