Bảng ghi mức phát triển bình thường về ngôn ngữ và tiếng nói của trẻ em từ 0 đến 6 tuổi
Tháng 6 6, 2013

Sau đây là bảng ghi mức phát triển bình thường về ngôn ngữ và tiếng nói của trẻ em từ 0 đến 6 tuổi:

Ở tuổi Các bé có thể
Mới sinh Khóc
2-3 tháng Khóc những lối khác nhau vì nguyên nhân khác nhau; biết u ơ
3-4 tháng Bập bẹ những nguyên âm và phụ âm đơn giản
5-6 tháng Bập bẹ nhiều hơn
6-11 tháng Tiếng bập bẹ và u ơ nghe như bé bắt chước đối thoại của người lớn với lên giọng, xuống giọng
12 tháng Nói được 1 hay 2 chữ; nhận ra tên mình khi nghe người khác gọi; bắt chước những âm quen thuộc; hiểu một số mệnh lệnh đơn giản
18 tháng Nói được 5 đến 20 chữ; kể cả tên người thân
Từ 1 đến 2 tuổi Nói đựơc câu hai chữ; biết nhiều từ hơn; biết vẫy tay chào; biết dùng chữ để bày tỏ ý muốn (nữa, thôi, thêm…); bắt chước tiếng thú vật; hiểu ý chữ “không”
Từ 2 đến 3 tuổi Biết tên các bộ phận cơ thể; biết xưng “con” thay vì xưng tên; có thể dung động từ và danh từ trong câu; có vốn từ khoảng 450 chữ; biết nói câu ngắn; biết vài mầu sắc; biết “lớn” và “bé”; thích nghe kể lại câu chuyện yêu thích
Từ 3 đến 4 tuổi Có thể kể chuyện; có thể nói một câu gồm 4 hay 5 chữ; vốn từ khoảng 1000 chữ; biết tên, họ mình; biết tên đường; biết hát một vài bài hát thiếu nhi
Từ 4 đến 5 tuổi Có thể nói câu gồm 4-5 chữ; biết dùng chữ “đã” hay “rồi” để diễn tả quá khứ; Vốn từ khoảng 1500 chữ, biết phân biệt nhiều mầu sắc, hình thể; hay hỏi “tại sao,” “ai”
Từ 5 đến 6 tuổi Câu nói dài khoảng 5 đến 6 chữ; vốn từ khoảng 2000 chữ; biết sự vật làm bằng chất gì; biết lien hệ không gian như trên, dưới, ngoài, trong, xa gần; biết địa chỉ nhà; biết thế nào là “giống” và “khác”; biết đếm đến 10; biết tay trái tay phải; sử dụng nhiều loại câu như xác định, phủ định, câu hỏi…

 
Với trẻ em trên 6 tuổi, ngoài những khả năng phát âm chuẩn, rối loạn về ngôn ngữ rất phức tạp, và khó thẩm định. Sau đây là một số mô tả:

  1. Không diễn tả tư tưởng mạch lạc
  2. Không ghi nhớ được chi tiết mà người khác nói
  3. Không nhớ để lập lại một câu nói
  4. Không phân tích được nguyên nhân và kết quả của một tình thế
  5. Không biết so sánh hai sự vật
  6. Không biết đặt câu hỏi
  7. Không biết nhiều tự vựng
  8. Không biết trả lời câu hỏi phức tạp như “tại sao,” “làm thế nào”
  9. Không biết kể lại một câu truyện quen thuộc
  10. Yếu khả năng đánh vần
  11. Yếu khả năng hiểu khi đọc sách, đọc truyện
  12. Yếu khả năng hiểu nghĩa bóng, thành ngữ

Xin quý vị gửi câu hỏi vào Diễn Đàn, chúng tôi sẽ cố vấn riêng từng trường hợp.

Nếu Bé Có Vẻ Không Bắt Kịp Tầm Phát Triển?

Trong trường hợp bé có vẻ bé chậm hơn bạn bè so với bảng phát triển đã nêu, việc đầu tiên phải thực hiện là đo tai cho bé. Trẻ khiếm thị vì không nghe được tiếng nói người chung quanh, nên không thể bắt chước mà nói. Cũng vì không trao đổi bằng tiếng nói, bé không học được tên sự vật để tăng vốn từ, không bắt chước đựơc cách phát âm, và không thăng tiến khả năng diễn tả bằng tiếng nói.

Nếu Bé Có Khả Năng Thính Thị Bình Thường

Việc thẩm định rối loạn ngôn ngữ hay tiếng nói không đơn giản. Tuy nhiên, nếu so sánh với bảng phát triển chung, và thấy bé có vẻ chậm, cha mẹ có thể xin ý kiến từ bác sĩ nhi khoa của bé. Trang nhà CCM, qua kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm của chuyên viên ngôn ngữ trị liệu Nguyễn Anh, có thể cố vấn và góp ý với phụ huynh của bé. Xin quý vị gửi câu hỏi nếu có bất kỳ quan ngại nào về khả năng sử dụng tiếng nói và ngôn ngữ của con em.

 Nguyễn Tường Anh, Thạc Sĩ Ngôn Ngữ Trị Liệu

ConCuaMe.com



Đề thi và đáp án môn Toán tốt nghiệp THPT 2013
Tháng 6 4, 2013

Mời bạn xem đề Toán tốt nghiệp THPT 2013 De_thi_tot_nghiep_mon_Toan_2013-1

Mời bạn xem đáp án môn Toán tốt nghiệp THPT 2013 Huong_dan_giai_de_tot_nghiep_mon_toan_2013_-_day_du_2_

Nguồn: Hocmai.vn



Những lưu ý “bỏ túi” trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2013
Tháng 5 29, 2013

Trong những ngày cận kỳ thi, các em nên nghỉ ngơi, thư giãn, không nên quá lo lắng, giữ vững tinh thần, ổn định tâm lý là hết sức cần thiết, có chế độ ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, tránh thức khuya, để giảm thiểu những ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng làm bài…

Cận kề ngày thi tốt nghiệp THPT, ông Hồ Phú Bạc – Trưởng phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Sở GD-ĐT TPHCM đã đưa ra một số lời khuyên cho thí sinh “bỏ túi”. Theo đó, khi chính thức bước vào kỳ thi, thí sinh cần luôn tuân thủ một số lưu ý sau để có thể trải qua kỳ thi một cách nhẹ nhàng và hiệu quả.
 
Khi dự thi, thí sinh nhớ mang theo thẻ dự thi, chứng minh nhân dân và có mặt tại địa điểm thi đúng ngày, giờ quy định, chấp hành hiệu lệnh của Hội đồng coi thi và hướng dẫn của giám thị. Thí sinh đến chậm quá 15 phút sau khi có hiệu lệnh tính giờ làm bài sẽ không được dự thi. Buổi thi đầu tiên thí sinh có mặt tại Hội đồng thi lúc 6 giờ 00, các buổi thi sau thí sinh có mặt tại Hội đồng thi trước giờ nhận đề thi 30 phút.

thio tot nghiep
Học sinh TPHCM ôn tập cho kỳ thi tốt nghiệp THPT 2013.

Khi nhận đề thi, phải kiểm soát kỹ số trang và chất lượng các trang in. Nếu phát hiện thấy đề thiếu trang hoặc rách, hỏng, nhoè, mờ phải báo cáo ngay với giám thị phòng thi, chậm nhất 15 phút sau khi phát đề.

Khi làm bài, tuyệt đối không được trao đổi bàn bạc, quay cóp hoặc có những cử chỉ, hành động gian lận và làm mất trật tự phòng thi. Thí sinh không được rời khỏi phòng thi trong suốt thời gian làm bài thi trắc nghiệm. Đối với môn thi tự luận, thí sinh có thể được ra khỏi phòng thi sau khi hết 2/3 thời gian làm bài của môn thi và phải nộp bài thi kèm theo đề thi, giấy nháp.

Bài thi phải viết rõ ràng, không được đánh dấu hoặc làm ký hiệu riêng, không được viết bằng bút chì (trừ vẽ đường tròn bằng com pa và tô các ô trên phiếu trả lời trắc nghiệm); chỉ được viết bằng một thứ mực (không được dùng mực đỏ); phần viết hỏng phải dùng thước gạch chéo; không được tẩy, xoá bằng bất kỳ cách gì. Khi có hiệu lệnh hết giờ làm bài, phải ngừng viết ngay, khi nộp bài thi, phải ghi rõ số tờ giấy thi đã nộp và ký xác nhận vào phiếu thu bài thi. Không nộp giấy nháp thay giấy thi. Đối với đề thi có phần tự chọn, thí sinh chỉ được làm bài một trong hai phần tự chọn; nếu làm bài cả hai phần tự chọn thì không được chấm điểm cả hai phần tự chọn.

Đặc biệt, với môn thi trắc nghiệm, thí sinh cần lưu ý: Khi giám thị phát đề thi, thí sinh phải để đề thi dưới tờ phiếu trả lời trắc nghiệm, không được xem đề thi khi giám thị chưa cho phép. Khi tất cả thí sinh trong phòng thi đều đã nhận được đề thi, được sự cho phép của giám thị thí sinh bắt đầu đọc đề thi. Thí sinh phải kiểm tra đề thi để đảm bảo đề thi có đủ số trang, số lượng câu trắc nghiệm; nội dung đề thi được in rõ ràng, không thiếu chữ, mất nét; tất cả các trang của đề thi đều ghi cùng một mã đề thi. Nếu phát hiện những chi tiết bất thường trong đề thi, thí sinh phải báo ngay cho giám thị để xử lý.

Thí sinh ghi tên và số báo danh của mình vào vị trí tương ứng trong đề thi, xem mã đề thi (in trên đầu đề thi) và dùng bút mực hoặc bút bi ghi ngay 3 chữ số của mã đề thi vào 3 ô vuông nhỏ ở đầu các cột của khung mã đề thi; sau đó, dùng bút chì lần lượt theo từng cột tô kín ô có chữ số tương ứng với chữ số ở đầu mỗi cột; ghi mã đề thi của mình vào 2 phiếu thu bài thi. thí sinh tuyệt đối không ký tên vào phiếu thu bài khi chưa nộp bài.

Trên phiếu trả lời trắc nghiệm chỉ được tô chì đen ở ô trả lời, không được tô bất cứ ô nào trên phiếu trả lời trắc nghiệm bằng bút mực, bút bi hoặc để lại ký hiệu hiệu riêng trên phiếu trả lời trắc nghiệm. Phiếu trả lời trắc nghiệm phải được giữ phẳng, không được gập và làm bẩn. Làm xong bài phải ngồi tại chỗ, không nộp bài trắc nghiệm trước khi hết giờ làm bài.
 
* Lịch thi, thời gian làm bài thi

Giáo dục trung học phổ thông:

 

Ngày Buổi Môn thi Thời gian làm bài Giờ phát đề thi cho thí sinh Giờ bắt đầu làm bài
2/6 SÁNG Ngữ văn 150 phút 7 giờ 25 7 giờ 30
CHIỀU Hóa học 60 phút 14 giờ 15 14 giờ 30
3/6 SÁNG Địa lí 90 phút 7 giờ 25 7 giờ 30
CHIỀU Sinh học 60 phút 14 giờ 15 14 giờ 30
4/6 SÁNG Toán 150 phút 7 giờ 25 7 giờ 30
CHIỀU Ngoại ngữ 60 phút 14 giờ 15 14 giờ 30
Vật lí 60 phút 14 giờ 15 14 giờ 30

 Giáo dục thường xuyên:

 

Ngày Buổi Môn thi Thời gian làm bài Giờ phát đề thi cho thí sinh Giờ bắt đầulàm bài
2/6 SÁNG Ngữ văn 150 phút 7 giờ 25 7 giờ 30
CHIỀU Hóa học 60 phút 14 giờ 15 14 giờ 30
3/6 SÁNG Địa lí 90 phút 7 giờ 25 7 giờ 30
CHIỀU Sinh học 60 phút 14 giờ 15 14 giờ 30
4/6 SÁNG Toán 150 phút 7 giờ 25 7 giờ 30
CHIỀU Vật lí 60 phút 14 giờ 15 14 giờ 30

 Việt Khuê thực hiện

Theo Dân trí



Một số yêu cầu về năng lực của người đánh giá giáo dục
Tháng 5 19, 2013

1. Đánh giá giáo dục và năng lực của người đánh giá giáo dục

          Đánh giá giáo dục là hoạt động không thể thiếu trong quản lý giáo dục; Đánh giá giáo dục được xác định là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá nhằm xác định mức độ đáp ứng mục tiêu. Trong đánh giá giáo dục, người ta thường căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá để đưa ra phán đoán, để tiến hành xác định giá trị về một phương diện nào đó của giáo dục. Đánh giá làm nổi bật giá trị, do đó cần coi trọng việc phân tích, mổ xẻ, bình luận, phán đoán vấn đề. Đánh giá thường căn cứ vào kết quả đo lường để phân tích, bình luận mức độ đạt được mục tiêu, yêu cầu đã đặt ra để phán đoán giá trị. Đánh giá giáo dục là quá trình phán đoán giá trị của giáo dục. Quá trình này được xây dựng trên cơ sở phân tích khoa học các hiện tượng giáo dục, hơn nữa phạm vi đánh giá là tất cả các hoạt động hoặc hiện tượng giáo dục trong lĩnh vực giáo dục; Mục đích của đánh giá là nâng cao chất lượng giáo dục. Có thể khẳng định rằng, đánh giá giáo dục là quá trình phán đoán giá trị của giáo dục trên cơ sở thu thập, chỉnh lý, xử lý các thông tin giáo dục một cách hệ thống, khoa học và toàn diện, nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục.    

          Chức năng của đánh giá giáo dục được thể hiện rất rõ trong tiến trình của hoạt động đánh giá giáo dục, đó là: trước khi thực hiện, trong quá trình thực hiện, và sau khi thực hiện hoạt động giáo dục. Trước khi bắt đầu thực hiện hoạt động giáo dục, đánh giá khiến cho kế hoạch hoạt động ổn định hơn; Trong quá trình hoạt động, để sửa chữa quỹ đạo bản thân hoạt động, khiến hoạt động đánh giá chắc chắn thu được kết quả tốt hơn; Trong khi thực hiện một hoạt động, để nắm bắt hiệu quả hoạt động này, mà tiến hành hoạt động đánh giá; Nằm ngoài hoạt động để nghiên cứu khách quan hoạt động này và tiến hành đánh giá, tất yếu tìm ra phương pháp cải tiến. Tương ứng với nó có 4 loại hình đánh giá, đó là: đánh giá chẩn đoán, đánh giá hình thành, đánh giá tổng kết và đánh giá bên ngoài. Đánh giá có các vai trò cơ bản là: vai trò chỉ đạo, vai trò chẩn đoán, vai trò khích lệ, và vai trò giao lưu.

Chúng ta đã biết rằng: năng lực là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng, và thái độ phù hợp với một loại hoạt động thực tiễn (Barnett, 1992). Năng lực là khả năng đáp ứng thích hợp và đầy đủ các yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động (Tự Điển Webstr’s New 20th Century, 1965). Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998) “Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những điều kiện đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) đưa ra khái niệm năng lực như sau: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”. Do vậy, năng lực của người đánh giá giáo dục là một tổng thể của các yếu tố kỹ năng, kiến thức, thái độ và một số phẩm chất của người đánh giá giáo dục đáp ứng yêu cầu của đánh giá giáo dục. Năng lực đánh giá là một năng lực nghề nghiệp. Phần cốt lõi của năng lực đánh giá là hệ thống kỹ năng được sử dụng trong tiến trình thực hiện đánh giá liên tục (on-going assessment).  

2. Đối tượng đánh giá trong đánh giá giáo dục

Người đánh giá giáo dục là người tổ chức, triển khai, thực hiện hoạt động đánh giá giáo dục, chịu trách nhiệm với kết quả đánh giá của mình. Xu thế phát triển hiện đại của giáo dục là chuyển từ “tập trung vào kiến thức” sang “tập trung vào năng lực” và phát triển theo hướng chuẩn do vậy yêu cầu ngày càng cao đối với người đánh giá giáo dục.

2.1. Đánh giá giáo dục ở tầm vĩ mô: đây là đánh giá giáo dục coi toàn bộ lĩnh vực giáo dục hoặc các hiện tượng, phương pháp giáo dục ở các phương diện quyết sách vĩ mô làm đối tượng. Như đánh giá trên các phương diện mục tiêu giáo dục, cơ cấu giáo dục, chế độ giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, quản lý hành chính giáo dục, hiệu ích xã hội giáo dục. Nó có tính tổng thể, toàn cục, chiến lược, vĩ mô và ở cấp độ cao.

2.2. Đánh giá giáo dục ở tầm trung: đây là đánh giá giáo dục coi công tác ở các phương diện trong nội bộ nhà trường làm đối tượng, như trình độ xây dựng trường, điều kiện xây dựng trường, ban lãnh đạo, đội ngũ giáo viên, hoạt động dạy – học, công tác giáo dục tư tưởng, công tác thể dục vệ sinh, công tác sự vụ hành chính, công tác chủ nhiệm lớp, công tác đoàn đội và công tác của ban đại diện cha mẹ học sinh,…

2.3. Đánh giá giáo dục ở tầm vi mô: đây là đánh giá giáo dục coi phát triển học sinh làm đối tượng. Như đánh giá trên các phương diện chất lượng kiến thức, phẩm chất đạo đức tư tưởng, sức khỏe thân thể, thẩm mĩ tình cảm, kỹ năng lao động, phát triển trí năng, khả năng thực tiễn,…

2.4. Đánh giá tổng kết

Đây là một loại hình thức đánh giá nhằm xem xét kết quả sau một giai đoạn nhất định theo quy định chung sau một học kỳ hay một năm học. Đánh giá tổng kết đem lại thông tin hữu ích để tiến hành xem xét, điều chỉnh (nếu cần) từ mục tiêu, nội dung, cho đến phương pháp giáo dục.

2.5. Đánh giá thực hiện

          Việc liên tục phát triển và cải thiện tiềm năng của nguồn nhân lực đòi hỏi phải có một hệ thống quản lý thực hiện hiệu quả. Hệ thống đảm bảo rằng các tiêu chuẩn và mục tiêu thực hiện đặt ra, việc thực hiện thường xuyên đánh giá khía cạnh hoàn thành công việc, và triển khai các hành động để nâng cao tiềm năng thực hiện trong tương lai. Việc đánh giá thực hiện tập trung vào công việc thực hiện trong quá khứ và đo lường kết quả so với các tiêu chuẩn. Kết quả thực hiện được ghi chép lại để lưu trữ và tạo cơ sở cho việc ra quyết định khen thưởng. Nhà quản lý hoạt động trong vai trò phán quyết, đưa ra đánh giá trực tiếp về kết quả công việc của người khác. Ngày nay, xu hướng đánh giá chuyển dần trọng tâm từ việc đánh giá kết quả cuối cùng sang đánh giá cả quá trình, đảm bảo cho việc đánh giá toàn diện hơn, đầy đủ hơn, giúp có nhiều cơ hội hoàn thiện hơn. Người thực hiện tự đánh giá và đánh giá từ các chủ thể khác nhau. Đánh giá trên cơ sở thực hiện là thuật ngữ có một số cách gọi khác như đánh giá việc thực hiện.  

6. Những yêu cầu đối với người đánh giá giáo dục

          Một người đánh giá giáo dục đủ tiêu chuẩn không những là người có tư tưởng chính trị vững vàng, mà còn là người có năng lực công tác. Người đánh giá giáo dục phải nắm được các kiến thức cơ bản về đánh giá giáo dục, có năng lực đo lường và nghiên cứu các phương diện của giáo dục và các quan hệ giáo dục. Hiểu được các nhân tố ảnh hưởng đằng sau giáo dục đối với đối tượng bị đánh giá; có năng lực giao tiếp; có nhân cách chính trực và phẩm chất xử lý các sự việc công bằng, khách quan; có năng lực tổ chức và có tinh thần trách nhiệm trong công việc. Để đạt được những yêu cầu trên, nhất thiết người đánh giá cần phải được đào tạo, bồi dưỡng. Bài viết này tập trung bàn về những yêu cầu cơ bản đối với người đánh giá giáo dục.          

6.1. Yêu cầu về phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp

Trước hết, người đánh giá giáo dục phải là người có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích dân tộc; Gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng; hiểu biết và thực hiện đúng Pháp luật, chế độ, chính sách, quy định của Nhà nước, các quy định của ngành, địa phương; Tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội; Có ý chí v­ượt khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao; Có khả năng động viên, khích lệ; được tập thể tín nhiệm.

Người đánh giá giáo dục phải biết giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; Trung thực, tâm huyết với nghề nghiệp và có trách nhiệm trong công việc; Ngăn ngừa và kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực; Không lợi dụng chức vụ vào mục đích vụ lợi, đảm bảo dân chủ trong hoạt động. Có lối sống lành mạnh, phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc trong xu thế hội nhập. Có tác phong làm việc khoa học, sư phạm.

6.2. Yêu cầu về năng lực chuyên môn

Đó là, sự hiểu biết giáo dục: Hiểu đúng và đầy đủ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức, điều kiện phương tiện phục vụ giáo dục. Đạt trình độ chuẩn trở lên. Nắm vững môn học đã hoặc đang đảm nhận giảng dạy, có hiểu biết về các môn học khác đáp ứng yêu cầu. Am hiểu về lí luận, nghiệp vụ quản lý giáo dục một cách cơ bản và có hệ thống;… Đồng thời cần có các kiến thức liên quan như các lý thuyết học tập, tâm lý học, kỹ năng nhận thức, kỹ năng sử dụng phương tiện, trình độ tin học, ngoại ngữ … Ngoài ra, người đánh giá giáo dục cũng cần có tri thức khoa học và văn hóa rộng rãi.

6.3 Những yêu cầu đặc thù của đánh giá giáo dục

          Thực tế ngày nay đã yêu cầu đối với một giáo viên cần đảm nhiệm hai chức năng, đó là chức năng giảng dạy và chức năng đánh giá. Chức năng giảng dạy thể hiện trách nhiệm của người thầy đối với học sinh, chức năng đánh giá thể hiện trách nhiệm của người thầy đối với xã hội và nhà nước. Trong khi đó đào tạo và bồi dưỡng giáo viên nhiều năm qua của nước nhà dường như mới tập trung vào việc giúp người thầy thực hiện chức năng giảng dạy, chưa thực hiện được chức năng đánh giá. Dưới đây là một số yêu cầu về năng lực đánh giá mà người đánh giá giáo dục cần có.  

Hiểu biết về khoa học đánh giá: Để thực hiện tốt nhiệm vụ đánh giá giáo dục, người đánh giá cần có tri thức một cách có hệ thống về: mục tiêu, nội dung, phương pháp,…của đánh giá giáo dục và được đào tạo nghiệp vụ về đánh giá. Hiểu biết và có kỹ năng kiểm tra, đo lường, đánh giá giáo dục. Đánh giá phải được tiếp cận theo quá trình từ yếu tố đầu vào, quá trình và đầu ra. Người đánh giá cần có sự hiểu biết về kỹ thuật đánh giá kết quả học tập,… Hiểu biết về đánh giá và đánh giá theo quá trình: phân biệt giữa mục tiêu giáo dục cần đánh giá và nội dung kiến thức được thể hiện trong sách giáo khoa.    

Năng lực tổ chức: người đánh giá giáo dục cần có năng lực tổ chức, đó là năng lực xác định mục tiêu, phạm vi, đối tượng đánh giá. Khả năng xây dựng kế hoạch đánh giá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra trong đánh giá giáo dục. Đó là khả năng phân công lao động hiệu quả.

Khả năng thiết kế, xây dựng công cụ (chuẩn, tiêu chí, chỉ số/chỉ báo,…) đánh giá: người đánh giá giáo dục, trên cơ sở xác định mục tiêu đánh giá, đối tượng đánh giá, phạm vi đánh giá tiến hành mô tả mục tiêu và nhiệm vụ đánh giá cụ thể để từ đó phát triển chúng thành hệ thống các chỉ số/chỉ báo đánh giá (cái này được gọi là chuẩn đánh giá). Đó là khả năng thiết kế các công cụ để đánh giá.

Khả năng thiết kế các hoạt động đánh giá: đó là khả năng thiết kế các hoạt động để đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ; xác định mức độ đạt được, sự tiến bộ,… Biết được hoạt động nào trước, hoạt động nào sau; kết hợp nhuần nhuyễn các hoạt động trong quá trình đánh giá.

Kĩ năng quan sát, thu thập, xử lý, và phân tích thông tin minh chứng: đó là khả năng tri giác (mắt thấy, tai nghe) và ghi chép lại mọi yếu tố liên quan đến đối t­ượng, nghiên cứu minh chứng, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu… nhằm mô tả, phân tích, nhận định, đánh giá. Quan sát trong đánh giá giáo dục là sự xem xét bằng mắt về trường học, môi trường, văn hoá, và sự tương tác giữa những con người với nhau; Khả năng nhận diện tính chính xác, nguồn gốc, giá trị chứng minh của thông tin minh chứng. Đó là khả năng thu thập, xử lý kết quả kiểm tra, đánh giá trên cơ sở đó cho những thông tin phản hồi để hướng dẫn hay động viên người học tiếp tục nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập hoặc điều chỉnh hay cải tiến.

Kĩ năng phỏng vấn: người đánh giá giáo dục cần nắm được kỹ thuật thu thập dữ liệu: trong đó người hỏi (phỏng vấn) đặt câu hỏi bằng miệng cho người được phỏng vấn. Người đánh giá cần có khả năng đặt câu hỏi, soạn phiếu hỏi; nắm bắt nhanh câu trả lời, thống kê, xử lý phiếu hỏi. 

Khả năng giao tiếp, biểu đạt, đưa ra những phản hồi và viết báo cáo đánh giá: người đánh giá giáo dục cần có các kỹ năng định hướng giao tiếp, định vị, làm chủ thái độ, cảm xúc, sử dụng tốt phương tiện giao tiếp. Cách thức giao tiếp, ứng xử đúng mực và có hiệu quả. Người đánh giá cần có khả năng giao tiếp tốt, biểu đạt được suy nghĩ, quan điểm, nội dung đánh giá. Trên cơ sở có đủ thông tin đưa ra những quyết định, nhận xét. Thể hiện khả năng viết mô tả chất lượng, đó là: Biết cách dùng ngôn ngữ để mô tả được chân thực chất lượng trong quá trình đánh giá. Để viết báo cáo đánh giá theo cấu trúc quy định chặt chẽ, do vậy cần nhiều đến khả năng dùng từ. Về mặt thái độ cần: khiêm tốn, lịch sự, tôn trọng, biết chia sẻ, lắng nghe, đồng cảm và biết phản ứng phù hợp.

Năng lực sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin: để làm tốt công việc của mình trong thời buổi hội nhập, người đánh giá giáo dục cần sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ, cần có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin nhằm quản lý thông tin: soạn thảo, lưu trữ, tìm kiếm, tra cứu thông tin và các quy định cụ thể của các lĩnh vực trong giáo dục. Thậm chí biết sử dụng phần mềm phân tích, đánh giá phục vụ đánh giá giáo dục.

Kỹ năng hoạt động nhóm: người đánh giá giáo dục cần biết chia sẻ, phản hồi thông tin trong nhóm nhằm tăng cường sự hiểu biết của các thành viên trong nhóm về các vấn đề cụ thể để đi đến thống nhất trong cách phân tích, nhận định, đánh giá.

Năng lực làm việc độc lập: đó là khả năng làm việc độc lập, khả năng nghiên cứu tài liệu; nghiên cứu thông tin, minh chứng; nghiên cứu về đối tượng được đánh giá. Khả năng làm việc hiệu quả khi nghiên cứu thực trạng chất lượng.

Khả năng thích ứng với hoàn cảnh: khả năng thích ứng với điều kiện thực tế, môi trường, khí hậu, thời gian kéo dài; công việc không thuận lợi,..

Khả năng tự chế: khả năng kiềm chế, tự chủ bản thân và luôn giữ vững tâm lý tốt nhất trong đánh giá. Quản lý được bầu không khí trong quá trình đánh giá.

Kỹ năng tư duy, phê phán: có khả năng tư duy logic, cách tiếp cận khoa học và tư duy hệ thống. Có óc phê phán, khả năng phản biện khoa học, và phản biện xã hội.

Óc sáng tạo: người đánh giá cần có sự sáng tạo trước, trong và sau quá trình đánh giá; trong lúc: chuẩn bị, thực thi, nghiên cứu, thu thập, đặc biệt là xử lý thông tin, minh chứng để viết báo cáo đánh giá,….

Năng lực tư vấn và đưa ra quyết sách: năng lực áp dụng các phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá khoa học các mặt hoạt động giáo dục theo yêu cầu của chuẩn, tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số, nội hàm chỉ số và khía cạnh của nội hàm chỉ số trong đánh giá để chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu, xác định nguyên nhân để xây dựng được kế hoạch cải tiến chất lượng khả thi, hiệu quả. Người đánh giá giáo dục cần có khả năng nghiên cứu văn bản: đọc, hiểu, nắm bắt nội dung, … Năng lực giám sát, đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục và dạy học không chỉ đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng kết quả  mà còn đề xuất, tư vấn những quyết định làm thay đổi thực trạng theo hướng các mục tiêu đã xác lập tường minh. Người đánh giá giáo dục cần có năng lực đưa ra những kết luận mang tính chất quyết sách trong đánh giá nhằm tư vấn, hỗ trợ cho người/đơn vị giáo dục được đánh giá thực hiện tốt mục tiêu của mình,…

6.4. Yêu cầu về tuổi tác, sức khỏe

          Yêu cầu đối với người đánh giá giáo dục là phải có sức khỏe tinh thần, cũng như thể chất tốt để đáp ứng tốt nhất công việc đánh giá giáo dục. Người đánh giá giáo dục càng có thâm niên công tác thì càng thuận lợi cho công tác của mình.

Một số kiến nghị

 

-         Cần kiện toàn, cải tiến hệ thống đánh giá theo hướng đồng bộ từ Trung ương cho đến địa phương;

-         Đẩy mạnh tiến trình đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục;

-         Chú trọng hơn nữa đến bồi dưỡng, phát triển năng lực đánh giá cho giáo viên ngay từ khi học trong trường sư phạm; Tích hợp năng lực đánh giá với các năng lực nhận thức và năng lực chuyên môn khác xuyên qua nhiều môn học;

-         Đẩy mạnh nhiều nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá giáo dục;

-         Có chính sách phát triển khoa học đánh giá ở Việt Nam.

NCS Nguyễn Anh Thuấn

Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Cương (2001), Cơ sở đánh giá giáo dục hiện đại, NXB Học Lâm.

2. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Tài liệu hướng dẫn đánh giá ngoài, Hà Nội.

4. Trần Thị Bích Liễu (2004), Đánh giá chất lượng giáo dục nội dung, phương pháp, kỹ thuật, NXB Đại học sư phạm.

5. Nguyễn Anh Thuấn (2010), Văn hóa đánh giá giáo dục: Nội dung, giải pháp, Tạp chí KHGD.

 



Bài văn tả con sông chảy qua quê em
Tháng 3 17, 2013

Con sông Hồng chảy qua quê hương em. Dòng sông đẹp như một dải lụa đào vắt ngang lên tấm áo xanh mướt của đồng bằng Bắc Bộ. Nó đã gắn bó với tuổi thơ ấu của em, làm ấm lòng biết bao trái tim bé nhỏ. Ôi ! Con sông thân thương !

Xa xa, dáng nằm của con sông Hồng vẫn muôn đời đỏ nặng phù sa, thế đứng hiên ngang như rồng cuộn hổ ngồi ngàn năm hiện lên ấm màu hoài niệm. Có lẽ mặt sông thường đỏ thắm như màu thẹn thùng của màu môi thiếu nữ. Ánh bình minh vàng chan hoà trên mặt sông ấm áp. Những đám cỏ non còn ướt đẫm suơng đêm, ngơ ngác trong giấc mộng ngọt ngào . Từng đoàn thuyền giong buồm ra khơi, thả lưới đánh cá. Những tiếng hò, tiếng hát vang lên xáo động cả mặt sông. Trông kìa, các em bé té nước cho nhau cười như nắc nẻ. Chúng bơi lội, chúng lặn ngụp như những chú cá heo. Sông dịu dàng ôm chúng vào lòng như một người mẹ. Sông chảy giữa những bụi râu, bãi mía xanh ngắt. Tiếng sóng vỗ ì oạp vào bờ, như hát, như reo vui cùng chúng em. Hai bên bờ, các cô các bà đem chăn màn ra giặt ra phơi, mồ hôi ướt đẫm tấm lưng gầy…

con song que em

Ôi dòng sông ! Sông đẹp dịu dàng trong những ngày nắng đẹp, sông trắng xoá trong những cơn mưa bụi mùa hè. Sông đỏ ngầu, ầm ầm, tức giận chảy xiết mỗi khi nước lũ tràn về. Sông muốn cho chúng em cuộc sống yên bình.

Sông ơi ! Sông hãy đưa nước về nuôi sống cho những cánh đồng bốn mùa tươi tốt. Sông hãy đưa cá về nuôi sống những người dân.

Nguồn: Giáo dục/ Lính Chì



Bài văn tả cảnh hoàng hôn ở quê hương em
Tháng 3 17, 2013

Khi ông mặt trời vội vã đạp xe về đỉnh núi phía Tây kết thúc cuộc hành trình dài, cũng là lúc tôi học bài xong chạy ra đầu làng để hít thở bầu không khí trong lành, mát mẻ. Chà, quê hương mình lúc này mới đẹp làm sao! Không gian thật thoáng đãng, không khí trong lành đến tuyệt vời. Bầu trời cao xanh vời vợi, từng áng mây trắng mây hồng bồng bềnh trôi như đang đi du ngoạn. Những tia nắng vàng hoe như còn lưu luyến, bịn rịn đổ dài trên những cành cây, mái nhà và tràn xuống cả ao làng. Tất cả trông như rực sáng hơn. Những làn gió Nam hiu hiu thổi mang theo hương thơm dìu dìu của cánh đồng lúa giống mới làm nao nao lòng người. Trên cành cây, cô gió vui mùng đánh nhịp cho lá cây vui hát rì rào. Tôi khoan thai bước trên con đường ra đầu làng để ngắm cảnh quê hương. Chà, đẹp quá! Trên nền trời cao thẳm những cánh diều sáo vút cao của ai đó vi vu vi vút trên khoảng không bao la. Xa xa, những chỏm núi màu xanh biếc nhấp nhô trông thật tuyệt! Dưới mặt ao, ánh nắng chênh chếch làm cả mặt ao rực lên lóng la lóng lánh như người ta vừa giát một mẻ vàng mới luyện xong. Phía chân đê, từng đàn trâu đủng đỉnh ra về.

hoang hon

Mải ngắm quê hương, ông mặt trời xuống núi từ bao giờ. Trong làng, khói bếp bay là là quyện vào dải sương mờ như tấm khăn voan mỏng làm cho cảnh vật mờ dần, mờ dần. Trên cành cây, những chú chim ríu rít gọi nhau về tổ hòa nhịp với loa phóng thanh của hợp tác xã tạo nên một bản nhạc du dương trầm bổng để kết thúc một ngày làm việc bổ ích. Càng ngắm tôi lại càng thấy yêu quê mình hơn. Tâm hồn sảng khoái lâng lâng một niềm vui khó tả.

Chà, quê mình đẹp quá! Đẹp quá đi! Tôi thật sung sướng và tự hào khi được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương thanh bình êm ả này. Tôi mong mình sẽ học thật giỏi để xây dựng quê hương đất nước thêm giàu đẹp.

Nguồn: Lính Chì (Sưu tầm)



Bài văn tả cảnh nhộn nhịp sân trường em vào giờ ra chơi
Tháng 3 17, 2013

Tiếng trống giờ ra chơi đã vang lên bên tai mỗi học sinh. Từ các lớp, học sinh ùa ra như những chú chim non, tò mò muốn bước ra ngoài không gian. Nắng đuổi bắt chùm lộc non xanh mơn mởn, rồi đứng lại bên những cành phượng vĩ đỏ rực đang khoe sắc.

Dưới gốc cây đa già sừng sững, các bạn gái rủ nhau chơi nhảy dây. Những đôi chân xinh xắn ấy, cùng bạn nhảy dây từng bước uyển chuyển. Bạn nào bạn nấy cũng cố gắng nhảy thật nhịp nhàng, để đáp lại sự cổ vũ nhiệt tình của các bạn xung quanh. Ngỡ rằng, đây chính là những thiên thần bé nhỏ, đang chơi đùa trong khung cảnh ngây thơ, trong sáng của tuổi học trò. Gần đó là trò chơi đá cầu cũng lí thú không kém. Quả cầu nhiều màu sắc như bảy màu tinh tú của cầu vồng. Nó được đôi chân khoẻ khoắn, nhanh nhẹn của các bạn nam làm cho có sức sống.

gio ra choi

Chẳng có thể nhìn thấy quả cầu xinh xinh đâu nữa, mà chỉ thấy đôi chân nhanh nhẹn thoắt lên, thoắt xuống của các bạn. mấy bạn đứng xem, người thì chăm chú nhìn quả cầu tung lên hạ xuống, người thì trổ tài dự đoán xem bàn chân nào khéo nhất. Cuối cùng, bạn nam lớp tôi cũng giành chiến thắng bởi những cú đá hiểm hóc. Thật sung sướng! Khi nhận được danh hiệu mà các bạn yêu thích tăng cho đó là: “quả cầu thần”. Có bạn muốn tìm cho mình một sự thư giãn nhẹ nhàng, lại đến bên gốc bàng xanh mướt kia ngồi đọc những cuốn sách lí thú. Vẻ chăm chú ấy làm cho ai cũng tin rằng đó là những cô gái, chàng trai sẽ là những tinh hoa cho xã hội, làm nên một cuộc sống tươi đẹp cho chính mình và cả đất nước. Với những “nhà thơ nhí” luôn thả mình vào trong bầu không khí sôi động, hồn nhiên, để có thể nảy ra những vần thơ chứa chan thi vị. Ngược lại, các bạn trai hiếu động lại tìm thấy niềm vui riêng trong trò chơi đuổi bắt. Mồ hôi nhễ nhại toát ra như tắm, nhưng dường như nó chẳng là gì đối với các bạn, bởi lẽ ai cũng thấy lòng rộn lên niềm vui của trẻ thơ. Vì là một vận động viên điền kinh, nên bảo luôn là một “đối thủ” đáng gờm. Chẳng vậy, mà bạn nào bạn nấy cũng cố gắng thoát khỏi vòng vây của Bảo “vận động viên điền kinh tương lai”.

Chị gió tốt bụng dùng chiếc quạt của mình xua tan cái nắng nóng cho cả sân trường. Những bạn gái nhút nhát, dịu dàng lại luôn quây quần lại luôn quây quần bên gốc cây phượng vĩ tâm sự về mọi việc mà  các bạn cho là lí thú nhất. Sân trường vui thật đấy! Làm cho các chú chim sâu cũng phải ngó xuống nhìn. Những chùm hoa sữa nở rộ toả hương thơm quyến rũ, dù chỉ với bông hoa li ti, trắng muốt. Trên không trung, ông mặt trời cháy bỏng, ngó xuống nhìn nở nụ cười với đàn em thơ đang nô đùa. Bỗng ba hồi trống vang lên, các bạn học sinh lần lượt vào lớp, ai cũng tươi tắn như những đoá hoa ban mai. Bởi các bạn sắp bước vào những tiết học sôi nổi hào hứng.

Giờ ra chơi ở trường em là vậy đó, nó mang lại cho chúng em biết bao kỉ niệm thân thương, dưới mái trường mến yêu.

Đàm ngọc Hoa – 5G

Nguồn: Giáo dục/Lính Chì



Thuyết minh về con Trâu Việt Nam
Tháng 3 17, 2013

Ngày xưa, người ta phân biệt trâu lành hay trâu dữ là một phần nhờ vào đôi sừng trêm chỏm đầu: sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm cùng cặp mắt to dữ thì phải coi chừng và có biện pháp thuần phục.

Nhắc đến con trâu chúng ta nghĩ ngay đến con vật to khỏe nhưng hiền lành chăm chỉ. Trên những cánh đồng chúng ta bắt gặp hình ảnh con trâu cần mẫn kéo cày. Có thể nói con trâu gắn bó thân thiết với người nông dân VN: con trâu – là đv nhai lai thuộc họ bò, phân bộ nhai lại, nhóm sừng rỗng, bộ guốc chẵn, lớp thú có vú- loài động vật này chủ yếu vào việc cày kéo.

Nếu trâu cái TB từ 350-400 kg có tầm vóc từ vừa đến to, linh hoạt và hiền lành thì trâu đực nặng từ 400-450kg có tầm vóc lớn, cân đối, dài đòn trước cao sau thấp, tính khí hăng hái nhưng hiền lành.

Không chỉ có thế con trâu còn có 1 vị trí to lớn trong đời sống tinh thần của con người VN . Hình ảnh con trâu đi trước cái cày đi sau đã trở thành hình ảnh gần gũi bao đời nay . Chính vì vậy nó là 1 phần ko thể thíu của người nông dân. Hình ảnh con trâu ung dung gặm cỏ non , xanh mát và trên trời là những cánh diều bay cao giữa không trung đã in sâu trong tâm trí người VN. Chăn trâu thả diều là 1 trong những trò chơi của trẻ em nông thôn , 1 thú vui đầy lý thú . Trên lưng trâu còn có bao nhiu là trò như đọc sách , thổi sáo ..Những đứa trẻ đó lớn dần lên , mỗi người mỗi khác nhưng sẽ ko bao giờ quên được những ngày thơ ấu:

con trau viet nam

Hình ảnh con trâu Việt Nam

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta,
Cái cày nối nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.

Ngoài ra trâu con gắn liền với những lễ hội truyền thống như chọi trâu đâm trâu . Lễ hội chọi trâu ở HP là nổi tiếng nhất .Hải Phòng là vùng đất có truyền thống văn hoá với nhiều di tích lịch sử và danh thắng mang đặc trưng của miền biển. Trong những di sản văn hoá ấy, nổi bật là lễ hội chọi trâu Đồ Sơn – một lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Lễ hội nói chung là một sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống phản ánh cuộc sống vật chất và tâm linh của một cộng đồng trong quá khứ. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn được khôi phục lại hơn 10 năm nay và được Nhà nước xác định là 1 trong 15 lễ hội quốc gia, bởi lễ hội này không chỉ có giá trị văn hoá, tín ngưỡng, độc đáo mà còn là điểm du lịch hấp dẫn với mọi người.

Con trâu cũng có mặt trong lễ hội đình đám Việt Nam như tục chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng), tục đâm trâu ở Tây Nguyên, nhưng từ lâu lắm rồi người Đồ Sơn đã lưu truyền câu ca dao cổ:

“Dù ai buôn đâu, bán đâu
Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về
Dù ai bận rộn trăm bề
Mồng chín tháng tám nhớ về chọi trâu”

Cũng có nhiều ý kiến về nguồn gốc ra đời của lễ hội chọi trâu đưa ra những căn cứ giải thích khác nhau, nhưng ở Đồ Sơn vẫn có câu thành ngữ “Trống mọi làng cùng đánh, thánh mọi làng cùng thờ” để lập luận Hội chọi trâu ra đời cùng với việc trở thành hoàng làng. Không những thế để nói lên sự sung túc, thành công của nhà nông có câu:

Ruộng sâu, trâu nái

Tìm hiểu nguồn gốc ấy để thấy rằng lễ hội chọi trâu có một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống người Đồ Sơn từ xưa tới nay. Ngoài nhu cầu vui chơi, tìm hiểu, qua lễ hội người ta tưởng nhớ đến công ơn của các vị thần, duy trì kỷ cương làng xã, để cầu nguyện cho “nhân khang, vật thịnh”.Chọi trâu không chỉ đơn thuần “hai con trâu chọi” mà nó đã trở thành tục lệ, tín ngưỡng độc đáo ở vùng biển Đồ Sơn. Người dân đặt vào lễ hội niềm tin và hy vọng bởi những cặp trâu chọi sẽ quyết định thắng thua, thành bại cho phe giáp ngày trước, phường xã ngày nay. Người Đồ Sơn gắn lễ hội chọi trâu với việc thờ cúng thành hoàng làng với mong muốn những chuyến đi biển thuận buồm xuôi gió, cho nên ngày Hội càng trở nên thiêng liêng, trang trọng. Vào Hội, mọi người được dịp hoà mình vào cộng đồng để tình cảm kết nối bền chặt, gắn bó hơn. Vì thế mà tinh thần đoàn kết, ý thực cộng đồng cũng được duy trì, khẳng định.

Con trâu được xem là một con vật linh thiêng bởi vì nó nằm trong mười hai con giáp mà người VN cũng như người phương Đông dùng để tính tuổi, tính năm. Ngoài ra, con trâu còn được đưa vào nhiều bức tranh của làng tranh Đông Hồ nổi tiếng như bức tranh “Trẻ em cưỡi trâu thổi sáo”. Và con trâu cũng đã được xem là biểu tượng của Seagames 22. ĐNA tổ chức tại VN. Biểu tượng Trâu Vàng mặc quần áo cầu thủ đón các vận động viên của các nước bạn vào ngày 25/12/2002 là sự tôn vinh con trâu VN người dân VN.

Con vật thiêng này cũng là con vật đã in đậm vào kí ức tuổi thơ khi nhớ về làng quê. Nhà thơ Giang Nam đã ghi nhận kí ức tuổi thơ khi nhớ về quê hương:

“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ
Ai bảo chăn trâu là khổ
Tôi mơ màng như chim hót trên cao.”

Ngày nay, có rất nhiều máy móc hiện đại đã xuất hiện khắp nơi trên cánh đồng làng quê VN nhưng con trâu vẫn là con vật gắn bó thân thiết với người nông dân. Trâu luôn là con vật không thể thiếu ở lầngng quê VN-con vật linh thiêng trong sâu thẩm tâm hồn người dân VN. Con vật thiêng ấy sẽ mãi mãi in đậm trang kí ức của người dân V nhất là những người xa xứ.

Nguồn: Giáo dục/Lính Chì



Bài văn tả quang cảnh giờ chào cờ đầu tuần
Tháng 3 17, 2013

Bầu trời cao trong xanh, ánh nắng trải rộng khắp sân trường. Ông mặt trời tinh nghịch nheo mắt cười. Chị gió lướt nhẹ trên mặt đất. Những chú chim đua nhau hót ríu rít. Những bông hoa thi nhau khoe sắc toả hương như các bạn học sinh trong bộ quần áo đồng phục chỉnh tề, khăn quàng đỏ tung bay trên vai áo. Các bạn học sinh đang háo hức tới trường. Trên khán đài, cột cờ cao, thẳng, lá cờ tung bay phấp phới trên đỉnh cột. Cô tổng phụ trách đội đang chuẩn bị cho buổi lễ chào cờ.

Sau ba hồi trống báo hiệu giờ xếp hàng, các bạn học sinh nhanh chóng ổn định vị trí cho từng lớp. Đội trống cũng đã đứng sẵn trên lễ đài. Cô tổng phụ trách điều khiển buổi lễ chào cờ bằng lời hô dõng dạc: “Nghiêm! Chào cờ…Chào!” Cả một rừng cánh tay giơ lên đều tăm tắp. Những cặp mắt dõi theo lá cờ Tổ quốc đang bay xen với nhịp dồn dập. Lúc này chị gió như ngừng bay, ông mặt trời nhìn thẳng vào lá cờ, những chú chim như ngừng hót, các bạn cây không nói chuyện xào xạc nữa để cùng chào cờ với chúng em. Lời hát Quốc ca trầm hùng vang lên khiến em liên tưởng từng đoàn quân ra trận theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc:

chao co

     “ Nước còn giặc còn đi đánh giặc

Chiến trường giục giã bước hành quân”

Sau đó là lời hát Đội ca làm dậy lên khí thế xây dựng đất nước. Đáp lại tiếng hô khẩu hiệu của cô phụ trách: “Vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lí tưởng Bác Hồ vĩ đại sẵn sàng.” là tiếng đáp “ Sẵn sàng” vang lên như sấm dậy. “Xin kính mời các vị đại biểu, các thầy cô giáo cùng toàn thể các em học sinh nghỉ, đội cờ, đội trống về vị trí” cô tổng phụ trách nói. Và bây giờ, phần quan trọng và hồi hộp nhất: sơ kết thi đua. Cô Hằng đọc số điểm thi đua  và tên các lớp nhận được cờ thi đua của liên đội: “ Lớp 5G”. Các bạn lớp em reo lên sung sướng. Cuối cùng là lễ phát động thi đua chào mừng ngày quân đội nhân dân Việt Nam 22 tháng 12. Chúng em sẽ vẽ tranh, sưu tập ảnh, hát các bài về chú bộ đội. Vẫn như mọi tuần, học sinh được học hát bài: “ Nhớ mùa thu tháng 10”. Các bạn học sinh lần lượt vào lớp chuẩn bị cho tiết học tiếp theo.

Trong giây phút quan trọng và thiêng liêng của buổi lễ chào cờ, hình ảnh lá cờ được đặt lên cao nhất. Em sẽ cố gắng học tập tốt để xứng đáng với thế hệ cha anh đi trước.

Nguồn: Giáo dục/Lính Chì



Tuyển tập những bài văn tả mẹ lớp 5
Tháng 3 17, 2013

 Bài 1:

Trong gia đình, vì em là con út nên ai cũng thương yêu em hết mực, nhưng mẹ là người gần gủi, chăm sóc em nhiều nhất.

Năm nay, mẹ em gần bốn mươi mốt tuổi. Với thân hình mảnh mai, thon thả đã tô đậm cho mẹ với vẻ đẹp của người mẹ hiền từ, mái tóc đen óng mượt mà dài ngang lưng được mẹ thắt lên gọn gàng khi ra đường. Đôi mắt mẹ đen láy luôn nhìn em với ánh mắt trìu mến gần gũi. Khuôn mặt mẹ hình trái xoan với làn da trắng. Đôi môi mỏng đỏ hồng nằm dưới chiếc mũi cao thanh tú làm cho càng nhìn càng thấy đẹp. Khi cười nhìn mẹ tươi như hoa, đóa hoa hồng vừa nở sớm mai. Đôi bàn tay mẹ tròn trịa, trắng trẻo đã nuôi nấng, dìu dắt em từ thưở em vừa lọt lòng. Giọng nói của mẹ đầy truyền cảm, lúc mượt mà như tiếng ru, lúc ngân nga như tiếng chim họa mi buổi sớm. Mẹ em may và thêu rất đẹp, đặc biệt là may áo dài, thường ngày mẹ hay mặc bộ đồ bộ gọn gàng, khi đi dạy học mẹ mặc những bộ áo dài cũng do mẹ tự may trông thật duyên dáng, sang trọng.

Ở nhà, mẹ là người đảm nhiệm công việc nội trợ. Mẹ giao cho em các công việc nhẹ nhàng như: quét nhà, gấp quần áo… Còn ba thì phụ mẹ giặt đồ, dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, thỉnh thoảng mẹ mua hoa về chưng ở phòng khách cho đẹp nhà. Mỗi khi khách đến mẹ luôn đón tiếp nồng hậu, mời khách đĩa trái cây và nước mát. Sáng mẹ là người thức dậy sớm để chuẩn bị thức ăn sáng cho cả nhà, để hai anh em cùng cắp sách đến trường kịp giờ học. Khi em ốm đau mẹ phải thức suốt đêm để chăm sóc. Buổi tối, mẹ thường dành khoảng ba mươi phút để giảng bài cho em, sau đó mẹ ngồi chấm bài, soạn giáo án chuẩn bị cho tiết lên lớp ngày mai ở trường… Mẹ rất nhân hậu, hiền từ, khi lên lớp mẹ xem học trò như các con của mình, cũng dìu dắt thương yêu hết mực nên mẹ được rất nhiều học sinh yêu mến. Khi em phạm lỗi, mẹ chỉ nhắc nhỡ chứ không mắng và cũng chưa đánh em bao giờ.

Mẹ em thật đáng quí, em luôn yêu thương mẹ và tự hào vì được làm con của mẹ. Mỗi khi được mẹ ôm ấp, nằm trong lòng mẹ em cảm thấy thật ấm áp. Trong trái tim em, mẹ là tất cả, mẹ là cô tiên tuỵêt vời nhất trong cuộc đời em… Em mong sao cho mình mau lớn để có thể giúp cho mẹ đỡ vất vả hơn. Em hứa sẽ chăm học và cố gắng học thật giỏi để trả ơn cho mẹ và thầy cô đã dạy dỗ, nuôi nấng em nên người. Mẹ ơi, con yêu mẹ lắm!

Yến Khanh

Ngày 25 tháng 11 năm 2009

Tấm lòng của mẹ là biển cả bao la đối với con, và con hiểu rằng không có ai thương con hơn mẹ. Ôi, mẹ kính yêu của con. Con yêu mẹ hơn tất cả mọi thứ trên cõi đời này và vì mẹ chính là mẹ của con. “Đi khắp thế gian không ai tốt bằng Mẹ….

me di cho

Bài 2:

 Hằng ngày, sau giờ làm việc, mẹ lại tất bật với các công việc nội trợ. Mẹ luôn muốn nấu cho gia đình những bữa ăn thật ngon, đồng thời cũng muốn chỉ dạy cho em cách thức nấu ăn nên mẹ bảo em xuống bếp phụ mẹ một vài việc.

Năm nay, tuổi mẹ đã gần bốn mươi. Mái tóc ngắn, gọn gàng đã tạo cho mẹ một dáng vẻ thật khỏe mạnh. Đặt chiếc giỏ đi chợ xuống, mẹ với lấy cái cài tóc để cố định tóc cho gọn gàng. Em tíu tít bên mẹ dành phần phụ việc. Mẹ đưa rổ gạo cho em vo rồi đổ vào nồi cơm điện và nhấn nút. Trong khi chờ cơm chín, mẹ nhanh nhẹn lấy thức ăn trong giỏ ra và đặt lên bàn bếp. Mẹ thật khéo chọn, thực phẩm nào cũng tươi roi rói. Rồi mẹ cùng em lặt rau, bàn tay mẹ thoăn thoắt lựa sạch những lá úa cọng già. Em nhanh nhẹn dành phần rửa rau để mẹ bày thớt và dao làm các món chính. Mẹ cầm từng con cá tươi, khéo léo cắt sạch vi, đuôi, vẩy rồi cẩn thận móc hết ruộc và mang của chúng. Từng lát thịt mỏng, đều tăm tắp cũng đã được mẹ xắt xongvà ướp gia vị. Khi cơm đã sôi, mẹ lấy đũa quậy tròn gạo để hạt gạo thấm đầy nước rồi đậy nắp lại. Mẹ bắc nước lên để nấu canh, tranh thủ kho thịt chiên cá.

Với tài nấu nướng của mẹ, chẳng mấy chốc mâm cơm nóng hổi đã sẵn sàng. Đĩa thịt kho đậu hủ bổ dưỡng cùng đĩa cá chiên vàng ươm thơm phức đặt cạnh tô canh cải ngọt xanh mướt. Em bày chén đũa ra rồi nhanh nhảu chạy lên mời ba và em trai ăn cơm. Mọi người vừa ăn vừa xuýt xoa khen ngon. Mâm cơm hết sạch đã chứng tỏ mẹ là người nội trợ tài ba nhất.

Em rất ngưỡng mộ mẹ vì mẹ luôn biết cách nấu cho cả nhà những bữa cơm bổ dưỡng đúng theo thể trạng mỗi người. Em càng yêu mẹ hơn vì nhờ có sự chăm sóc chu đáo của mẹ mà em ngày càng cao lơn, khỏe mạnh. Em sẽ cố gắng học giỏi để mẹ luôn hài lòng.

Bài 3:

Trong ngôi nhà nhỏ dễ thương của em, có 1 người yêu dấu luôn luôn tất bật lo cho tổ ấm thân yêu đó chính là mẹ. Đối với em mẹ đẹp nhất khi chuẩn bị cho ba con em bữa tối.

Năm nay, tuổi mẹ đã ngoài ba mươi. Mái tóc ngắn, gọn gàng đã tạo cho mẹ một dáng vẻ thật khỏe mạnh. Như thường lệ, vào buổi chiều, vừa đi dạy học về, thay áo xong mẹ nhanh nhẹn cùng em đi chợ rồi xuống bếp nấu cơm. Đặt chiếc giỏ đi chợ xuống, mẹ với lấy cái cài tóc để cố định tóc cho gọn gàng. Em tíu tít bên mẹ dành phần phụ việc. Mẹ đưa rổ gạo cho em vo rồi đổ vào nồi cơm điện và nhấn nút. Trong khi chờ cơm chín, mẹ nhanh nhẹn lấy thức ăn trong giỏ ra và đặt lên bàn bếp. Mẹ thật khéo chọn, thực phẩm nào cũng tươi roi rói. Rồi mẹ cùng em lặt rau, bàn tay mẹ thoăn thoắt lựa sạch những lá úa cọng già. Em nhanh nhẹn dành phần rửa rau để mẹ bày thớt và dao làm các món chính. Mẹ cầm từng con cá tươi, khéo léo cắt sạch vi, đuôi, vẩy rồi cẩn thận móc hết ruộc và mang của chúng. Từng lát thịt mỏng, đều tăm tắp cũng đã được mẹ xắt xongvà ướp gia vị. Khi cơm đã sôi, mẹ lấy đũa quậy tròn gạo để hạt gạo thấm đầy nước rồi đậy nắp lại. Mẹ bắc nước lên để nấu canh, tranh thủ kho thịt chiên cá.

Với tài nấu nướng của mẹ, chẳng mấy chốc mâm cơm nóng hổi đã sẵn sàng. Đĩa thịt kho đậu hủ bổ dưỡng cùng đĩa cá chiên vàng ươm thơm phức đặt cạnh tô canh cải ngọt xanh mướt. Em bày chén đũa ra rồi nhanh nhảu chạy lên mời ba và em trai ăn cơm. Mọi người vừa ăn vừa xuýt xoa khen ngon. Mâm cơm hết sạch đã chứng tỏ mẹ là người nội trợ tài ba nhất.

Ôi!Nhờ có mẹ, ngôi nhà em thật hạnh phúc và đầm ấm biết bao nhiêu. Em yêu mẹ lắm, yêu cả cái hình bóng nhỏ nhẹ khi nấu cơm cho cả nhà. Em sẽ cố gắng học giỏi để mẹ vui lòng.

Bài 4:

 
Hồi tiểu học, con đã có những bài văn biến mọi vật theo mẫu, đại loại nếu là con mèo thì đó sẽ là con mèo thân bằng phích, đầu bằng quả tennít, và chân bằng que, nếu bài văn là kể về một việc mà em đã từng giúp bố mẹ thì chắc chắn cả lớp sẽ viết theo kiểu: em phơi quần áo hộ mẹ và rồi trời mưa theo kịch bản, kiểu gì cũng có tiết mục thu quần áo. Mẹ cũng không ngoại lệ, tóm lại trong những bài văn mẹ đều đẹp mảnh mai như thần tượng hàn quốc, luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu như bảo hiểm và mẹ chẳng mắng con bao giờ đâu, mẹ trong những bài văn đều là những người mẹ hoàn hảo hết.

Thôi được, con thừa nhận, mẹ không hoàn hảo thế đâu. Mẹ đậm người chứ không mảnh mai,mẹ luôn than phiền khi thấy bụng mình to thêm nhất là khi tuổi thêm thì việc giữ dáng càng khó khăn hơn, mẹ bận rộn và nhiều khi chẳng nghe con nói lấy một lần, hồi con còn nhỏ mẹ chẳng bao giờ kể chuyện cổ tích như trong bài văn con kể và cũng chẳng bao giờ thưởng khi con có đạt điểm giỏi chăng nữa. Mẹ cũng không phải là người mẹ hiền lành khi mẹ thật ra là thẩm phán kiêm cảnh sát đồng thời là một cái loa thông báo trong nhà. Mẹ không hoàn hảo, dĩ nhiên, làm sao có thể bắt một người mẹ của một đứa con không hoàn hảo phải là một người mẹ hoàn hảo chứ?

Con chẳng phê phán gì những bài văn mẫu giả tạo ấy bởi vì khi đó con chưa thể định hình mình phải viết những gì trong mình bài văn tả mẹ và những bài văn ấy đã giúp con hiểu căn bản những gì cần có trong một bài văn. Bây giờ khi con có thể viết một bài văn theo ý mình thì mẹ không còn là một “bài tập làm văn “ mà con phải suy nghĩ nữa, thế là sai lầm, mẹ nhỉ? Sao con không viết bài văn tả lại mẹ của con nhỉ ?

Nhiều khi con thấy cách nhìn của con sai lệch, nhiều khi con nghĩ rằng mẹ nuôi con không phải là quá vất vả, hình như điều kiện vật chất khiến người ta đánh gía thấp công lao của người sinh thành ra mình? Mẹ không phải tảo tần một nắng hai sương, điều kiện hiện tại giúp mẹ không chỉ chăm sóc được gia đình mà còn chăm sóc được bản thân mình,, mẹ khoẻ mạnh và chịu khó tập thể dục cho giảm cân, mẹ biết ép tóc và làm đẹp và mẹ cũng có nhiều mối quan tâm khác ngoài gia đình. Mẹ là một người mẹ bình thường như bao người mẹ khác, mẹ chăm lo cho gia đình mình, gặp gỡ những người bạn của mẹ, trò chuyện trao đổi luôn về công việc gia đình của mình và “nói xấu” con cái (chuyện, tật xấu của những bà mẹ mà), mẹ cũng kì vọng quá cao vào con, cũng so sánh con với một siêu nhân đó là… con nhà người ta, mẹ cũng luôn là người cằn nhằn mỗi khi con vào mạng quá lâu và gõ đầu khi công việc tề gia nội trợ là một công việc khó khăn với con :” Bố cô, làm ăn thế này thì có ngày mẹ chồng bắt tôi mang con gái về”, mẹ nhiều khi cũng bực bội  trong công việc và mẹ nóng tính gắt gỏng với con một cách vô lí. Mẹ không hoàn hảo như trong văn chương nhưng như thế mới là mới thật là mẹ chứ?

Nam con 18 tuổi, trường tổ chức lễ tri ân ra trường, lúc đó con mới nhớ rằng những bài văn lớp 5 xếp vào xó kỉ niệm cũng là lúc mẹ và bố không được nhắc đến trong những bài văn đó nữa. Lúc đó, con nghĩ với bố mẹ mới, bố mẹ của 7 năm sau những bài văn lớp 5 có khác gì không nhỉ? Con nhận ra sự cố gắng của bố mẹ đã giúp nhà ta có điều kiện để con có chốn ăn học tốt hơn, mẹ vẫn luôn kể cơn bão đã từng làm hỏng mái nhà cấp 4 của mình như thế nào, cả nhà ướt hết, bố mẹ đã phải chuyển con khắp nhà để tránh chỗ ngủ của con bị ướt nhưng khi con nhìn mái nhà của mình bây giờ thì con biết điều đó khó xảy ra. Mẹ và bố không vất vả như trước nữa nhưng như vậy có sướng không nhỉ? Con giật mình nghĩ rằng là không. Mẹ không phải tảo tần một nắng hai sương nhưng công việc vẫn đè nặng lên mẹ, mẹ cũng đau đầu khi vừa phải lo công việc của mẹ vừa phải lo gia đình và nếu mẹ về già chắc hẳn sức khoẻ mẹ sẽ không còn tốt được nữa,  những chứng bệnh của tuổi già và của vóc dáng như tiểu đường và các bệnh về tim mạch đang đe doạ mẹ khi con học ngày lên cao, mẹ còn phải lo nhiều nữa và điều đáng buồn nhất là những đứa con chưa khiến mẹ thật an tâm, con gái mẹ đi chợ không thật giỏi, làm việc nhà hãy còn vụng và hẳn điều mẹ lo nhất là mẹ sẽ già trước khi những đứa con kịp khôn lớn.

Những điều nhỏ bé góp phần tạo ra gia đình mình, mẹ nhỉ, con gửi mẹ bức thư tri ân mà cô giáo trả lại cho con vì theo cô, nó nên lồng kỉ niệm vào. Con giữ nguyên bởi con nghĩ chỉ cần đọc lướt qua thôi là quá đủ để mẹ nhớ lại quá trình con ra đời đến khi trưởng thành sau này vì mẹ là mẹ con mà, mẹ thân yêu.

“Một ngày đi qua là một ngày con mong bố mẹ luôn mạnh khỏe, sống hạnh phúc với các con, mong bố có một ngày đi làm vui vẻ, mong cho mẹ làm việc điều độ để bảo vệ sức khỏe của bởi con biết bố mẹ đang cố hết sức bỏ công xây dựng cho con một con đường đi an lành.

“Con chỉ cần hiện diện bên bố mẹ để chia sẻ những gì bố mẹ đang sống và cảm thông cho bố mẹ như bố mẹ đã làm cho con từ lúc con chào đời”, lời tâm sự của một bậc cha mẹ ấy khiến con phải suy nghĩ, thử đặ con trong vai của bố mẹ và đặt lên bàn cân để so sánh những gì mà con đã cho đi và những gì con đã nhận được trong suốt 18 năm qua từ bố mẹ.

Con đã cho thời gian qua đi, thời gian mà đáng lẽ ra con phải ngồi vào bàn học và con đã nhận được thời gian mà mẹ giành việc nhà để con có thêm được một chút thời gian cho ôn thi năm cuối. Con đã cho đi sức khỏe vì đã thức qua khuya để xem ti vi và nhận được những lời quan tâm lo lắng liệu con có ốm không. Con đã cho đi sự cáu bẳn không đáng có, sự đòi hỏi và nhận lại được những lời dạy dỗ, trách mắng. Con đã cho đi những sai lầm và nhận được những bài học, con đã cho đi những câu chuyện và nhận được sự lắng nghe. Đó là những gì con được nhận và sẽ là những thứ sau này con sẽ cho đi. Có khi những thứ con nhận được là sự cáu gắt vô lí, sự khắt khe từ bố mẹ nhưng con hiểu rằng đó là do sự mệt mỏi của bố mẹ khi đang cố xây dựng cho con một đường đi an lành sau này.

Người ta nói rằng cho đi sẽ giàu thêm, nhưng với con, những gì mà con nhận được trong 18 năm qua đang làm giàu trái tim và khối óc của con. 18 năm trên đường đời là 18 năm “sổ nợ” của “kẻ nhận được” dầy thêm và có thể dày thêm nữa vì con đã nhận được sự kì vọng nhưng có thể con sẽ cho đi sự thất vọng, có thể “sổ nợ” của con sẽ quá hạn để thanh toán bởi trên con đường đó có thể con chưa cố gắng hết sức,”người cho đi” lại vất vả và nặng nhọc thêm khi mỗi năm qua đi thì con mong cha mẹ hãy tha lỗi cho những sai lầm thất vọng của con và hãy tin con có thể thành công bằng chính đôi tay của mình.

Nếu một ngày con nói rằng “sổ nợ” của con đã không còn tức là con là một kẻ bất hiếu bởi lẽ tình yêu thương con nhận được là một thứ tình cảm không ngừng được nảy nở và bổ sung thêm, tình cảm mà bố mẹ dành cho con đó là thứ tình cảm mà không tình cảm nào khác có thể lấp đủ vào được, một thứ mà con luôn nợ những người đã sinh thành và chăm sóc con. Con cảm ơn con đường mà cha mẹ đang cố gắng xây dựng cho con dù con có đi con đường đó hay không vì nó luôn tạo cho con một lối thoát khi con bế tắc và con cảm ơn cha mẹ những người đã, vẫn vã sẽ tiếp tục yêu thương con, chăm sóc và dạy dỗ con trong suốt quãng đời của mình.”

Nguồn: Giáo dục/Lính Chì



Bài văn xúc động của cô học trò nhỏ
Tháng 3 17, 2013

“Bố ơi! Con nhớ bố lắm! Biết đến bao giờ bố và em trở về ngôi nhà mình để cả nhà lại sống như ngày xưa hả bố? Con nhớ bố lắm bố ơi!”

Có đôi khi mình cảm thấy hạnh phúc và may mắn khi có cơ hội để khám phá thêm những mảnh nhỏ cuộc đời. Những cung bậc vui buồn dằn vặt của những tâm hồn mong manh qua các bài văn học trò. Thường là trong 90 phút viết bài hai tiết, tâm hồn vốn nhậy cảm và chân thực ấy biểu hiện nhiều điều.

Trong những bài văn ấy, có một bài văn mà làm mình xúc động vô cùng. Đề văn với yêu cầu: Em hãy viết những cảm xúc của mình về một người thân nay đã xa.

Con bé ấy khi đọc đề là bắt đầu viết cắm cúi. Mình yên lặng chờ đợi. Nó viết và hầu như không ngẩng lên trong suốt thời gian ấy, chỉ có điều mình nhận rõ con bé vừa viết vừa khóc. Nó nộp bài cho mình đầu tiên rồi ngồi yên lặng.

viet ve bo

“Tôi có một gia đình nhỏ bé. Bố, mẹ và cậu em trai nghịch ngợm lắm. Bố thì bận công việc suốt ngày những lại nấu ăn rất giỏi và vui tính nữa. Bao giờ cũng vậy, vào cuối tuần là bố trổ tài nấu nướng. Khi bầy thức ăn lên bàn rồi, tôi mới thấy bố tài ba đến thế nào.

Bố hay cười và vì thế mà không khí gia đình tôi rất vui. Bố rất yêu hoa phong lan và thường chăm sóc nó. Đặc biệt là giò phong lan móng rồng mầu vàng.

Chiều nào cũng vậy, tôi cùng bố lên chăm sóc những khóm hoa phong lan ấy. Hương thơm của hoa , sự chăm chỉ của tôi và bố khiến giàn hoa nhà tôi đẹp lắm! Tôi thấy mình có một gia đình thật là hạnh phúc.

Nhưng rồi, niềm hạnh phúc của gia đình tôi thật là ngắn ngủi. Mẹ đi làm về muộn hơn. Bố mẹ thường đóng cửa và cãi vã nhau. Lúc đó, tôi và em chỉ biết bảo nhau im lặng.

Tôi sợ không khí ấy, sợ một điều gì đó sẽ đến với gia đình mình. Thế rồi nó đã đến thật.

Tôi khóc mãi khi nghe mẹ nói với tôi rằng: Bố mẹ sẽ ly hôn, em sẽ ở với bố và con sẽ ở với mẹ. Tôi xin mãi mà bố mẹ không nghe lời tôi.

Tôi khóc, em trai cũng vậy. Tôi ôm em trai và buồn vô cùng khi nghĩ rằng nó sẽ phải về một nơi xa để sống cùng bố và ông bà nội.

Bố và em đi rồi. Trong nhà bây giờ chỉ còn tôi với mẹ. Tôi thấy căn nhà rộng quá. Tối đến, mẹ vào phòng làm việc rồi, chỉ còn mình tôi. Tôi nhớ em, nhớ bố. Tôi nhớ bố lắm. Bằng giờ này mọi khi bố cũng lúi cúi trong phòng làm việc, bên bản vẽ.

Tôi nhớ tiếng bố đi hay kéo đôi dép xốp lẹt xẹt, nhớ cách bố hút thuốc lá, nhớ tiếng ho của bố, nhớ nụ cười của bố. Tôi nhớ những buổi tối cuối tuần với bữa ăn mà bố chế biến cùng nụ cười bố hiền từ biết bao.

Tôi không ngủ được. Suốt đêm tôi nghĩ về bố, nghĩ về ngôi nhà rộng và lạnh lẽo chỉ có hai mẹ con, tôi khóc ướt đầm cả gối mà mẹ không biết.

Mấy tuần rồi, tôi không dám lên tầng để tưới cho những giò hoa phong lan. Tôi sợ lên đó. Vì nơi đó sẽ gợi nhớ hình ảnh thân yêu và cặm cụi của bố mỗi buổi chiều ngày xưa. Bố yêu hoa lắm mà. Tôi không lên đó nữa.

Nhưng rồi chiều nay, không hiểu sao, tôi đã lò dò bước lên. Khi nhìn những giò hoa phong lan yêu quí, tôi ngồi xụp xuống và không ngăn được dòng nước mắt.

Những giò hoa phong lan của bố xanh mướt là thế, hoa đẹp là thế mà đang dần chết héo vì thiếu nước. Những chiếc lá lan vàng úa, khô khỏng. Tôi vội vã tưới nước và thì thầm nói lời xin lỗi… Tha lỗi cho ta nhé Lan. Tại tao sợ nhìn chúng mày… Tại tao nhớ bố quá.
Lâu rồi, tôi không gặp bố. Mà có lẽ gần một tháng rồi, bố không gọi điện cho tôi. Tôi nhớ bố và mong gặp bố biết chừng nào. Bố ơi! Con nhớ bố lắm! Biết đến bao giờ bố và em trở về ngôi nhà mình để cả nhà lại sống như ngày xưa hả bố? Con nhớ bố lắm bố ơi!”

Đọc bài viết của con bé, mình không kìm nổi xúc động và bảo ngay: Cho cô xin số điện thoại của bố.! Mình chạy ra ngoài và gọi.

Không biết trước sau mình đã nói những gì bởi vì mình nói trong một tâm trạng đầy xúc động.

“Tôi là giáo viên dậy văn của cháu. Tôi không biết hoàn cảnh gia đình mình cho đến khi đọc bài văn của cháu hôm nay.

Có thể vì một lý do nào đó mà gia đình mình không còn vẹn toàn song là một giáo viên, cũng là một người mẹ nữa, tôi mong anh chị đừng làm tổn thương con trẻ, bù đắp cho cháu để nó không cảm thấy mất mát quá.

Bởi vì tôi thấy trong bài viết , cháu nó rất yêu bố, rất mong gặp bố, mong bố trở về. Tự nhiên tôi nghĩ đến trách nhiệm và đôi khi là sự ích kỷ của người lớn chúng ta anh ạ.

Chúng ta mải mê quá, tìm điều gì xa xôi mà không để ý tới tình yêu thương và hạnh phúc của các con mình đang dành cho ta đang ở rất gần.

Tôi xin lỗi vì nói nhiều tới chuyện gia đình xong mong anh hãy trở về thăm cháu nhiều hơn anh ạ, gọi điện cho cháu nữa. Con gái anh là một đứa trẻ nhậy cảm và giàu tình yêu thương… nó rất yêu anh.”

Có thể người cha ấy nhận ra cảm xúc của mình khi nói nên giọng trầm xuống buồn bã. Người cha ấy nói lời cảm ơn mình và xin lại bài văn viết của con gái. Anh hứa sẽ về thăm cháu thường xuyên hơn và vì hoàn cảnh công việc luôn phải xa nhà. Anh hứa sẽ dành nhiều thời gian hơn cho con gái…

Sau buổi học, mẹ cô bé đến đón, mình gọi ra một góc và nói chuyện đó. Người mẹ trẻ nghe xong câu chuyện về con gái không nói một câu nào mà chỉ ngồi khóc mãi không thôi.

Có lẽ một điều linh cảm nào đó cho mình biết nguyên nhân có thể bắt đầu từ người mẹ và sau đó mình đã không lầm.

Một tuần sau, con bé thì thầm nói với mình. Bố em về thăm em cô ạ. Một tuần 3 lần cô ạ. Bố còn gọi điện liên tục cho em nữa. Bố nói chuyện với mẹ rất lâu cô ạ. Đôi mắt con bé ngập đầy hạnh phúc.

Hết học kỳ 1 con bé lại thì thầm thông báo: Bố em nói rằng: Hết học kỳ I này sẽ chuyển cho em trai lên thành phố học cô ạ. Em vui lắm.

Và một thông báo mới toanh trước khi nghỉ tết. Bố và em trai em về nhà ăn Tết rồi cô ạ. Bố chuyển hết đồ về nhà rồi. Chiều qua, em với bố lại lên tưới hoa phong lan. Bố mẹ em làm hòa với nhau rồi cô ạ. Cô ơi! Có phải là do bài văn của em không cô.?

(Theo Giáo dục)



Bài văn miêu tả người thân xúc động nhất
Tháng 3 17, 2013

 Mọi người chúng ta ai cũng được sinh ra và lớn lên trong vòng tay âu yếm của mẹ hiền. Vẫn biết bên mình có biêt bao nhiêu người thân yêu – đến trường ta có bạn bè thân thương, có ngôi trường thương mến, có thầy cô kính yêu hằng ngày vỗ về, dạy dỗ … nhưng chắc chẵn có ai không cảm nhận được tình yêu thương đầy ắp, nồng ấm của người mẹ hiền đi theo ta đến suốt cuộc đời là cao cả nhất.

Tình yêu đó cứ lớn dần theo năm tháng, đến bây giờ khi bước chân vào trường trung học phổ thông ta mới phần nào hiểu được tình yêu thiêng liêng của mẹ.

Một sớm mai thức dậy, ta đã cảm nhận được bàn tay mẹ hiền ôm ấp đêm qua, giờ đây lại chuẩn bị nắm cơm buổi sáng trước lúc ta đến trường. Khi ta vào lớp, bàn tay mẹ lại tần tảo nắng mưa ngoài nương rẫy lo cho ta buổi cơm thường nhật, từng mảnh áo ấm trong những tiết trời lập đông. Cứ thế, tình mẫu tử luôn hiện hữu, cứ mãi chở che, mơn trớn, vỗ về, yêu thương, trìu mến trên mỗi nẻo đường con đến lớp.

Tình mẹ tràn đầy, trinh trắng như mặt nước hồ thu buổi sớm mà vẫn chân chất, mộc mạc, gần gũi tinh tươm tựa trang giấy học trò. Có lẽ khi con người còn chưa biết mặt chữ thì tình mẫu tử đã thể hiện đủ đầy, lung linh như ánh trăng rằm trong những câu ca dân gian xưa. Nay trên tất cả các phương tiện trao đổi thông tin, nghệ thuật, hình ảnh người mẹ lại càng được tôn vinh hơn nhưng chắc vẫn chưa bao giờ đủ để nói lên sự hy sinh và tình yêu người mẹ dành cho ta.

tinh me

Ảnh minh họa (nguồn: Internet)

Từ tấm bé, khi biết cảm nhận cuộc đời, tình mẹ luôn dần lớn lên bên con theo năm tháng…

“ Ầu ơ … ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi, Khó đi mẹ dắt con đi…”

Câu hát ru con bất ngờ của nhà ai hàng xóm trong đêm sâu quạnh quẽ của miền quê có lẽ cũng đủ đưa ta theo nguồn yêu thương của tình mẹ bao la! Tình mẹ thể hiện mọi nơi trên trái đất nầy với bất kỳ không gian nào.

Một sớm mai trong bài giảng của thầy ở lớp, vẫn còn nhớ như in câu hò đầm ấm, du dương mà mênh mông tình mẫu tử:

“Hò ơ! Mẹ già như chuối chín cây, Gió lay mẹ rụng… gió lay mẹ rụng … con phải mồ côi”.

Buổi chiều về, đem cảm xúc nầy thổ lộ với ba, con lại nghe ba sụt sùi tiếc thương đã một lần lầm lỡ khi vô tình để mẹ buồn lúc tuổi thời cắp sách. Ba rất sợ mồ côi chăng? Có lẽ thế! Mồ côi với tình yêu thiêng liêng bất tận! Mồ côi bàn tay chăm bẵm tự buổi sơ sinh! Mồ côi sự chở che từ tấm bé! Mồ côi ngay cả lúc đã là người lớn như ba! Mồ côi sự nuông chiều trong thời thơ dại! Mồ côi cả trong buổi xế chiều!… Ba chỉ ngậm ngùi đọc câu ca dao xưa cũ:

 “Công cha như núi Thái sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Ta chợt rùng mình sợ hãi thật sự nếu trên đời nầy, ta hay bất kỳ ai lỡ thiếu vắng đi một tình yêu thương của mẹ hiền!

Một đêm sốt xoàng thôi ta đủ biết mẹ chẳng bao giờ yên giấc, bàn tay mẹ nhẹ nhàng sờ trán thăm khám nhiệt độ, đắp chăn, tất tả lo thuốc men, rồi mẹ nấu lá xông mà khi nhỏ ta cứ ngỡ nồi lá xông là thuốc thần để con hết bệnh!

“Con ho lòng mẹ tan tành. Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi”.

Cơn sốt của con đã là cơn lửa đốt lòng mẹ! Cơn ho của con chắc đã làm khuôn mặt mẹ thêm hằn những vết chân chim!

Hình ảnh người mẹ luôn bên đời ấm áp, mãi hy sinh, chở che! Cất tiếng khóc đầu tiên chào đời là ta đã nằm trọn trong tình yêu thương đó. Từng bước đi chập chững trước tiên của đời người, ai đã cầm tay ta dắt đi từng bước một? khi lỡ ngã đau, ai lên tiếng xít xoa? Cảm nhận được nổi đau lúc nầy là ai ngoài mẹ? Ai mừng vui nhất khi ta cất tiếng nói bi bô? Khi bước chân vào trường, đằng sau ta không bao giờ thiếu vắng cặp mắt dõi theo đầy lo lắng của mẹ hiền! Và có ai tả được ánh mắt mừng vui của mẹ mỗi khi ta được điểm mười ?

Giờ đây, khi ngồi trên ghế nhà trường với những trang sách mới thơm tho như còn phảng phất mùi hương lúa mới đồng quê và những giọt mồ hôi tảo tần của mẹ, với bộ trang phục màu xanh hôm nay đây chắc không thiếu đi niềm hy vọng cho con nên người tự miền quê xa lắc. Khi phố lên đèn ta chắc mẹ mới rời công việc đồng áng, thoăn thoắt bước chân về nhà dưới làn sương đêm mà mẹ chưa một lần ta thán.

Còn nhớ như in những lúc học bài khuya, mẹ vẫn thức cùng con và ngồi bên may vá, khâu lại từng chiếc khuy, đắp bạ từng mãnh vai áo đã sờn. Ngồi bên con, chắc mẹ sợ con thức khuya không đủ sức mai dậy sớm đến trường, mẹ lại tất tả lo cho con từng ly nước cam ngọt lịm tình yêu thương. Đến khi con chim nhạn lạc bầy kêu sương đâu đó giữa không gian miên mang của đêm miền quê xứ Quảng, con lại lo rằng để mẹ cùng thức quá khuya làm sao ngày mai mẹ tiếp tục ra đồng dưới nắng?
Ảnh minh họa (nguồn: Internet)

Cũng đã có nhiều lần phạm lỗi, sau cái nhìn nghiêm khắc của mẹ, ta vẫn nhận được sự vỗ về bằng những lời khuyên mộc mạc, chân tình nhưng lắng sâu nỗi bao dung. Mỗi lần như vậy, con như lớn thêm lên, cứng cáp hơn lên và tự hứa với lòng sẽ không bao giờ phạm lỗi. Ta có biết đâu tuổi thơ vẫn cứ êm đềm trôi đi trong lúc lưng mẹ ngày thêm còng xuống theo dấu ấn ngiệt ngã của tháng năm, lỗi lầm xưa con e rằng chưa có dịp nào chuộc lại, tóc mẹ lại trắng thêm khi ta chưa kịp nên người.

Ngày tựu trường phổ thông trung học chuyên, hai mẹ con rụt rè trên phố như không khí “ngày tựu trường đầu tiên” của Thanh Tịnh. Trong trang phục của quê nghèo lạ lẩm tại góc phố phồn hoa nhưng con vẫn cảm nhận được sự rắn rỏi, cứng cáp của mẹ để con vững tin mà tiếp xúc môi trường mới mẽ. Có ai đó thì thầm xót xa, ái ngại nhưng có gì đâu? Người ta có thể có nhiều thứ hơn nhưng con vẫn tin rằng con đã có một gia sản quí nhất trên đời chưa chắc ai sánh kịp đó là tình mẹcủa con.

Hôm nay trên chiếc xe đạp mẹ mua cho con vẫn còn thơm mùi sơn mới, con đến trường trong niềm hân hoan như đang trong vòng tay mẹ, con đã tiếp cận môi trường mới, Thầy cô mới, bạn bè mới trong veo tuổi thơ học trò, con chắc vẫn không bao giờ thiếu sự lo lắng, nhớ thương của người mẹ hiền tần tảo.

Cuộc đời mẹ là cả một đời mãi hy sinh cho con, tình yêu của mẹ dành cho con mênh mông như trời biển vẫn như câu ca dao xưa đó thôi: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, và nước trong nguồn vẫn luôn chảy mãi như để tình mẹ luôn tồn tại vĩnh hằng.

Giờ đây, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tưởng như báo đáp công ơn trời biển của mẹ bằng cả sự quyết tâm học hành của con! Con hứa với mẹ con sẽ giữ mãi màu xanh đồng phục của con bên cạnh bạn bè con, của trường con luôn trong sáng như niềm tự hào của chính con, như niềm hy vọng ngọt ngào vô tư của mẹ hiền dành cho con.

Mẹ ơi! Tình mẹ thật bao la! Con chỉ là đứa bé thích luôn được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân con nên người, góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình.

Nguồn: Báo giao dục – t=Theo Lính Chì



Ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng
Tháng 3 11, 2013

Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp (23/11/1940). Tác giả sáng tạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này là đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5/3/1901 tại Hà Nam, bị địch bắt và bị xử bắn ngày 28-8-1941 cùng các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa tại Hóc Môn, trong đó có cả Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Vǎn Tần, Hà Huy Tập…). Tâm huyết của tác giả khi sáng tạo ra lá cờ Tổ quốc được khắc họa rõ nét trong bài thơ của ông

 
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì nước
Sao vàng tươi, da của giống nòi
Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sỹ nông công thương binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.

co do sao vang 
Mỗi một dân tộc, một quốc gia đều có Quốc kỳ riêng của mình. Việt Nam là một dân tộc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; Quốc kỳ Việt Nam là lá cờ đỏ sao vàng, là biểu tượng của hồn nước, lòng dân, của tình đoàn kết đời đời bền vững của đại gia đình các dân tộc Việt Nam và là biểu tượng thiêng liêng nhất, thể hiện nhiệt huyết cách mạng, sự hy sinh anh dũng của toàn thể nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đánh đuổi quân xâm lược, giành chính quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Lá cờ đỏ sao vàng, biểu tượng chung nhất của dân tộc Việt Nam, đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi một người dân Việt Nam và đã được cộng đồng quốc tế công nhận và tôn trọng.

Lá cờ đỏ sao vàng là một minh chứng khẳng định sự thống nhất, độc lập, tự chủ và hòa bình của dân tộc Việt Nam. Điều đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và lịch sử kiểm chứng trong gần một thế kỷ qua, đó là: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Lịch sử và ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng Việt Nam gắn liền với những năm tháng đấu tranh kiên cường, bất khuất, đổ máu hy sinh anh dũng của nhân dân Việt Nam đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi của Tổ quốc, giành chính quyền, thống nhất đất nước, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn để có được cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc ngày nay.

Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vã lãnh đạo cách mạng. Thời kỳ đầu, trong các cuộc đấu tranh đã xuất hiện lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh nhưng được lồng trên hình búa liềm.

Năm 1940, Xứ uỷ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam kỳ họp quyết định khởi nghĩa, đã thực hiện di huấn của đồng chí Trần Phú – Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng – lấy cờ đỏ sao vàng làm lá cờ khởi nghĩa với ước muốn là sau khi đánh đổ đế quốc Pháp sẽ thành lập nước Việt Nam Cộng hòa dân chủ và quốc kỳ Việt Nam sẽ là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh.

Tháng 5/1941 tại Khui Nậm, Cao Bằng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị Trung ương VIII quyết định thành lập tổ chức Việt Nam độc Lập đồng minh – đoạn mở đầu chương trình Việt Minh ghi rõ: “Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ”. Đây là văn bản đầu tiên, chính thức quy định Quốc kỳ của nước Việt Nam là cờ đỏ sao vàng.

Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào, Tuyên Quang đã quyết định Quốc kỳ Việt Nam là nền đỏ. ở giữa có một sao vàng năm cánh.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã ghi vào Hiến pháp: “Quốc kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”.

Sau ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông Việt Nam đã liền một dải. Từ ngày 24/6 đến 3/7/1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp tại Thủ đô Hà Nội, đã thông qua nhiều Nghị quyết quan trọng, trong đó công nhận Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

Nền đỏ tượng trưng cho màu nhiệt huyết cách mạng, màu chiến đấu và chiến thắng; màu vàng của ngôi sao tượng trưng cho sự sáng ngời của linh hồn dân tộc Việt Nam; năm cánh sao là sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp đồng bào chiến đấu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Quốc kỳ Việt Nam được tung bay trên khắp các công sở, trường học, các Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài, các cửa khẩu, các buổi mít tinh, lễ đón tiếp các đoàn khách cấp cao nước ngoài; Quốc kỳ Việt Nam cũng được giương lên cùng với Quốc kỳ của những nước trên thế giới khi các đoàn cấp cao của chúng ta đến thăm và làm việc. Cờ đỏ sao vàng Việt Nam cũng được tung bay trên từng nóc nhà mỗi một gia đình Việt Nam vào những ngày lễ hội, Tết cổ truyền…

Lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ duy nhất đại diện cho dân tộc Việt Nam, điều đó đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi một người dân Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam đã khẳng định tại cuộc họp Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946: “Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam kỳ khởi nghĩa năm 1940. Chính lá cờ này đã cùng phái đoàn chính phủ đi từ châu á sang châu Âu, từ châu Âu về châu á; cờ đã có mặt trên khắp đất nước Việt Nam. Vậy thì… trừ 25 triệu đồng bào, còn không ai có quyền đòi thay đổi Quốc kỳ và Quốc ca…”. Đó là hồn nước, niềm tự hào, biểu tượng thiêng liêng bất khả xâm phạm của bản sắc dân tộc Việt Nam.

Theo Lịch sử Việt Nam



Bài văn : Tả Chiếc Cặp
Tháng 2 23, 2013

Bài 1:

Nhân dịp sinh nhật lần thứ 5, em được tặng rất nhiều quà đẹp và lạ. Tuy nhiên, em vẫn thích nhất chiếc cặp do cô em mua tặng.

Chiếc cặp có hình chữ nhật, rất nhỏ nhắn và xinh xắn. Trên cặp có ghi nhãn OCEANFLY, một hãng làm cặp rất nổi tiếng. Cô em thật tinh ý chọn cho em một chiếc cặp có gam màu sáng, hài hoà rất phù hợp với lứa tuổi của em. nó còn được trang trí hình người đang phi ngựa nước đại và chữ viết đủ màu ngộ nghĩnh. Cặp làm từ vải bạt màu xanh tím than. Cặp làm từ vải bạt rất bền, không thấm nước và rất dễ lau chùi. Cặp có viền mép màu đen làm nổi bật cả màu xanh của cặp. Đặc biệt hơn, là nó có cả viền mép trang trí ô kẻ ca-rô xanh, trắng. Em còn nhớ bạn Chi đã nói rằng: “Cặp của cậu đẹp nhất là ở cái viền mép này đấy!”. Nó có tay xách màu vàng. Nó còn có cả quai đeo làm từ vải nhung màu xanh lá cây nữa. Hãng làm cặp thật thông minh nối thêm một sợi dây dài vào quai đeo để người dùng có thể chỉnh cho vừa vặn. Cặp được ốp thêm một miếng đệm màu vàng đậm vừa để tăng thêm phần duyên dáng vừa để tạo cho em một cảm giác êm ái khi đeo cặp.

cap sach

Cặp đứng vững là nhờ gì bạn biết không? Đó là nhờ một chiếc chân đế bằng nhựa màu vàng được gắn vào cặp bởi những chiếc đinh dẹp chắc chắn. Nó còn một ngăn nhỏ kéo phéc -mơ – tuya ốp bên ngoài cặp dùng để đựng kéo, hồ dán… Nó còn có hai ngăn ở hông làm bằng vải dù và kéo phéc – mơ – tuya. Cặp có hai khoá bằng nhựa màu vàng và được đính một miếng nhựa màu đỏ trông như hòn ngọc bích. Tách! ặ khoá mở ra. Em thấy bên trong có ba ngăn. Hai ngăn to để đựng sách vở. Một ngăn nhỏ làm tủ va ni. Cặp giúp em đựng sách vở để đi học và con như một người bạn có thể tâm sự cùng em những khi em gặp chuyện buồn.

Em giữ gìn cặp rất cẩn thận. Cứ đi học về là em cất cặp đi ngay chứ không vứt bừa bãi. Cặp như người bạn đồng hành cùng em.

Bài 2:

Chiếc cặp của em được làm bằng da thuộc, màu đen bóng. Chiếc cặp có hình chữ nhật : bề ngang khoảng năm tấc và bề cao thì chừng hai mươi phân.

Em cảm thấy mát tay khi sờ vào mặt cặp mịn . Em cũng nghe lòng mình vui vui khi nhìn hình chú mèo Đô-rê-môn in trên đó với nụ cười thật tươi. Nắp cặp ốp xuống mặt cặp. Khi đóng lại, hai chiếc khóa mạ kền bám chặt vào hai cái nút cài trên mặt cặp trông thật chắc chắn. Sách vở hay đồ dung học tập khó mà “vùng vẫy“ ra ngoài. Buổi sang đến trường, em thong thả nắm chiếc quai xách khá êm tay. Buổi trưa tan học về, em thường mang nó trên lưng bằng hai chiếc quai đeo ở sau mặt cặp. Quai đeo có thể thu ngắn hoặc kéo ra để cho em mang vừa vặn. Bên trong chiếc cặp có ba ngăn với các vách ngăn được làm bằng da mềm. Ngăn thứ nhất có phần nhỏ hẹp, em đựng nhiều đồ dung học tập. Hai ngăn lớn dành riêng cho sách vở, mỗi loại một ngăn. Chiếc cặp đã giúp em bảo vệ được sách vở và đồ dùng học tập không bị mất mát.

Em rất thích chiếc cặp của mẹ làm quà tặng. Nó vừa là một vật kỷ niệm, vừa nói lên được sự quan tâm việc học hành của bậc làm cha làm mẹ. Em luôn giữ gìn nó cẩn than và sạch sẽ đề sử dụng được lâu dài.

Bài  3:

Để chuẩn bị cho năm học lớp bốn, bố mẹ đã mua một chiếc cặp sách ở quầy bán cặp sách trẻ em.
Cặp sách hình chữ nhật. Chiều dài của cặp khoảng ba mươi xăng- ti- mét. Chiều ngang của cặp khoảng bốn mươi xăng- ti- mét. Chiếc cặp rất vừa với em. Cặp của em làm bằng vải giả da. Khi sờ tay lên da cặp em thấy rất nhẵn và mềm. Bao trùm cả cặp là màu đỏ tươi, cam nhạt và cặp còn có những viền vàng trông rất tgang nhã. Giữa cặp nổi bật hình chú gấu trắng đang lim dim sắp ngủ. Chú gấu trông mới đáng yêu làm sao! Phía trên chú gấu trắng có một dòng chữ màu xanh rêu đề Han- ri Bear, đó là một hãng nổi tiếng chuyên bán cặp sách cho trẻ em. Quai sách cặp cong cong hình chiếc cầu xinh xinh. Để tránh cho học sinh không bị lệch vai nhà sản xuất đã làm hai chiếc quai đeo bằng xốp bọc một lớp vải bên ngoài. Hai bên nách cặp có hai chiếc túi nhỏ để đựng nước. Cặp có hai chiếc khoá bằng nhựa như đôi mắt đang chăm chú nhìn em. Khi mở khoá có tiếng tách tách! Nghe rất vui tai. Nắp cặp bung ra để lộ hai ngăn to em đựng sách vở, hai ngăn nhỏ em đựng nàu, hộp bút, giấy kiểm tra và chiếc bảng con.

Ngày nào cũng thế, cặp giúp em mang sách vở đến trường. Em rất thích chiếc cặp. Cặp như một người bạn thân của em ở trường lẫn ở nhà. Em hứa sẽ giữ gìn cặp cẩn thận, không bôi mực, vẽ bẩn lên cặp để dùng được bên lâu.

Bài 4:

Năm học mới đã đến rồi, lòng em cứ xốn xang chờ đợi ngày tựu trường. Ba tháng hè xa bạn bè, thầy cô nhớ lắm!
Sáng nay, em dậy thật sớm sửa soạn sách vở, đồ dùng học tập, cẩn thận bỏ các thứ vào trong chiếc cặp mà mẹ đã mua cho em tại hiệu sách “Minh Trí” ở cố đô Huế trong dịp mẹ đi học ngoài ấy. Chiếc cặp chưa lần nào đến lớp nhưng đã trở thành người bạn thân thiết của em từ lâu rồi. Hôm cầm chiếc cặp trong tay, em thầm cám ơn mẹ đã lo lắng chu toàn cho đứa con gái út của mẹ trước lúc vào năm học mới: “Mẹ ơi! Con chưa dám hứa với mẹ sẽ đạt danh hiệu học sinh xuất sắc trong năm học này, nhưng con sẽ cố gắng với tất cả nghị lực của mình để đem lại niềm vui hạnh phúc cho bố mẹ. Mẹ yên tâm mà đi học. Ở nhà đã có bố và chị Hai kèm con học rồi. Với lại có chiếc cặp hằng ngày cùng con đến lớp, dù mẹ ở xa, con vẫn cảm thấy tấm lòng mẹ luôn ở bên con giúp đỡ và động viên con học tập”.

Mẹ đã chọn cho em chiếc cặp thật hợp với sở thích của em vừa vặn và xinh xắn. Nó được làm bằng chất liệu ni lông tổng hợp, màu xanh rêu, sợi tơ óng ánh như pha kim tuyến. Sờ vào ai cũng cảm giác mát lạnh và mềm mềm như làn da của một đứa trẻ ba tuổi. Có lẽ nó to bằng quyển sổ ghi điểm của cô giáo một chút, không cồng kềnh như cặp bạn Thủy ngồi cạnh em. Phía trên là một quai xách được bện bằng sợi ni lông bền và rất chắc. Đằng sau có hai quai đeo được mắc vào nhưng cái khóa sắt xi sáng loáng, dùng để điều chỉnh cho vừa quai đeo. Phía trước mặt thì tuyệt lắm! Một bức tranh màu, vẽ hình một chú ếch đang ngồi trên lá sen du ngoạn trong đầm. Xung quanh là những đóa hoa sen hồng đang xòe cánh đón sắc nắng vàng mùa hạ. Bức tranh được lồng vào trong một ngăn bằng tấm mê-ca mỏng, có khóa kéo đi, kéo lại. Ngăn này em dùng đựng tấm áo mưa.

Muốn mở cặp em chỉ cần bấm nhẹ vào hai chiếc khóa ở nắp cặp, nó tự động mở ra nhờ một bộ phận quan trọng làm bằng hệ thống lò xo gắn giấu vào phía trong nắp cặp. Cặp có hai ngăn chủ yếu. Ngăn lớn, em dùng để chứa những quyển sách vở trong buổi học. Còn ngăn kia nhỏ hơn, em dùng để đựng các đồ dùng học tập như: bảng con, tập giấy kiểm tra vafhoopj đựng bút cùng một số vật dụng khác. Thấy chiếc cặp của em vừa xinh, vừa gọn nhẹ lại tiện lợi nữa nên bạn nào cũng hỏi mua ở cửa hàng nào để về xin bố mẹ mua cho. Em cũng nói thật với các bạn là ở đây không có. “Mẹ mình đi học ở ngoài Huế mua cho mình đấy!”. Nghe nói vậy, bạn nào cũng chặc lưỡi có vẻ thất vọng. Thấy vậy, em nói: “Nếu bạn nào cần muanois cho mình biết. Mình sẽ điện ra cho mẹ mình mua rồi gửi bằng đường bưu điện về cho. Chỉ vài ngày là có thôi!” Thú thật, em cũng mong trong lớp có nhiều bạn đều mang chiếc cặp giống em khi đến trường.

Mải nghĩ về chiếc cặp mà suýt nữa trễ giờ đi học, em khoác vội chiếc cặp vào vai rồi chào bố và chị Hai rảo bước đến trường trong lòng rộn lên một niềm vui khó tả.

(Sưu tầm)



Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2013
Tháng 1 22, 2013

I. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 mở ra bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam:

1. Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:

Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nhà tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước, vừa xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các thuộc địa.
 
– Với thắng lợi của Cách mạng Tháng mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác-Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới – thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. Đối với các dân tộc thuộc địa, Cánh mạng Tháng Mười Nga nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức.

- Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào tháng 3-1919 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

thanh lap dang

Tranh cổ động chào mừng kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2013)
của họa sĩ Bùi Đại Hào (Hà Nội). (Nguồn: Trung tâm Thông tin triển lãm TP. Hồ Chí Minh)

2. Bối cảnh trong nước:

- Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược và từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành thuộc địa nửa phong kiến.

+ Về chính trị: thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam.

+ Về kinh tế: thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.

+ Về văn hóa: thực dân Pháp thực hiện chính sách giáo dục thực dân và dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu.

- Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam:

+ Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc. Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa, một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh bần cùng khốn khổ của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Giai cấp tư sản Việt Nam bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, do đó thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do… đời sống bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành người vô sản, có lòng yêu nước, căm thù đế quốc thực dân, có khả năng tiếp thu tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào.

+ Các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu: một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân; hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.

- Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

+ Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các phong trào yêu nước của nhân dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương (phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến lãnh đạo) đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (1860). Sang đầu thế kỷ XX khuynh hướng này không còn là khuynh hướng tiêu biểu nữa. Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại.

- Các phong trào yêu nước trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

3. Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:

- Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường yêu nước theo lối cũ, thì ngày 5-6-1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Người đã đi qua nhiều nước của Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và đã phát hiện ra chân lý: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các thuộc địa.

- Năm 1917, Người trở lại nước Pháp, đến Pari và năm 1919 gia nhập Đảng xã hội Pháp.

- Tháng 6-1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản yêu sách 8 điểm đến Hội nghị Véc-xây.

- Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin và từ tư tưởng đó Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng dắn cho dân tộc Việt Nam.

- Tại Đại hội Đảng xã hội Pháp (tháng 02-1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một sự kiện lịch sử trọng đại, không những Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với lý luận cách mạng của thời đại là chủ nghĩa Mác -Lênin, mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản.

- Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhấn mạnh: cách mạng muốn thành công phải có đảng cách mạng chân chính lãnh đạo; đảng phải có hệ tư tưởng tiên tiến, cách mạng và khoa học dẫn đường, đó là hệ tư tưởng Mác-Lênin.

- Người đã viết nhiều bài báo, nhiều tham luận tại các đại hội, hội nghị quốc tế, viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và tổ chức ra các tờ báo Thanh niên, Công nông, Lính cách mệnh, Tiền phong nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tác phẩm “Đường cách mệnh” (tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Đó là sự chuẩn bị về đường lối chính trị tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người khẳng định, muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo, Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy.

- Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ. Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu, Trung Quốc và gửi đi học tại các trường Đại học Phương Đông (Liên Xô cũ) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc) nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Nhờ hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà những điều kiện thành lập Đảng ngày càng chín muồi.

- Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6-01 đến 7-02-1930. Hội nghị đã quyết định hợp nhất ba tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sảng Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng Cộng sản. Những văn kiện đó do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Hội nghị thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng chí, đồng bào trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng.

- Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như một Đại hội thành lập Đảng. Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, chương trình tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3-02 dương lịch hàng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.

4. Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:

- Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam – theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.

- Sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

- Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 83 năm qua.

- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

5. Sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Ninh Thuận:

Cũng trong thời điểm cả dân tộc chìm trong khủng hoảng đường lối, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong những năm 1928-1929 đã có một số tổ chức Đảng, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời như: Chi bộ Tân Việt Cầu Bảo, Chi bộ Tân Việt Đề pô Tháp Chàm và ở Cà Ná,… Ngày 3-02-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, đề ra chủ trương chọn những đảng viên Tân Việt đủ tiêu chuẩn chuyển thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại Ninh Thuận, cơ quan liên tỉnh (Ngũ trang) tiến hành thực hiện Nghị quyết chuyển đảng, vào tháng 3-1930 tại khu vực đồn kiểm lâm Tân Mỹ (Ninh Sơn), đồng chí Trần Hữu Duyệt – Bí thư Ngũ Trang cùng với đồng chí Nguyễn Hữu Hương, đại diện cho tỉnh Ninh Thuận và đại diện tỉnh Lâm Đồng, Khánh Hoà, họp triển khai công tác chuyển đảng ở mỗi tỉnh. Đến tháng 4-1930 các chi bộ Tân Việt ở Ninh Thuận tiến hành thực hiện chủ trương chuyển đảng. Từ đây, Ninh Thuận có các chi bộ Cộng sản đầu tiên hoạt động, trở thành hạt nhân lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân trong tỉnh hoà vào phong trào đấu tranh cách mạng của cả nước, đã lãnh đạo bộ đội địa phương, dân quân du kích, nhân dân trong tỉnh vùng lên tấn công và nổi dậy đánh đuổi thực dân Pháp và đánh đổ chế độ Mỹ- Ngụy, giải phóng tỉnh nhà, góp phần cùng cả nước bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

II. 83 năm trưởng thành và phát triển – chặng đường vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam:

1. Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945):

- Đặc điểm của thời kỳ này là cách mạng Việt Nam đã có đội tiên phong lãnh đạo là Đảng Cộng sản với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, đưa cách mạng nước ta phát triển theo xu thế của thời đại đã được mở ra từ cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917.

- Quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền đã diễn ra với 3 cao trào cách mạng có ý nghĩa như 3 cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân: Cao trào cách mạng 1930 – 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ (1936 – 1939) và cao trào giải phóng dân tộc dẫn tới Cách mạng Tháng Tám 1945 (1939 – 1945). Đó là quá trình đấu tranh cách mạng vô cùng khó khăn gian khổ với những hy sinh to lớn của Đảng và dân tộc ta. Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã trưởng thành và phát triển về mọi mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, chống đế quốc và chống phong kiến không ngừng được bổ sung và làm rõ hơn, đặt nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc lên hàng đầu, vận dụng đúng đắn và có sự phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng thuộc địa.

- Thực tiễn 15 năm đấu tranh cách mạng giành chính quyền, Đảng và nhân dân ta đã đặt ra và giải quyết thành công nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cơ bản trong đường lối chiến lược và sách lược, bảo đảm cho phong trào cách mạng Việt Nam phát triển đúng hướng, phát huy sức mạnh của cả dân tộc, đó là:

+ Quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, giữa mục tiêu dân tộc và mục tiêu dân chủ, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp.

+ Quan hệ giữa các mục tiêu chiến lược lâu dài và mục tiêu cụ thể trước mắt, giữa giành thắng lợi từng bước, khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn.

+ Quan hệ giữa chiến lược và sách lược, phương pháp cách mạng, sử dụng đúng đắn các hình thức, phương pháp đấu tranh phù hợp với từng điều kiện lịch sử cụ thể.

+ Quan hệ giữa Đảng và nhân dân, giữa xây dựng đảng và xây dựng phát triển lực lượng cách mạng của quần chúng được tập hợp trong Mặt trận Dân tộc thống nhất.

+ Quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giữa xây dựng lực lượng cách mạng, phát huy sức mạnh bên trong, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, độc lập, tự chủ và sáng tạo với tranh thủ những điều kiện và thời cơ thuận lợi do tình hình quốc tế đem lại.

+ Quan hệ giữa chủ động chớp thời cơ và đẩy lùi nguy cơ, tổ chức và sử dụng các lực lượng cách mạng…

- Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, xóa bỏ chế độ thực dân và phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mở ra thời đại mới – thời đại Hồ Chí Minh.

Cách mạng Tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước công nông đầu tiên ở Châu Á. Đó là sự kiện quan trọng bậc nhất trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Đó cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sự đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài mặt trận Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi. Người nhấn mạnh: Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, nắm chính quyền toàn quốc.

2. Thời kỳ bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám, tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 – 1975):

- Những năm 1945 – 1946, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề, chống thù trong, giặc ngoài, vừa kháng chiến vừa kiến quốc: xây dựng và củng cố vững chắc chính quyền nhân dân; bầu cử Quốc hội (6-01-1946); xây dựng Hiến pháp dân chủ đầu tiên (9-11-1946); chăm lo xây dựng chế độ mới, đời sống mới của nhân dân; chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ với sự ủng hộ và chi viện của cả nước; kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả Cách mạng Tháng Tám; thực hành sách lược khôn khéo, lúc thì tạm hòa hoãn với Tưởng để đánh thực dân Pháp, lúc thì hòa hoãn với Pháp để đuổi Tưởng, thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc để triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Chúng ta đã chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên phạm vi cả nước. Thành công nổi bật của hơn một năm xây dựng chính quyền non trẻ là đã tăng cường được sức mạnh của cách mạng để có thể tự bảo vệ khi chưa có sự giúp đỡ trực tiếp từ bên ngoài.

- Tháng 12-1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm: Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến; vừa kiến quốc vừa kháng chiến dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu ngày 7-5-1954. Thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

- Từ năm 1954 đến năm 1975, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đây là đặc điểm mang tính đặc thù của cách mạng Việt Nam, cùng với mục tiêu độc lập dân tộc, mục tiêu xã hội chủ nghĩa được đặt ra trực tiếp.

+ Đế quốc Mỹ phá hoại hiệp định Giơnevơ, hất chân thực dân Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Dân tộc ta lại phải đương đầu với chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, bảo vệ nền độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân được nâng lên tầm cao khoa học và nghệ thuật. Đương đầu với một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới, chúng ta chủ trương đánh lâu dài; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng, thành thị và miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị với mặt trận ngoại giao; phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính chất thời đại sâu sắc.

+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc trong điều kiện hai miền thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau, trong điều kiện từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đòi hỏi Đảng ta phải vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm các nước xã hội chủ nghĩa. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tập trung giải quyết tốt các mối quan hệ cơ bản: giữa tiến hành chiến tranh cách mạng với xây dựng chủ nghĩa xã hội; giữa hậu phương lớn với tiền tuyến lớn; giữa thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữa quy luật chiến tranh và quy luật xây dựng phát triển kinh tế; giữa đẩy mạnh chiến tranh cách mạng ở nước ta với bảo vệ hòa bình thế giới; giữa lợi ích dân tộc với thực hiện nghĩa vụ quốc tế…

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc đã thu được những thành tựu quan trọng. Vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, miền Bắc đã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; xây dựng hậu phương vững mạnh, trở thành căn cứ địa cách mạng của cả nước, bảo đảm mọi mặt cho tiền tuyến đánh thắng; mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè trên thế giới; tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước; tạo cơ sở vật chất và những kinh nghiệm quý báu trong sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau này.

3. Thời kỳ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước từ 1975 đến nay:

Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ này gồm hai giai đoạn chủ yếu:

- Từ 1975 – 1986:

+ Sau chiến tranh, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế, vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

+ Đảng đã tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động. Tuy nhiên, trước yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế tập trung bao cấp không còn phù hợp và đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm. Trong việc hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi đã mắc sai lầm khuyết điểm, chủ quan, duy ý chí. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế – xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trước những thách thức của thời kỳ mới, Đảng ta đã tổng kết sáng kiến từ thực tiễn của nhân dân, tìm tòi, hoạch định đường lối đổi mới, thể hiện qua các mốc sau: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6, khóa IV (tháng 8-1979); Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13-01-1981 của Ban Bí thư về khoán sản phẩm trong nông nghiệp; Quyết định 25/CP ngày 21-01-1981của Chính phủ về đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa V (tháng 6-1985) thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật của sản xuất hàng hóa; Kết luận của Bộ Chính trị (tháng 9-1986) về 3 quan điểm kinh tế trong tình hình mới. Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

- Từ 1986 đến nay:

+ Trước bối cảnh mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định những quan điểm và phương hướng phát triển đất nước, khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

+ Từ đó đến nay, Đảng ta tiếp tục phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí minh, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới được bổ sung và phát triển ngày càng hoàn thiện.

+ Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua hơn 25 năm đổi mới, đất nước ta đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội; vượt qua khủng hoảng tài chính tiền tệ; khắc phục có hiệu quả ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay.

Năm 2012, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động rất phức tạp và khó khăn nhiều hơn, thương mại sụt giảm mạnh, tăng trưởng toàn cầu thấp so với dự báo đầu năm, tác động tiêu cực đến nền kinh tế đã hội nhập sâu rộng và có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta. Ở trong nước, việc thắt chặt tài khóa và tiền tệ để kiềm chế lạm phát là cần thiết nhưng hệ quả là cầu nội địa giảm mạnh, hàng tồn kho lớn, lãi suất tín dụng tăng cao; doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, sản xuất khó khăn. Bên cạnh đó, chúng ta phải dành nhiều thời gian và công sức để đối phó với thiên tai, dịch bệnh, các âm mưu thủ đoạn gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia. Trước tình hình đó, Đảng đã lãnh đạo điều hành, quyết liệt triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để thực hiện mục tiêu, các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2012 đạt một số kết quả quan trọng. Lạm phát bước đầu được kiềm chế, ước thu ngân sách cả năm đạt kế hoạch, bảo đảm được các nhiệm vụ chi và giữ bội chi ngân sách ở mức 4,8% GDP, đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Công tác an sinh xã hội được đảm bảo, tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các chương trình, chính sách xã hội, trọng tâm là tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo ước cả năm giảm 1,76%. Tuy không đạt kế hoạch là 2% nhưng trong điều kiện kinh tế khó khăn thì đây là một cố gắng lớn. Văn hóa, thể thao tiếp tục được quan tâm, gắn với thực hiện các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và chương trình xây dựng nông thôn mới. Việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc được chú trọng. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận di sản văn hóa. Công tác quản lý lễ hội tiếp tục được chấn chỉnh. Chất lượng giáo dục có bước tiến bộ. Cơ sở vật chất trường, lớp học tiếp tục được tăng cường, kiên cố hóa; ký túc xá sinh viên được quan tâm đầu tư. Một số công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế – xã hội. Trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực như điện tử, công nghệ thông tin, chế tạo thiết bị dầu khí… được nâng cao. Kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ được nhân rộng, nhất là trong nông nghiệp, y tế, xây dựng công trình. Cải cách hành chính tiếp tục được triển khai đồng bộ cả về thể chế, tổ chức cán bộ, thủ tục hành chính và tài chính công. Công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục được quan tâm chỉ đạo gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá XI). Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, giữ vững. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt những kết quả tích cực, xử lý kịp thời các vấn đề nảy sinh, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và độc lập, chủ quyền quốc gia. Vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng nâng cao.

4. Đảng bộ và nhân dân Ninh Thuận ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá:

Kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ và nhân dân Ninh Thuận tự hào đã cùng nhân dân cả nước viết lên trang sử vẻ vang của dân tộc, hun đúc nên truyền thống anh hùng của vùng đất kiên trung. Trải qua hơn tám thập kỷ tiến hành sự nghiệp cách mạng vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và quân dân Ninh Thuận luôn trung thành với mục tiêu của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đã và đang không ngừng nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của thập niên đầu thế kỷ 21.

Năm 2012, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn thách thức, tỉnh ta triển khai thực hiện nhiệm vụ trước sự ảnh hưởng, tác động trực tiếp của nền kinh tế thế giới và trong nước diễn biến khá phức tạp; song được sự ưu tiên hỗ trợ của Trung ương, sự quyết tâm chính trị trong lãnh đạo, sự điều hành quyết liệt của các cấp ủy Đảng và chính quyền, cùng với tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường của toàn dân và toàn quân, tỉnh Ninh Thuận đã đạt được những thành tựu phấn khởi, kinh tế- xã hội của tỉnh tiếp tục được duy trì có mặt tăng trưởng, các chủ trương, giải pháp chỉ đạo điều hành của Chính phủ về ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp được triển khai thực hiện nghiêm túc, kịp thời và đạt một số kết quả bước đầu. Tốc độ tăng trưởng GDP ước đạt 10,3%; GDP bình quân đầu người đạt 19,1 triệu đồng. Tổng thu ngân sách ước đạt 1.320 tỷ đồng. Giải quyết việc làm mới 16.300 lao động; đào tạo nghề cho 9.137 người; tỷ lệ hộ nghèo giảm 2%, còn 11,52%. Văn hóa- xã hội có nhiều tiến bộ, các chính sách an sinh xã hội được triển khai đầy đủ, đúng đối tượng; quy mô giáo dục được duy trì và chất lượng giáo dục được nâng lên; công tác phòng chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân được triển khai thực hiện tốt; công tác giải quyết khiếu nại tố cáo, tiếp công dân, cải cách hành chính có nhiều chuyển biến tiến bộ; quốc phòng an ninh giữ vững, ổn định; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; tai nạn giao thông giảm.

Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị được đẩy mạnh; việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đạt được một số kết quả bước đầu, có chuyển biến tích cực. Công tác dân vận của hệ thống chính trị có nhiều tiến bộ, tiếp tục có sự đổi mới về nhận thức và cách thức vận động quần chúng theo hướng gần dân, sát dân, hiểu dân; mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, qua đó đã tạo được sự đồng thuận và phát huy được sức mạnh của nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Góp phần tạo thế và lực mới đưa Ninh Thuận bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

III. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt 83 năm qua và những bài học kinh nghiệm:

1. Những thành tựu vĩ đại:

83 năm xây dựng và trưởng thành, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, làm nên những thành tựu vĩ đại đó là:

Thứ nhất: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã xóa bỏ chế độ thực dân, nửa phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai: Thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thứ ba: Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Với những thắng lợi đó, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, quan hệ quốc tế ngày càng sâu rộng, vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

2. Những bài học kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam:

Một là: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là: Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Ba là: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước cách mạng Việt Nam thật sự của dân, do dân và vì dân.

Bốn là: Nêu cao chủ nghĩa quốc tế trong sáng, kết hợp với sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Năm là: Chú trọng xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

3. Một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng:

Là một Đảng cầm quyền duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong suốt 83 năm qua, Đảng ta đã rút ra những kinh nghiệm quý báu trong công tác xây dựng Đảng sau đây:

- Thường xuyên tự đổi mới, chỉnh đốn và không ngừng nâng cao tầm tư tưởng và trí tuệ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt phương châm nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.

- Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không đa nguyên, đa đảng.

- Đảng phải được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và các nguyên tắc khác, giữ vững kỷ cương, kỷ luật.

- Chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn.

- Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

- Đảng phải tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát.

- Đảng phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nhất là phương thức lãnh đạo Nhà nước, bảo đảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. Thực tiễn 83 năm qua đã khẳng định: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam. Kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vô cùng tự hào vì đất nước ta có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí minh, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

Tự hào về Đảng quang vinh, về chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Ninh Thuận càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, nguyện đi theo Đảng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, tiếp tục lãnh đạo xây dựng và phát triển quê hương Ninh Thuận ngày càng văn minh, giàu đẹp; góp phần cùng cả nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY NINH THUẬN



Diễn văn chào mừng Lễ kỷ niệm ngày thành lập Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10/2012
Tháng 10 17, 2012

- Kính thưa đồng chí ………, ………………….., Cục trưởng Cục …………………

- Kính thưa các đồng chí đại biểu đại diện Đảng ủy, lãnh đạo, BCH Công đoàn, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên Cục ………………

- Thưa toàn thể chị em thân mến!

 Nhân dịp kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, hôm nay Ban chấp hành Công đoàn Cục Thống kê tổ chức Lễ kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

 Tới dự lễ kỷ niệm, tôi trân trọng giới thiệu có đ/c …………………, Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục …………….

Tới dự buổi lễ có các đ/c trong BCH Đảng ủy, BCH Công đoàn, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên Cục Thống kê cùng toàn thể chị em trên văn phòng Cục.

Đề nghị chúng ta nhiệt liệt chào mừng !

Kính thưa các đ/c !

Chúng ta đang sống trong những ngày lịch sử của đất nước, đặc biệt, trong những ngày này các thế hệ phụ nữ Việt Nam trên khắp mọi miền Tổ Quốc lại phấn khởi thi đua lập thành tích chào mừng ngày thành lập hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam 20/10.

Cứ mỗi dịp thu về, đông chớm, nhà nhà lại ấm lên bởi bàn tay người mẹ, người chị, người bạn gái…Những người chồng lại ấm lòng khi nghĩ về một bóng hình yêu dấu. Những người mẹ, người chị, người bạn gái ấy đích thực là mùa thu quyến rũ, ấm áp, là người giữ ngọn lửa vĩnh hằng cho cuộc sống. Ngày 20/10 là dịp để khẳng định những đóng góp to lớn của chị em phụ nữ vào quá trình xây dựng và phát triển ngành ……

Ở bất kỳ lĩnh vực nào, vị trí nào nữ CBCC, VC Cục Thống kê Hải Phòng đều phát huy được truyền thống tốt đẹp của người Phụ nữ Việt Nam, xứng đáng là những người phụ nữ năng động, giỏi việc nước đảm việc nhà trong thời kỳ hội nhập. Hoà cùng với khí thế thi đua sôi nổi của chị em phụ nữ trong thành phố và cả nước.

Trong buổi lễ kỷ niệm hôm nay, một lần nữa chúng ta hãy cùng nhau ôn lại giờ phút lịch sử của 82 năm về trước – Ngày 20/10/1930 ngày thành lập hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

Kính thưa các đ/c đại biểu; Thưa toàn thể chị em!

Ngay sau khi Đảng ta ra đời (3/2/1930), ở mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng ta đã tổ chức ra đoàn thể phụ nữ với các tên gọi khác nhau: Hội phụ nữ giải phóng, Hội phụ nữ phản đế, Hội phụ nữ dân chủ, Đoàn phụ nữ cứu quốc và sau này là Hội LHPN Việt Nam, lấy ngày 20/10/1930 là ngày thành lập Hội. Từ đây người phụ nữ Việt Nam đã có tổ chức riêng của mình, có vị thế trong lịch sử của dân tộc. Đó là sự ghi nhận của đất nước với những con người được tặng 8 chữ vàng: “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”.

 Phụ nữ Việt Nam thời nào cũng vậy – Luôn mang trong mình những phẩm chất cao quí mà Bác Hồ đã từng trao tặng “ Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang”. Ở bất cứ cương vị nào, phụ nữ cũng phát huy được vai trò, sức mạnh, sự khéo léo vốn có của mình. Lịch sử đã ghi nhận những đóng góp lớn lao của phụ nữ Việt Nam. Trong các cuộc kháng chiến gìn giữ chủ quyền dân tộc, từ thời Bà Trưng bà Triệu đã có biết bao tấm gương anh hùng của các bà, các mẹ, các chị đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để có một Việt Nam lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu . Trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học công nghệ – Phụ nữ Việt Nam lại vươn lên để khẳng định mình. Năng động sáng tạo trong công tác, được tôn vinh trong xã hội nhưng vẫn không quên vai trò , vị trí và thiên chức của mình trong cuộc sống gia đình.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được thành lập từ ngày 20 tháng 10 năm 1930. Lịch sử của phong trào phụ nữ Việt Nam, của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước. Kể từ khi các tổ chức phụ nữ tiền thân ra đời, người phụ nữ Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Hội đã gắn bó tha thiết với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, với hạnh phúc và sự bình yên của quê hương, với mái nhà thân yêu của mình.

Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, một tổ chức thống nhất trong cả nước cùng với các Đoàn thể bạn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, đã phát huy chức năng cao cả của mình, quy tụ giới phụ nữ Việt Nam, vì sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ, vì hạnh phúc của phụ nữ, trẻ em và các gia đình.

Xuất phát từ đường lối vận động phụ nữ qua các kỳ Đại hội IV (1977), Đại hội V (1982), Đại hội VI (1987), Đại hội VII (1992), cụ thể hoá bằng các Chương trình hành động, các cuộc vận động, các phong trào do Hội tổ chức, phụ nữ Việt nam đã góp sức mình vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, đổi mới đất nước, đem lại quyền lợi thiết thực cho giới, tạo nên những kỳ tích mang tính thời đại, từ đó khẳng định và nâng cao vị trí, vai trò của phụ nữ Việt nam trong nước và trên trường quốc tế.

Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và phụ nữ Việt nam rất xứng đáng với nhiều danh hiệu cao quý mà Bác Hồ, Đảng và Nhà nước đã khen tặng “Phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang, chống Mỹ cứu nước”, “Phụ nữ Việt Nam trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng”.

Kính thưa các đồng chí ! Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong đó, phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò trọng yếu. Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên nữ Việt đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta luôn luôn bị kẻ thù xâm lược, đời sống nghèo khổ. Từ thực tế đó mà người phụ nữ Việt Nam có sắc phong cách: họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng cảm; là người lao động cần cù, sáng tạo, thông minh; là người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội.

Kính thưa các vị đại biểu,

Thưa toàn thể chị em thân mến!

Thay mặt Ban Chấp hành Công đoàn………., chúng tôi xin được bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn toàn thể chị em phụ nữ Cục ………đã tận tâm, tận lực, xây dựng, đóng góp cho mỗi bước trưởng thành của phong trào phát triển vì sự tiến bộ của Phụ nữ và các phong trào trong cơ quan, đã làm phong phú thêm truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam.

Tại lễ kỷ niệm trọng thể này, thay mặt BCH Công đoàn chúng tôi xin trân trọng bày tỏ cảm ơn sự quan tâm của Đảng ủy, lãnh đạo cơ quan đã tạo điều kiện và luôn quan tâm chăm lo cho sự tiến bộ của phụ nữ,; xin chân thành cảm ơn các Đoàn thể trong cơ quan đã ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ trong thời gian qua.

Kính chúc các chị em phụ nữ sống vui, sống khoẻ, mãi mãi là một nửa vô cùng quan trọng không thể thiếu của anh em.

Xin kính chúc các đồng chí, các quý vị đại biểu và toàn thể chị em mạnh khoẻ, hạnh phúc và thành đạt.

Xin trân trọng cảm ơn!

 



Kế hoạch kiểm điểm, tự phê bình, phê bình theo kế hoạch thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ tư, khóa XI
Tháng 10 2, 2012

ĐẢNG BỘ …………………………..

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

CHI BỘ ……………….

 

 

 

 

 

Số: …..-KH/-…………

………., ngày …..  tháng….  năm 2012

 

KẾ HOẠCH

Kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư

Ban Chấp hành Trung ương khóa XI

 

 
 

 

- Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 24.02.2012 của Ban Chấp hành Trung ương; Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 27.3.2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI; Hướng dẫn số 07-HD/TU ngày 03.4.2012 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; Hướng dẫn số 08-HD/TU ngày 25.5.2012 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ hướng dẫn quán triệt, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Hướng dẫn số 12-HD/ĐUK ngày 07.6.2012 của Ban Thường vụ Đảng uỷ Khối các cơ quan tỉnh hướng dẫn về quy trình kiểm điểm tự phê bình và phê bình đối với tập thể và cá nhân đảng viên thuộc Đảng bộ Khối theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

- Thực hiện Kế hoạch số 175-KH/ĐU-CĐSL ngày 24 tháng 7 năm 2012 của Đảng bộ Trường Cao đẳng Sơn La chi bộ khoa SPXH – TDT – ĐTQT xây dựng Kế hoạch kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI với những nội dung cơ bản sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:

- Làm cho cán bộ, đảng viên trong chi bộ nhận thức đầy đủ, sâu sắc mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng, yêu cầu và nội dung Nghị quyết, nắm vững quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương châm, phương pháp tiến hành những công việc phải làm, đặc biệt là nội dung, phương pháp tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm đối với công tác xây dựng Đảng trong Đảng và sự đồng thuận trong toàn Đảng bộ để tích cực thực hiện Nghị quyết.

- Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình phải tiến hành trong toàn thể đội ngũ đảng viên của chi bộ theo phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh. Cách kiểm điểm từ trên xuống, tập thể trước, cá nhân sau; cấp trên gương mẫu kiểm điểm trước để cấp dưới noi theo; phải được chuẩn bị và tổ chức chặt chẽ, chu đáo, nghiêm túc, thận trọng, làm đến đâu chắc đến đó. Nội dung kiểm điểm phải bám sát 3 vấn đề lớn của Nghị quyết đã nêu và phù hợp với từng đơn vị, từng vị trí, chức trách, nhiệm vụ công tác để đạt kết quả thực chất, cụ thể.

- Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình, việc lấy ý kiến đóng góp xây dựng Đảng phải trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, phát huy dân chủ trong Đảng, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên; bình tĩnh, tỉnh táo, thực sự tự giác, chân thành, trung thực và xây dựng; kiên trì, bền bỉ, thường xuyên, liên tục; không chủ quan, nóng vội, máy móc, cứng nhắc, cực đoan; không quy chụp, xen động cơ cá nhân, không để các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội lợi dụng, kích động, xuyên tạc, đả kích, gây rối nội bộ. Đảm bảo sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp uỷ, tổ chức Đảng.

- Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng phải đúng tinh thần với các nội dung Nghị quyết, các chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh và Đảng uỷ Khối phải được triển khai đồng bộ, toàn diện, trên tinh thần kiên quyết, kiên trì, thực sự dân chủ, kết hợp chặt chẽ “chống” và “xây”, “xây” và “chống”, gắn với kiên quyết xử lý những trường hợp không thành khẩn, không tự giác kiểm điểm tự phê bình và tiếp thu phê bình, những trường hợp cố tình bao che sai phạm, khuyết điểm hay trù dập phê bình, vu cáo người khác; làm tốt việc nêu gương người tốt, việc tốt, ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội (Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên) trong việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển nhà trường, tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chăm lo đời sống của CBVC, HSSV, củng cố niềm tin của cán bộ giảng viên, HSSV với Đảng.

II. NỘI DUNG

1. Chuẩn bị kiểm điểm điểm tự phê bình và phê bình:

1.1. Tổ chức lấy ý kiến góp ý của các tổ chức có liên quan và thuộc cấp mình quản lý đối với tập thể, cá nhân:

1.1.1. Ban Chi ủy chi bộ họp phân công các thành viên nghiên cứu tài liệu, Kế hoạch số 175 của Đảng bộ Trường Cao đẳng Sơn La xây dựng kế hoạch tiến hành kiểm kiểm điểm (Theo mẫu ban hành kèm kế hoạch); chuẩn bị nội dung, phiếu lấy ý kiến đóng góp:

-  Tập thể: Ban chi uỷ các chi bộ

- Cá nhân: Các đồng đồng chí trong ban chi ủy (bí thư, phó bí thư chi ủy viên).

Kế hoạch, nội dung, phiếu lấy ý kiến đóng góp trình Đảng uỷ, chi uỷ xem xét . (Ban hành trước ngày 05.8.2012).

Xây dựng kế hoạch tổ chức hội nghị, nội dung hội nghị, mẫu phiếu xin ý kiến đóng góp của các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội thuộc phạm vi lãnh đạo đóng góp ý kiến xây dựng Đảng đối với tập thể cấp uỷ và các đồng chí cấp uỷ viên, nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, thời gian thực hiện, nơi nhận; ý kiến góp ý của tập thể phải được tập thể thảo luận, thống nhất và thể hiện bằng văn bản, do cấp uỷ ký tên đóng dấu, gửi về đơn vị xin ý kiến (Xong trước ngày 20. 8.2012).

1.1.2. Lấy ý kiến góp ý của tổ chức và cá nhân theo quy định:

- Chi bộ: Có công văn xin ý kiến góp ý của đảng viên là tổ trưởng tổ đảng (nơi có tổ đảng); các đơn vị trực thuộc; các đoàn thể chính trị – xã hội (nơi có con dấu) đối với chi uỷ và các đồng chí bí thư, phó bí thư, chi uỷ viên. Có công văn xin ý kiến góp ý của chi uỷ nơi cư trú đối với các đồng chí bí thư, phó bí thư, chi uỷ viên (Xong trước ngày 05. 9.2012).

- Chỉ đạo tổ chức hội nghị từng đoàn thể để góp ý kiến xây dựng Đảng đối với tập thể chi uỷ và cá nhân các đồng chí trong Ban Chi uỷ, bí thư, thành phần dự hội nghị là Ban Chấp hành các đoàn thể, mời đại diện cấp uỷ cơ sở (Xong trước ngày 20. 9.2012).

1.2. Tập hợp ý kiến góp ý của tổ chức, cá nhân

- Đồng chí cấp uỷ được giao nhiệm vụ, đồng chí bí thư hoặc phó bí thư tập hợp, tiếp thu ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhân và các nội dung, ý kiến kiểm điểm (nếu có), báo cáo cấp uỷ làm cơ sở để chuẩn bị báo cáo kiểm điểm của tập thể, cá nhân các đồng chí cấp uỷ viên (Xong trước ngày 25. 9.2012). 

1.3. Chuẩn bị báo cáo kiểm điểm

1.3.1. Tập thể:

Sau khi tổng hợp tiếp thu ý kiến góp ý và gợi ý kiểm điểm (nếu có), tập thể cấp uỷ giao trách nhiệm cho đồng chí cấp uỷ viên xây dựng dự thảo báo cáo kiểm điểm tập thể Ban Chi uỷ và chi bộ (nơi không có ban chi uỷ) theo nội dung Nghị quyết và các hướng dẫn, kế hoạch của Đảng cấp trên. (Hoàn thành xong trước ngày 10.10.2012).

1.3.2. Cá nhân:

Các đồng chí cấp uỷ viên các cấp và đảng viên căn cứ 3 nội dung Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và quy định những điều đảng viên không được làm; ý kiến góp ý của tổ chức, cá nhân, gợi ý kiểm điểm (nếu có), các hạn chế, khuyết điểm của tập thể (nêu trong dự thảo báo cáo kiểm điểm) để kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đi thẳng vào các nội dung nêu trong Hướng dẫn số 07-HD/TU; Hướng dẫn số 08-HD/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và nội dung được góp ý; kiểm điểm về đạo đức, lối sống và quan hệ với nhân dân, tập trung làm rõ trách nhiệm của cá nhân trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đề ra biện pháp khắc phục. (Hoàn thành xong trước ngày 10.10.2012).

1.4. Xin ý kiến vào dự thảo báo cáo kiểm điểm của tập thể chi uỷ.

 1.4.1. Đối với chi uỷ và chi bộ:

Chi uỷ họp tham gia và báo cáo kiểm điểm của tập thể chi uỷ hoặc chi bộ.

Đồng chí cấp uỷ viên được phân công tiếp thu ý kiến tham gia vào dự thảo báo cáo kiểm điểm của tập thể để kiểm điểm trước hội nghị chi bộ. (Hoàn thành xong trước ngày 30.10.2012).

2. Tiến hành kiểm điểm

2.1.  Kiểm điểm tập thể, cá nhân ở chi bộ trực thuộc:

2.1.1. Kiểm điểm tập thể

Hội nghị chi bộ kiểm điểm tập thể chi uỷ, chi bộ (mời đại diện Ban Chấp hành Đảng bộ dự theo dõi). (Hoàn thành xong trước ngày 19.11.2012).

- Đồng chí Bí thư chi bộ quán triệt mục đích, yêu cầu; đọc báo cáo kiểm điểm của tập thể chi uỷ.

- Các đồng chí đảng viên trong chi bộ thảo luận, phát biểu ý kiến góp ý trực tiếp tại hội nghị.

- Đồng chí Bí thư chi bộ phát biểu kết luận hội nghị.

2.1.2. Kiểm điểm cá nhân: (Hoàn thành xong trước ngày 24.11.2012).

- Thứ tự kiểm điểm: Đồng chí Bí thư chi bộ kiểm điểm trước, sau đó đến đồng chí Phó Bí thư và các đồng chí chi uỷ viên.

- Trình tự thực hiện:

+ Đồng chí Bí thư chi bộ quán triệt mục đích, yêu cầu.

+ Từng cá nhân trình bày bản tự kiểm điểm.

+ Các đồng chí đảng viên trong chi bộ thảo luận, phát biểu ý kiến góp ý trực tiếp tại hội nghị.

+ Cá nhân phát biểu tiếp thu ý kiến.

2.3. Kiểm điểm đối với đảng viên (Hoàn thành xong trước ngày 24.11.2012):

+ Từng cá nhân trình bày bản tự kiểm điểm.

+ Các đồng chí đảng viên trong chi bộ thảo luận, phát biểu ý kiến góp ý trực tiếp tại hội nghị.

+ Cá nhân phát biểu tiếp thu ý kiến.

3. Báo cáo về kết quả kiểm điểm và thông báo tiếp thu góp ý

3.1. Báo cáo kết quả kiểm điểm:

- Nội dung: Báo cáo bước đầu kết quả điểm điểm tập thể Ban Chi uỷ.

- Phân công: Đồng chí cấp uỷ viên được phân công chuẩn bị báo cáo của cấp uỷ mình sau khi tiếp thu ý kiến góp ý tại hội nghị.

- Thời gian:

+ Báo cáo kiểm điểm của tập thể sau khi đã hoàn thiện gửi Thường trực Đảng uỷ nhà trường (Hoàn thành xong trước ngày 05.12.2012).

+ Báo cáo kiểm điểm của chi ủy, cá nhân gửi Thường trực Đảng uỷ và lưu giữ theo quy định tại chi bộ (Hoàn thành xong trước ngày 05.12.2012).

3.2. Thông báo, tiếp thu góp ý của tổ chức, cá nhân:

Việc tiếp thu góp ý của tập thể và cá nhân thuộc thành phần lấy ý kiến, thực hiện như sau:

- Thông báo, tiếp thu góp ý của tập thể bằng văn bản, gửi đến tập thể xin ý kiến.

- Thông báo, tiếp thu góp ý của cá nhân thực hiện với các hình thức phù hợp: Có thể bằng văn bản; có thể cử đại diện cấp uỷ gặp thông báo, trao đổi qua điện thoại, hộp thư điện tử (xin ý kiến đơn vị nào, thông báo tiếp thu góp ý đến đơn vị đó). (Hoàn thành xong trước ngày 30.11.2012).

4. Kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện

- Ban Chi uỷ các chi bộ kiểm tra giám sát cán bộ, đảng viên sửa chữa, khắc phục hạn chế, yếu kém, khuyết điểm, vi phạm (nếu có).

- Chi uỷ các chi bộ giám sát việc kiểm điểm và thực hiện Nghị quyết TW4 khóa XI, kiên quyết xem xét trách nhiệm và xử lý nghiêm các cán bộ, giảng viên đảng viên thực hiện không nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4; tập trung giải quyết dứt điểm đơn thư tố cáo đối với cán bộ, giảng viên, đảng viên.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Xây dựng kế hoạch kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) của đơn vị mình phụ trách.

- Chỉ đạo, hướng dẫn triển khai xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và Nghị quyết 13-NQ/TU của chi bộ tỉnh đảm bảo đúng tiến độ, theo quy định.

- Tổ chức xin ý kiến đóng góp của tập thể và cá nhân đối với chi uỷ, các đồng chí chi uỷ viên; xin ý kiến của các tổ chức đoàn thể đơn vị quản lý; xin ý kiến chi uỷ nơi cư trú đối với các đồng chi chi uỷ viên, bí thư, phó bí thư chi bộ.

- Tập hợp ý kiến của các tổ chức, cá nhân góp ý với tập thể Ban Chi uỷ và các đồng chí trong Ban Chi uỷ.

- Chuẩn bị báo cáo kiểm điểm của tập thể Ban Chi uỷ theo nội dung Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI).

- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình tại đơn vị thuộc quyền quản lý; xem xét quyết định những trường hợp chưa đạt yêu cầu.

- Xây dựng báo cáo kết quả kiểm điểm của tập thể, cá nhân

- Thông báo tiếp thu góp ý của các tổ chức chính trị nơi xin ý kiến.

- Phối hợp với Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ đôn đốc, kiểm tra, giám sát cấp uỷ, đảng viên thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình.

- Thực hiện chế độ báo cáo theo quy định, đảm bảo tiến độ thời gian.

Trên đây là kế hoạch kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI của chi bộ SP Xã hội – Tiếng Dân tộc thiểu số – Đào tạo quốc tế, đề nghị đảng viên chi bộ nghiêm túc thực hiện.

 



Hướng dẫn kiểm điểm, tự phê bình, phê bình theo kế hoạch thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ tư, khóa XI
Tháng 10 2, 2012

HƯỚNG DẪN

Kiểm điểm, tự phê bình, phê bình theo Kế hoạch thực hiện

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa XI

“Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”

——-

 

Thực hiện Hướng dẫn số 11-HD/BTCTW ngày 14 tháng 3 năm 2012 của Ban Tổ chức Trung ương, Kế hoạch số 17-KH/TU ngày 04 tháng 4 năm 2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về triển khai Kế hoạch của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Được sự ủy nhiệm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy hướng dẫn việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU, PHƯƠNG CHÂM, PHƯƠNG PHÁP

- Mục đích kiểm điểm tự phê bình và phê bình lần này nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, trọng tâm là ngăn chặn, đầy lùi, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng.

- Chuẩn bị và tổ chức kiểm điểm chu đáo, chỉ đạo chặt chẽ, tiến hành nghiêm túc, thận trọng, làm đến đâu chắc đến đó, bảo đảm đạt kết quả thực chất; tránh làm lướt, làm qua loa, hình thức, chiếu lệ; khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang cũng như lợi dụng để “đấu đá”, trù dập, vu cáo lẫn nhau với những động cơ không trong sáng; nghiêm khắc xử lý những trường hợp trù dập phê bình hoặc vu cáo.

- Thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, người đứng đầu phải gương mẫu và phải có các hình thức dân chủ để quần chúng đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên và phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến đóng góp, phê bình đúng đắn.

- Mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên từ tỉnh đến cơ sở, từ cán bộ cấp cao đến đảng viên, từ đảng viên đương chức đến đảng viên đã nghỉ hưu, phải thực sự tự giác, trung thực, xem xét, nhìn lại mình để phát huy ưu điểm, có dũng khí tự thấy rõ khuyết điểm và tự mình sửa chữa, không chờ đến khi tổ chức hội nghị kiểm điểm; phải thực sự cầu thị, khách quan với ý thức xây dựng trong kiểm điểm, tự phê bình và phê bình.

- Tiến hành kiểm điểm với phương châm phòng ngừa, ngăn chặn, “trị bệnh cứu người”, giúp nhau cùng tiến bộ, vì sự trong sạch, vững mạnh của mỗi cá nhân, tổ chức và sự nghiệp chung của Đảng; tự phê bình và phê bình phải vừa giữ đúng nguyên tắc, vừa phải có tính thuyết phục, có lý, có tình; kiên trì, bền bỉ, thường xuyên, liên tục, không chủ quan, nóng vội, máy móc, cứng nhắc, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp cố tình không tự giác nhận và sửa chữa khuyết điểm, những trường hợp cố tình bao che sai phạm, khuyết điểm.

- Cấp trên gương mẫu kiểm điểm trước để cấp dưới noi theo; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp ủy viên, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý kiểm điểm trước, đảng viên kiểm điểm sau; chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, hướng dẫn chặt chẽ.

II. NỘI DUNG, CÁCH LÀM VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN

1. Đối tượng kiểm điểm và nơi kiểm điểm

a. Đối tượng kiểm điểm: Các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên, từ tỉnh đến cơ sở đều phải tiến hành kiểm điểm, tự phê bình và phê bình.

b. Nơi kiểm điểm:

- Các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy kiểm điểm ở tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ở Ban Thường vụ cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng hoặc tập thể lãnh đạo nơi công tác (nơi không có đảng đoàn, ban cán sự đảng), ở chi bộ đang sinh hoạt.

- Các đồng chí cấp ủy viên kiểm điểm ở Ban Thường vụ (nơi không có thường vụ thì kiểm điểm ở cấp ủy) hoặc ban cán sự đảng, đảng đoàn, tập thể lãnh đạo cơ quan nơi công tác (nơi không có ban cán sự đảng, đảng đoàn) và ở chi bộ.

- Các đồng chí đảng viên khác kiểm điểm ở chi bộ đang sinh hoạt.

Ghi chú: Ngoài những nơi kiểm điểm nêu trên, đảng viên tham gia các tổ chức khác với cương vị là người đứng đầu thì kiểm điểm ở tập thể lãnh đạo các tổ chức đó về trách nhiệm của cá nhân trước những thiếu sót, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của tập thể lãnh đạo tổ chức đó.

2. Nội dung kiểm điểm

Căn cứ vào 3 vấn đề cấp bách mà Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu và Quy định về những điều đảng viên không được làm, đối chiếu với tình hình hiện tại của tổ chức và cá nhân, có liên hệ đến những năm trước đó để kiểm điểm, tự phê bình và phê bình; làm rõ tại sao những khuyết điểm, yếu kém đã chỉ ra từ nhiều năm nay nhưng chậm khắc phục, có mặt lại yếu kém, phức tạp thêm:

2.1 Về đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng:

- Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với con đường xã hội chủ nghĩa, sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao, không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng; là dao động, mơ hồ, mất phương hướng, cho rằng theo con đường nào, xã hội nào cũng được, phụ họa theo nhận thức sai trái, quan điểm lệch lạc; là nói và làm trái Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, quy định của Đảng, thậm chí a dua, xuyên tạc, bôi đen…

- Biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống là sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống ích kỷ, thực dụng, vụ lợi, lo xun vén cho bản thân và gia đình, không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, để vợ (chồng), con và người thân lợi dụng chức quyền của mình để trục lợi, tiến thân; là cơ hội, hám danh, chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp…; là đố kỵ, kèn cựa địa vị, cục bộ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng; là quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, nỗi khổ của nhân dân, bất chấp đạo lý, dư luận, vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm; là kiêu ngạo, tự phụ, gia trưởng, độc đoán, tuỳ tiện, vô tổ chức, tham nhũng, lãng phí; sống xa hoa, hưởng lạc.

Kiểm điểm, làm rõ những biểu hiện, mức độ suy thoái về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; kiểm điểm việc thực hiện Quy định những điều đảng viên không được làm; phân tích nguyên nhân, xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân và phương hướng đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái.

2.2 Về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Kiểm điểm làm rõ những mặt yếu kém của tập thể và cá nhân trong công tác tổ chức, cán bộ. Kiểm điểm việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ. Làm rõ tình trạng có phải vì người mà sinh thêm tổ chức, sinh thêm chỉ tiêu, biên chế không? Có tình trạng độc đoán, mất dân chủ, cục bộ địa phương trong đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng cán bộ không? Có tác động hoặc bị tác động trong bổ nhiệm cán bộ, nhất là đối với những người thân, quen không? Đã thực sự kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái trong công tác cán bộ chưa? Xác định trách nhiệm của tập thể, của cá nhân và giải pháp khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm trong công tác cán bộ.

2.3 Về xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Kiểm điểm chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Việc cụ thể hóa và thực hiện nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” như thế nào? Làm rõ quyền hạn và trách nhiệm của tập thể và nhất là quyền hạn, trách nhiệm của cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác cán bộ, trong chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội, trong quản lý tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp, tài nguyên, khoáng sản, đất đai…, trong đầu tư mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ bản, giao thông, thủy lợi, sản xuất, kinh doanh… Có tình trạng lợi dụng danh nghĩa tập thể để áp đặt ý đồ cá nhân không? Có biểu hiện thành tích thì gắn cho cá nhân, khuyết điểm lại đỗ tại tập thể không? Xác định nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, của cá nhân và giải pháp khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm.

Trong ba nội dung trên, nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt, chi phối các nội dung sau, trong đó cần đi sâu kiểm điểm:

Đối với tập thể:

- Đã có những chủ trương, biện pháp gì để lãnh đạo xây dựng lập trường tư tưởng chính trị cho cán bộ, đảng viên? Việc quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên thực hiện Quy định những điều đảng viên không được làm như thế nào? Đã có những hình thức, biện pháp gì trong phát hiện, giáo dục, đấu tranh ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc cấp mình quản lý? Nội bộ cấp ủy, tổ chức đảng có biểu hiện mất đoàn kết hoặc có mất đoàn kết không? Khi có tình hình, vụ việc sai sót, vi phạm xảy ra đã thực sự thẳng thắn tự phê bình và phê bình chưa? Đã thực sự quyết tâm xem xét, giải quyết dứt điểm những sai sót, khuyết điểm nổi cộm, những vụ việc tham nhũng, tiêu cực mà dư luận quan tâm , bức xúc chưa? Nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân của người đứng đầu về tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái và giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái.

- Trong lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đã thực hiện quy định của Đảng và Nhà nước về công tác tổ chức và cán bộ như thế nào? Đã thực hiện và vận dụng nghị quyết, chỉ thị của Trung ương đề ra những chủ trương, giải pháp gì? Công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo cán bộ ở địa phương, cơ quan, đơn vị đã thực chất chưa? Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị chưa? Kiểm điểm làm rõ những trường hợp bổ nhiệm, đề bạt, bố trí cán bộ không đúng người, đúng việc làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức và sự phát triển của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị. Xác định nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, của cá nhân về những thiếu sót, khuyết điểm và phương hướng khắc phục.

- Kiểm điểm về quyền hạn và trách nhiệm cá nhân trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Việc thực thi quyền hạn và trách nhiệm, tính năng động của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong mối quan hệ với quyền hạn, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị như thế nào? Kiểm điểm việc thực hiện quy chế làm việc; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; trách nhiệm của tập thể trong việc thảo luận và ban hành các quyết định về công tác cán bộ, các chủ trương về phát triển kinh tế – xã hội… Kiểm điểm cá nhân người đứng đầu có biểu hiện độc đoán, gia trưởng, “lấn sân”, quyết định hoặc chỉ đạo không đúng thẩm quyền, trách nhiệm hay không? Có để mất đoàn kết nội bộ kéo dài hay không? Có chậm xử lý hoặc xử lý không dứt điểm các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, để dư luận dị nghị hay không? Quan hệ giữa người đứng đầu cấp ủy và chính quyền đã thực sự đoàn kết, thống nhất chưa? Đã thực sự dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong công tác cán bộ (đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bố trí sử dụng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách cán bộ….) và trong quyết định các chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án đầu tư chưa? Nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, của cá nhân và biện pháp khắc phục.

Trong kiểm điểm tập thể cần đi sâu phân tích, làm rõ tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, cục bộ, thiếu kiểm tra, giám sát, thiếu hình thức, biện pháp ngăn chặn, răn đe, xử lý đối với các sai phạm của tổ chức và cá nhân; phân tích rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan và trách nhiệm.

Đối với cá nhân:

Tự giác kiểm điểm, tự phê bình và phê bình căn cứ vào 3 nội dung Nghị quyết nêu và Quy định những điều đảng viên không được làm; về nội dung góp ý của các tổ chức, cá nhân và gợi ý của cấp trên (nếu có) đối với cá nhân mình; kiểm điểm trách nhiệm cá nhân về những góp ý hoặc gợi ý (nếu có) đối với tập thể và về những thiếu sót, khuyết điểm của tập thể.

Cá nhân phải tự giác, trung thực soi xét mình về các mặt: tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống theo các biểu hiện nêu tại Điểm 2.1; Có thái độ, tinh thần như thế nào trong đấu tranh, phê phán các quan điểm, việc làm sai, trái Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, quy chế, quy định của Đảng? Trong ý thức và việc làm cụ thể đã đặt lợi ích chung lên trên lợi ích của cá nhân chưa? Đã thực sự tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa? Đoàn kết nội bộ đã tốt chưa? Đã trung thực trong kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, kê khai tài sản chưa? Có để vợ (chồng), con và người thân lợi dụng chức vụ để trục lợi không?….

Đối với cá nhân là cấp ủy viên, là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, ngoài nội dung trên cần liên hệ, kiểm điểm trách nhiệm của cá nhân tham gia cùng tập thể thảo luận và quyết định các vấn đề liên quan đến nội dung cụ thể nêu tại Điểm 2.2; xác định rõ trách nhiệm của cá nhân về những thiếu sót, khuyết điểm của tập thể và phương hướng, biện pháp khắc phục.

3. Cách làm

Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Thường vụ cấp ủy các cấp, ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo các ban đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trực tiếp chỉ đạo tiến hành kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo ba bước:

Bước 1: Tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức có liên quan và thuộc cấp mình; lấy ý kiến góp ý của cá nhân đã nghỉ hưu nguyên là cấp ủy viên, nguyên là thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc, gợi ý kiểm điểm (nếu có) đối với tập thể cấp dưới và cá nhân thuộc quyền quản lý;

Bước 2: Tiếp thu ý kiến góp ý, gợi ý kiểm điểm (nếu có), xây dựng báo cáo kiểm điểm của tập thể, cá nhân và tiến hành kiểm điểm;

Bước 3: Báo cáo về kết quả kiểm điểm và thông báo tiếp thu góp ý.

Cụ thể các bước tiến hành như sau:

BƯỚC 1: LẤY Ý KIẾN GÓP Ý CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN VÀ GỢI Ý KIỂM ĐIỂM

3.1 Phương pháp lấy ý kiến góp ý và gợi ý kiểm điểm:

a. Tổ chức lấy ý kiến

- Lấy ý kiến của các tổ chức bằng cách gởi văn bản nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, thời gian thực hiện, nơi nhận; ý kiến góp ý của tập thể được thảo luận, thống nhất và thể hiện bằng văn bản, do đại diện thường vụ cấp ủy hoặc đại diện lãnh đạo ký tên, đóng dấu, gởi về nơi nhận.

- Lấy ý kiến của cá nhân bằng cách mời họp, nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, thời gian thực hiện, nơi nhận và phát phiếu xin ý kiến để cá nhân góp ý trực tiếp vào phiếu, gởi về nơi nhận. Ý kiến góp ý của cá nhân thực hiện bằng văn bản, ghi rõ họ tên, địa chỉ của người góp ý và của tổ chức, cá nhân được góp ý. Ý kiến góp ý đối với cá nhân thuộc ban thường vụ cấp ủy nào thì gởi về ban thường vụ cấp ủy đó để tập hợp.

Việc lấy ý kiến góp ý của cá nhân các đồng chí nguyên là cấp ủy viên, nguyên là thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực thuộc đã nghỉ hưu thì chỉ lấy ý kiến góp ý của các đồng chí nghỉ hưu tại địa phương, sinh hoạt đảng tại địa phương hoặc nghỉ hưu tại cơ quan, đơn vị nơi đồng chí đó công tác sinh hoạt đảng.

b. Gợi ý kiểm điểm

- Ban Thường vụ cấp ủy cấp trên gợi ý nội dung cần đi sâu kiểm điểm đối với tập thể và đảng viên (kể cả đảng viên đã nghỉ hưu) thuộc diện cấp mình quản lý (nếu xét thấy cần) bằng văn bản, gởi đến tổ chức và cá nhân.

- Chi ủy gợi ý kiểm điểm đối với đảng viên (nếu xét thấy cần) bằng văn bản hoặc đại diện chi ủy góp ý trực tiếp tại hội nghị kiểm điểm của chi bộ.

3.2 Tổ chức lấy ý kiến góp ý đối với tập thể và cá nhân:

a. Đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy:

Thường trực Tỉnh ủy chủ trì, chỉ đạo Uỷ ban kiểm tra Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Ban Dân vận Tỉnh ủy và Văn phòng Tỉnh ủy (sau đây gọi tắt là các cơ quan ở tỉnh) tổ chức lấy ý kiến và tập hợp ý kiến của các tổ chức và cá nhân, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, làm cơ sở để chuẩn bị báo cáo kiểm điểm của tập thể và cá nhân các đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

+ Lấy ý kiến của tập thể:

  • Ở Trung ương: Các ban đảng ở Trung ương, Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ, Ban Cán sự Thanh tra Chính phủ, Ban Cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước.
  • Ở địa phương: Ban Thường vụ các huyện ủy, thành ủy, thị ủy (tương đương), các đảng đoàn, ban cán sự đảng, tập thể lãnh đạo các ban đảng và cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh; Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Tỉnh đoàn; chi ủy chi bộ nơi công tác, chi ủy chi bộ nơi cư trú góp ý kiến đối với cá nhân Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

+ Lấy ý kiến cá nhân: Mời các đồng chí đã nghỉ công tác, đã nghỉ hưu nguyên Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Uỷ viên Ban chấp hành đảng bộ tỉnh, nguyên Phó chủ tịch HĐND, Phó chủ tịch UBND, Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh để phổ biến mục đích, yêu cầu, phát phiếu góp ý để các đồng chí cho ý kiến vào phiếu (có thể gởi lại tại cuộc họp hoặc gởi sau cuộc họp theo thời gian quy định).

Văn bản góp ý cho tập thể và cá nhân các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy thì người góp ý ghi rõ họ tên, gởi tới Bộ phận Thường trực ở tỉnh qua Văn phòng Tỉnh ủy.

+ Thường trực Tỉnh ủy chuẩn bị nội dung kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

+ Các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy chuẩn bị báo cáo kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của cá nhân.

b. Đối với các đảng đoàn, ban cán sự đảng, Ban Thường vụ đảng ủy, lãnh đạo các cơ quan,đơn vị ở tỉnh:

- Đảng đoàn HĐND tỉnh lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Các ban đảng ở Tỉnh ủy, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh, Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh, Đảng đoàn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các đoàn thể chính trị – xã hội ở tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn, lãnh đạo Hội Luật gia tỉnh, Thường trực HĐND và Tổ đại biểu HĐND tỉnh ở các huyện, thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công; Văn phòng, các ban thuộc HĐND tỉnh.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Phó chủ tịch HĐND, Trưởng các ban và Văn phòng HĐND.

 

- Ban Cán sự đảng UBND tỉnh lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn HĐND tỉnh, Đảng ủy Quân sự tỉnh, Đảng ủy Công an tỉnh, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Ban Cán sự đảng TAND tỉnh, Ban Cán sự đảng Viện KSND tỉnh; Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh, Đảng ủy Khối doanh nghiệp, Đảng đoàn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội ở tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn; tập thể lãnh đạo các Sở, ban, ngành và cơ quan trực thuộc UBND tỉnh; Thường trực UBND các huyện, thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công; hội đồng thành viên các doanh nghiệp nhà nước.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Chủ tịch UBND, Phó chủ tịch UBND, nguyên là Giám đốc, nguyên là thủ trưởng các cơ quan thuộc UBND tỉnh.

- Ban Cán sự đảng Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh, Đảng ủy Quân sự tỉnh, Đảng ủy Công an tỉnh, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh,  Đảng đoàn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các đoàn thể chính trị – xã hội ở tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn, tập thể lãnh đạo các Sở Tư pháp, Thanh tra tỉnh, Hội Luật gia tỉnh; tập thể lãnh đạo Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân các huyện, thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công; các phòng, ban, đơn vị trực thuộc Tòa án, Viện kiểm sát.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Chánh án, Phó Chánh án TAND tỉnh; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện KSND tỉnh.

- Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc tỉnh lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Các ban đảng ở Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn, đảng đoàn, tập thể lãnh đạo các tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc tỉnh; Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc VN các huyện, thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công; Văn phòng, các phòng, ban ở cơ quan Mặt trận Tổ quốc tỉnh.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh.

- Đảng đoàn Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, và các tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp trực thuộc tỉnh lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc tỉnh; Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh; Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh; tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo các tổ chức ngành dọc ở các huyện, thành phố, thị xã, Sở, ngành, cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh; các phòng, ban, đơn vị trực thuộc cơ quan của các tổ chức.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là chủ tịch, phó chủ tịch các tổ chức.

- Ban Thường vụ Tỉnh đoàn lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh; Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh; Ban Thường vụ cấp bộ đoàn trực thuộc Tỉnh đoàn; các cơ quan, đơn vị trực thuộc Tỉnh đoàn.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Bí thư, Phó bí thư Tỉnh đoàn.

- Tập thể lãnh đạo các Sở, ngành trực thuộc UBND tỉnh (kể cả cơ quan ngành dọc Trung ương tương đương Sở, ngành tỉnh)  lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh, Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh, Đảng đoàn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các đoàn thể chính trị – xã hội ở tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn; tập thể lãnh đạo Thanh tra tỉnh, Ban chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng tỉnh; Thường trực UBND các huyện, thành phố, thị xã; các phòng, ban, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở, ngành.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Giám đốc, Phó giám đốc (tương đương); nguyên là cấp trưởng, cấp phó các cơ quan, đơn vị trực thuộc UBND tỉnh.

- Các ban đảng và cơ quan, đơn vị trực thuộc Tỉnh ủy lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Ban Thường vụ các huyện ủy, thành ủy, thị ủy, các đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy; các phòng, ban, đơn vị trực thuộc của từng cơ quan.

+ Lấy ý kiến cá nhân:  các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Trưởng ban, Phó trưởng ban và tương đương.

- Văn phòng Ban chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng tỉnh lấy ý kiến  góp ý của:

Lấy ý kiến của tập thể: Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh; Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh; Đảng ủy Công an tỉnh; tập thể lãnh đạo Thanh tra tỉnh, Sở Tư pháp; Ban Cán sự đảng TAND, Ban Cán sự đảng Viện KSND tỉnh; đơn vị trực thuộc.

- Văn phòng UBND tỉnh lấy ý kiến  góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc tỉnh,  Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh, Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh; lãnh đạo các sở, ngành trực thuộc UBND tỉnh; Thường trực UBND các huyện, thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công; các đơn vị trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Chánh Văn phòng, Phó Văn phòng UBND tỉnh.

- Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh lấy ý kiến  góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Các ban đảng ở Tỉnh ủy, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Ban Cán sự đảng TAND tỉnh, Ban Cán sự đảng Viện KSND tỉnh, Thanh tra tỉnh, Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh; Tổ đại biểu HĐND tỉnh ở các huyện, thành phố, thị xã; văn phòng, các ban thuộc  HĐND.

+ Lấy ý kiến cá nhân:  các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Chánh, Phó Văn phòng đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh.

- Các đơn vị sự nghiệp ở tỉnh (Báo Ấp Bắc, Đài Phát thanh – Truyền hình, Trường Chính trị, Đại học Tiền Giang, Cao đẳng Y tế, Cao đẳng Nghề) lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: Các ban đảng ở Tỉnh ủy; Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, Thanh tra tỉnh,  Ban Thường vụ đảng ủy hoặc Ban chấp hành đảng bộ cơ quan (nơi không có ban thường vụ); các phòng, khoa, ban, đơn vị trực thuộc.

+ Lấy ý kiến cá nhân:  các đồng chí nguyên là lãnh đạo cấp trưởng, cấp phó các cơ quan, đơn vị.

- Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: các ban đảng ở Tỉnh ủy, Ban Thường vụ, đảng ủy, chi ủy (nơi không có ban thường vụ), các đảng bộ, chi bộ trực thuộc Đảng ủy khối; Văn phòng, các ban trực thuộc Đảng ủy khối.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy khối.

- Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: các ban đảng ở Tỉnh ủy, Ban Thường vụ, đảng ủy, chi ủy (nơi không có ban thường vụ), các đảng bộ, chi bộ trực thuộc Đảng ủy khối; Văn phòng, các ban trực thuộc Đảng ủy khối.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy khối.

- Đảng ủy Quân sự tỉnh lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, Đảng ủy Công an tỉnh, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh; lãnh đạo Sở Ngoại vụ, Thanh tra tỉnh; Ban Thường vụ các huyện, thành, thị ủy; cấp ủy và thủ trưởng các đơn vị trực thuộc BCH Quân sự tỉnh.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Chỉ huy trưởng, Chính ủy, Phó chỉ huy trưởng, Phó chính ủy.

- Đảng ủy Công an tỉnh lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, Đảng ủy Quân sự tỉnh; lãnh đạo Sở Ngoại vụ, Thanh tra tỉnh, Sở Tư pháp, Ban Cán sự đảng TAND tỉnh, Ban Cán sự đảng Viện KSND tỉnh; Ban Thường vụ các huyện, thành, thị ủy; đảng ủy và ban chỉ huy công an các huyện, thành phố, thị xã; cấp ủy và lãnh đạo các phòng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Công an tỉnh.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Giám đốc, Phó giám đốc Công an tỉnh.

- Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, Đảng ủy Quân sự tỉnh, Đảng ủy Công an tỉnh; lãnh đạo Sở Ngoại vụ, Thanh tra tỉnh, Sở Tư pháp, Ban Cán sự đảng TAND tỉnh, Ban Cán sự Viện KSND tỉnh; Ban Thường vụ huyện ủy Gò Công Đông, Tân Phú Đông; cấp ủy và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh.

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là Chỉ huy trưởng, Chính ủy, Phó chỉ huy trưởng, Phó chính ủy.

- Các Doanh nghiệp của Nhà nước lấy ý kiến góp ý của:

+ Lấy ý kiến của tập thể: các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn HĐND tỉnh; Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, lãnh đạo Thanh tra tỉnh, Quản lý thị trường, Cục Thuế; các Sở, ngành tỉnh trực tiếp quản lý; Đảng ủy Khối doanh nghiệp tỉnh; cấp ủy và tập thể lãnh đạo các doanh nghiệp trực thuộc và các phòng, ban trực thuộc doanh nghiệp

+ Lấy ý kiến cá nhân: các đồng chí đã nghỉ hưu nguyên là ủy viên hội đồng thành viên, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc doanh nghiệp.

Ghi chú: Ngoài các đối tượng cần lấy ý kiến nêu trên, các tập thể lãnh đạo có thể mở rộng thêm đối tượng lấy ý kiến góp ý (nếu xét thấy cần thiết) hoặc các tập thể cá nhân không thuộc đối tượng lấy ý kiến nêu trên cũng có thể góp ý đối với tập thể và cá nhân cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị, địa phương khác (khi xét thầy cần góp ý).

c. Đối với Ban Thường vụ các huyện ủy, thành ủy, thị ủy trực thuộc Tỉnh ủy:

Trước khi kiểm điểm tự phê bình và phê bình, Thường trực huyện ủy, thành ủy, thị ủy chủ trì, chỉ đạo Uỷ ban kiểm tra, Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận và Văn phòng cấp ủy tổ chức lấy ý kiến và tập hợp ý kiến của các tổ chức và cá nhân, báo cáo Ban Thường vụ huyện, thành, thị ủy, làm cơ sở để chuẩn bị báo cáo kiểm điểm của tập thể và cá nhân các đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ.

- Lấy ý kiến của tập thể:

+ Các ban đảng ở Tỉnh ủy, Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự đảng UBND tỉnh, tập thể lãnh đạo Thanh tra tỉnh.

+ Ban Thường vụ các đảng ủy xã, phường, thị trấn; tập thể lãnh đạo các ban đảng và các cơ quan, đơn vị trực thuộc huyện, thành phố, thị xã; Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận, Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Đoàn TNCS HCM huyện, thành phố, thị xã; chi ủy chi bộ nơi công tác, chi ủy chi bộ nơi cư trú góp ý kiến đối với cá nhân Uỷ viên Ban Thường vụ huyện ủy, thành ủy, thị ủy.

- Lấy ý kiến cá nhân: Mời các đồng chí đã nghỉ công tác, đã nghỉ hưu nguyên Uỷ viên Ban Thường vụ, Uỷ viên Ban chấp hành đảng bộ huyện, thành phố, thị xã, các đồng chí nguyên Phó chủ tịch HĐND, Phó chủ tịch UBND, các đồng chí nguyên Thủ trưởng các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể huyện, thành phố, thị xã để phổ biến mục đích, yêu cầu, phát phiếu góp ý để các đồng chí cho ý kiến vào phiếu gởi lại (tại cuộc họp hoặc sau cuộc họp).

Thường trực huyện, thành, thị ủy chuẩn bị nội dung kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của tập thể Ban Thường vụ, cá nhân các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ chuẩn bị báo cáo kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của cá nhân.

d. Đối với Ban Thường vụ cấp ủy cơ sở và đảng viên:

Ban Thường vụ cấp ủy cơ sở tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức, cá nhân và chuẩn bị kiểm điểm, vận dụng tương tự như hướng dẫn về thành phần lấy ý kiến và chuẩn bị kiểm điểm của Ban Thường vụ cấp ủy huyện.

Chi ủy tổ chức lấy ý kiến đóng góp của ban công tác mặt trận và các tổ chức đoàn thể ở cơ sở, của ấp, khu phố… và chuẩn bị kiểm điểm như ở cấp cơ sở.

3.3 Gợi ý và chỉ đạo kiểm điểm của cấp trên đối với cấp dưới:

a. Gợi ý và chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy:

- Để chuẩn bị gợi ý kiểm điểm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Uỷ ban kiểm tra Tỉnh ủy gởi văn bản đến Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự UBND tỉnh đề nghị tham mưu, đề xuất với Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nội dung gợi ý kiểm điểm đối với tập thể cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cá nhân cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý nếu xét thấy cần thiết phải gợi ý, trình Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy xem xét, gợi ý.

- Văn phòng Tỉnh ủy xây dựng kế hoạch, trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc phân công Bộ phận Thường trực ở tỉnh và một số Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra kiểm điểm ở một số cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Tỉnh ủy.

b. Gợi ý và chỉ đạo của Ban Thường vụ các huyện ủy, thành ủy, thị ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy đối với cấp dưới: căn cứ vào tình hình cụ thể của từng cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cán bộ thuộc cấp mình quản lý, chỉ đạo việc chuẩn bị gợi ý kiểm điểm (cách làm tương tự như ở tỉnh) và tiến hành gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân (nếu xét thấy cần thiết) và phân công các thành viên lãnh đạo chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra kiểm điểm cấp dưới.

Ban Thường vụ cấp cơ sở gợi ý kiểm điểm đối với chi bộ và đảng viên thuộc cấp mình quản lý nếu xét thấy cần thiết; chi ủy gợi ý kiểm điểm đối với đảng viên nếu xét thấy cần thiết. Ở những nơi, những trường hợp có vấn đề phức tạp, xét thấy cần thiết thì cấp ủy cấp trên trực tiếp hoặc cấp ủy quản lý cán bộ (trước khi nghỉ hưu) gợi ý kiểm điểm.

c. Cá nhân là đảng viên đã nghỉ hưu, sinh hoạt ở chi bộ nào thì kiểm điểm ở chi bộ đó; ngoài ra, đảng viên nghỉ hưu thuộc cấp nào quản lý thì cấp đó xem xét, gợi ý kiểm điểm (nếu xét thấy cần thiết). Kiểm điểm của đảng viên nghỉ hưu theo gợi ý của cấp có thẩm quyền được lưu lại chi bộ nơi đồng chí đó sinh hoạt đồng thời gởi tới cấp có thẩm quyền quản lý đảng viên đó để theo dõi, giám sát sau kiểm điểm. Đảng viên già yếu được miễn công tác, miễn sinh hoạt đảng, đảng viên bị bệnh nặng có kiểm điểm hay không là do chi bộ xem xét, quyết định từng trường hợp cụ thể.

BƯỚC 2: TIẾP THU Ý KIẾN GÓP Ý, XÂY DỰNG BÁO CÁO KIỂM ĐIỂM CỦA TẬP THỂ, CÁ NHÂN VÀ TIẾN HÀNH KIỂM ĐIỂM

Sau khi tổng hợp, tiếp thu ý kiến góp ý, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực tỉnh ủy, Ban Thường vụ các huyện ủy, thành ủy, thị ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng ủy, tập thể lãnh đạo các cơ quan, đơn vị và từng cá nhân căn cứ vào nội dung kiểm điểm nêu trên và Quy định những điều đảng viên không được làm để chuẩn bị báo cáo kiểm điểm.

Cần đi sâu kiểm điểm về những nội dung góp ý, gợi ý (nếu có), trả lời thẳng vào các câu hỏi, các nội dung kiểm điểm nêu trong Hướng dẫn; chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm, phân tích nguyên nhân, xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân và đề ra lộ trình, phương hướng, biện pháp khắc phục, sau đó tiến hành kiểm điểm theo trình tự sau:

- Tiến hành kiểm điểm tập thể trước, kiểm điểm cá nhân sau, Báo cáo kiểm điểm của tập thể phải gửi trước để các thành viên lãnh đạo nghiên cứu kỹ, chuẩn bị ý kiến đóng góp.

- Tiến hành kiểm điểm cá nhân người đứng đầu trước, các thành viên khác sau. Từng cá nhân trình bày bản tự kiểm điểm trước tập thể, để các thành viên khác góp ý trực tiếp tại hội nghị; sau đó cá nhân tiếp thu và hoàn thiện bản kiểm điểm.

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy căn cứ vào 3 nội dung Nghị quyết Trung ương 4 nêu, ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhân để kiểm điểm, tự phê bình và phê bình; đánh giá, làm rõ những hạn chế, khuyết điểm về công tác xây dựng Đảng và nguyên nhân, đề ra phương hướng khắc phục, làm cơ sở cho việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của cá nhân.

- Các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy căn cứ vào 3 nội dung Nghị quyết Trung ương 4 nêu, Quy định về những điều đảng viên không được làm và ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhân để kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo hướng trả lời thẳng vào các nội dung trong Hướng dẫn và nội dung được góp ý; kiểm điểm về đạo đức, lối sống, quan hệ gia đình, xã hội và quan hệ với nhân dân; tập trung làm rõ trách nhiệm của cá nhân, trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đề ra biện pháp khắc phục.

- Các ban đảng ở Tỉnh ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tập thể lãnh đạo các Sở, ban ngành cơ quan, đơn vị tỉnh, ban thường vụ các huyện ủy, thành ủy, thị ủy và đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân theo nội dung và cách làm tương tự như Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Trong quá trình kiểm điểm, tiếp thu gợi ý của cấp trên (nếu có); ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhân để kiểm điểm tự phê bình và phê bình.

- Kiểm điểm tự phê bình và phê bình của ban thường vụ cấp ủy cơ sở  thực hiện tương tự như kiểm điểm ở ban thường vụ cấp ủy huyện.

Đối với Ban Thường vụ cấp ủy cơ sở có số lượng 03 (ba) đồng chí thì kiểm điểm Ban Thường vụ ở tập thể cấp ủy.

- Ở chi bộ: tập thể chi ủy kiểm điểm trước, sau đó đến bí thư chi bộ, chi ủy viên và các đảng viên. Nội dung kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo 3 nội dung Nghị quyết Trung ương 4 nêu và việc thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm; chỉ rõ những hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm, nguyên nhân; đề ra phương hướng, giải pháp khắc phục.

Hội nghị kiểm điểm của Ban thường vụ các huyện ủy, thành ủy, thị ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, ban thường vụ đảng ủy, lãnh đạo các Sở, ban ngành cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh phải có đại diện lãnh đạo các ban Đảng của Tỉnh ủy và Bộ phận Thường trực ở tỉnh dự, theo dõi.

Hội nghị kiểm điểm cấp cơ sở phải có đại diện lãnh đạo các ban xây dựng Đảng và Bộ phận Thường trực cấp trên dự, theo dõi.

BƯỚC 3: BÁO CÁO, THÔNG BÁO, TIẾP THU Ý KIẾN GÓP Ý SAU KIỂM ĐIỂM

Sau khi hoàn thành kiểm điểm, các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị báo cáo kết quả kiểm điểm với cấp trên và thông báo, tiếp thu ý kiến góp ý của tập thể và cá nhân. Cụ thể như sau:

a. Tập thể và cá nhân cấp dưới báo cáo kết quả kiểm điểm với cấp trên:

- Nội dung báo cáo của tập thể:

+ Tổng hợp về tình hình, ưu điểm, khuyết điểm trong tổ chức kiểm điểm; đánh giá chung về kết quả kiểm điểm của cấp mình và của địa phương, cơ quan, đơn vị mình;

+ Kết quả kiểm điểm của tập thể; chỉ ra những ưu điểm; khuyết điểm, nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, của cá nhân về những khuyết điểm, yếu kém đối với 3 nội dung Nghị quyết Trung ương 4 nêu.

+ Lộ trình, phương hướng, biện pháp khắc phục khuyết điểm, yếu kém.

+ Đề xuất, kiến nghị, rút kinh nghiệm về phương pháp, cách thức tổ chức kiểm điểm cho các lần tiếp theo.

- Nội dung báo cáo của cá nhân:

+ Kiểm điểm, tự phê bình về 3 nội dung Nghị quyết Trung ương 4 nêu và việc thực hiện Quy định những điều đảng viên không được làm; chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân.

+ Lộ trình, phương hướng, biện pháp khắc phục khuyết điểm, yếu kém.

Ghi chú: Báo cáo kiểm điểm của tập thể ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng và cá nhân cán bộ diện Tỉnh ủy quản lý, sau khi đã hoàn thiện cần đóng dấu xác nhận của cấp ủy, tổ chức đảng hoặc dấu của cơ quan, đơn vị, gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy (qua Ban Tổ chức Tỉnh ủy) để theo dõi, giám sát sau kiểm điểm và lưu theo quy định.

b. Báo cáo kiểm điểm đối với tập thể:

- Sau khi kiểm điểm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp báo cáo kết quả kiểm điểm (tập thể và cá nhân) với ban chấp hành để ban chấp hành thảo luận , góp ý kiến. Cụ thể như sau:

+ Ban Thường vụ Tỉnh ủy báo cáo trước Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh;

+ Ban Thường vụ cấp ủy huyện, thành phố, thị xã báo cáo trước Ban chấp hành đảng bộ huyện, thành phố, thị xã;

+ Ban Thường vụ đảng ủy khối ở tỉnh báo cáo trước Ban chấp hành đảng bộ khối.

- Đảng đoàn, ban cán sự đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị báo cáo kết quả kiểm điểm (tập thể và cá nhân) với đảng ủy cơ quan, thủ trưởng các đơn vị trực thuộc. Cụ thể như sau:

+ Đảng đoàn HĐND tỉnh báo cáo trước hội nghị cán bộ lãnh đạo các ban, Văn phòng và cấp ủy cơ quan Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh;

+ Ban Cán sự đảng UBND tỉnh báo cáo trước hội nghị thành viên UBND, Đảng ủy Văn phòng UBND và lãnh đão Văn phòng UBND;

+ Đảng đoàn, ban cán sự đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị báo cáo trước ban chấp hành các tổ chức hoặc hội nghị cấp ủy cơ quan và thủ trưởng các đơn vị trực thuộc;

+ Ban Thường vụ Đảng ủy Quân sự tỉnh, Đảng ủy Bộ đội biên phòng tỉnh báo cáo trước hội nghị đảng ủy và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc BCH Quân sự tỉnh, Bộ đội biên phòng tỉnh;

+ Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh báo cáo trước hội nghị Đảng ủy Công an tỉnh và cán bộ lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc Công an tỉnh;

+ Các cơ quan, đơn vị khác báo cáo trước hội nghị cán bộ thuộc đối tượng lấy ý kiến góp ý đang công tác ở cơ quan, đơn vị.

c. Thông báo, tiếp thu ý kiến của tập thể và cá nhân:

Việc thông báo, tiếp thu ý kiến của tập thể và cá nhân thuộc thành phần lấy ý kiến thực hiện như sau:

- Thông báo, tiếp thu góp ý của tập thể bằng văn bản, gửi đến tập thể đó;

- Thông báo, tiếp thu góp ý của cá nhân thực hiện với các hình thức phù hợp: có thể bằng văn bản; có thể cử đại diện cấp ủy gặp thông báo, trao đổi qua điện thoại, hộp thư điện tử…

4. Tiến độ thực hiện:

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy: tiến hành kiểm điểm trong tháng 8/2012.

- Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh và Ban Thường vụ cấp ủy huyện (tương đương): tiến hành kiểm điểm trong tháng 9/2012.

- Cấp cơ sở và đảng viên: tiến hành kiểm điểm trong các tháng 9, 10, 11 năm 2012.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

- Căn cứ hướng dẫn này, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện; vừa tổ chức kiểm điểm ở cấp mình vừa chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn cấp dưới kiểm điểm, bảo đảm đúng mục đích, yêu cầu, nội dung và tiến độ thời gian đề ra; các đồng chí Bí thư cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị các cấp trong tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt hướng dẫn này ở cơ quan, đơn vị, địa phương được phân công phụ trách.

- Ban Thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Tỉnh  phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy báo cáo việc chuẩn bị, về thời gian tổ chức hội nghị kiểm điểm ở cấp, cơ quan, đơn vị mình để Ban Thường vụ Tỉnh ủy cử cán bộ dự, chỉ đạo, theo dõi.

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy sẽ chỉ đạo kiểm điểm bổ sung hoặc kiểm điểm lại đối với tập thể cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Tỉnh ủy và cá nhân cán bộ diện Tỉnh ủy quản lý, nếu xét thấy kiểm điểm không đạt yêu cầu. Ban thường vụ cấp ủy cấp trên, đảng đoàn, ban cán sự đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị xem xét, chỉ đạo kiểm điểm bổ sung hoặc kiểm điểm lại đối với tổ chức và các nhân trực thuộc cấp mình, nếu xét thấy kiểm điểm chưa đạt yêu cầu.

- Qua kiểm điểm nếu xét thấy có tổ chức và cá nhân có vi phạm đến mức phải xử lý thì thực hiện xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

- Sau đợt kiểm điểm này, việc thực hiện chế độ kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 được thực hiện thường xuyên hàng năm, gắn với kiểm điểm theo chức trách, nhiệm vụ được giao.

Sau khi hoàn thành kiểm điểm theo thời gian quy định, các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh gởi báo cáo (trước ngày 30/11/2012) tình hình, kết quả kiểm điểm của các địa phương, Sở, ban, ngành tỉnh về Văn phòng Tỉnh ủy để tổng hợp báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy; gởi tài liệu kiểm điểm của tập thể và cá nhân cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý về Ban Tổ chức Tỉnh ủy để theo dõi, giám sát sau kiểm điểm và quản lý theo quy định.

 



Gợi ý giải môn Địa khối C, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012
Tháng 7 10, 2012

Sáng nay, các thí sinh dự thi khối C vừa hoàn tất bài thi môn Địa lý, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012. Mời độc giả tham khảo gợi ý giải đề thi môn Địa do trang tuyển sinh nguyện vọng online http://tuyensinhnguyenvong.com/Home.htm cung cấp.

Mời độc giả tham khảo tại đây. 

Nhận định đề thi môn Địa, cô giáo Nguyễn Thị Minh Đỗ – phó Hiệu trưởng trường THPT Đào Duy Từ – Hà Nội cho biết, đây là đề hay, đảm bảo kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, vừa sức học sinh nhưng hơi dài.

Đề rộng dải từ phần tự nhiên sang đến dân cư, kinh tế các vùng. Đặc biệt là phần chương trình chuẩn với câu hỏi tài nguyên khoáng sản và nguồn lợi sinh vật biển, các huyện đảo Trường Sa, Hoàng Sa… Đây là điểm không mới trong đề thi nhưng hay gắn với thời sự đang nóng bỏng hiện nay.

Phần nâng cao vừa sức với học trò, các em dùng khả năng tư duy logic trên các mối quan hệ tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên với kinh tế, kinh tế với xã hội là làm được.

“Với đề thi này,  học sinh đạt trung bình đạt 5 – 6 điểm. Tuy nhiên để đạt điểm 7 hơi khó” – cô Đỗ cho hay.

Theo Dân trí

 


Gợi ý giải môn Tiếng Anh khối D, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012
Tháng 7 10, 2012

 Sáng nay, các thí sinh dự thi khối D vừa hoàn tất bài thi môn Tiếng Anh, đợt 2 kỳ thi ĐH 2012. Mời độc giả tham khảo gợi ý giải đề thi môn Tiếng Anh do trang tuyển sinh nguyện vọng online http://tuyensinhnguyenvong.com/Home.htm cung cấp.

Mời độc giả tham khảo tại đây.

Cô giáo Nghiêm Thị Thu Huyền, giáo viên tiếng Anh Trường THPT Đào Duy Từ, Hà Nội nhận định: “Đề tiếng Anh năm nay hơi dài. Nội dung cấu trúc đề nằm trong sách giáo khoa, không khó, rất phù hợp với học sinh. Học sinh học chắc trong sách giáo khoa và mở rộng ôn ở ngoài một chút là ổn”.

Theo cô Huyền, đề thi này không mang tính chất phân loại học sinh rõ như đề thi năm trước, nhưng đòi hỏi học sinh phải nắm chắc kiến thức. Nói chung, so với năm trước về mặt sàn điểm  môn Tiếng Anh năm nay cao hơn, điểm bình quân khoảng 6 điểm.
Theo Dân trí

 


Hôn nhân

  • picture Ngày ấy ba đã khóc

    T3/06/2013

    Cả ba, mẹ và con đều khóc khi vợ chồng con về lại mặt. Ngày đón chị dâu, mẹ đã rất mừng nhưng cũng chẳng thể kìm được tiếng khóc khi đón chị vào nhà. Mẹ vẫn bảo: “Đón con dâu khóc thế này, không biết khi con gái đi lấy chồng thì thế nào?”. [...]

  • picture Những điều cần biết trước khi hôn nhân đổ vỡ

    T3/06/2013

    Không ai tốt hơn là những phụ nữ đã ly dị nói với bạn về những hối hận muộn màng khi ly hôn. 10 lời khuyên sau đây chắc chắn sẽ giúp bạn nếu bạn đang cân nhắc chuyện này. 1. Bạn sẽ mất một thời gian để hồi phục và cảm thấy ổn Julie, [...]

  • picture “Chìa khóa” vào vườn yêu?

    T6/06/2013

    Vợ chồng em chưa tìm được sự hòa hợp chăn gối. Cả hai đều ngượng ngùng và vụng về, nên sự “thụ phấn” diễn ra rất qua loa, đơn điệu. Ông xã em khỏe mạnh, đứng đắn, cộc tính. Xin bác sĩ chỉ cho hai đứa em lối nào dẫn vào “chuyện ấy” để mọi [...]

Để tìm kiếm bạn nhớ đánh không dấu

Nhập email của bạn để nhận bài viết mới:

Chăm sóc bởi Google FeedBurner

Liên kết vàng
RSS Rao vặt – Quảng cáo

Liên hệ

Tư vấn tâm lý

Tư vấn phong thuỷ

Tư vấn bảo vệ môi trường