Món ăn điều trị viêm tiền liệt tuyến
Tháng 5 13, 2013

Theo y học cổ truyền, viêm tuyến tiền liệt cấp là do cảm nhiễm độc tà, thấp nhiệt hạ chú gây kinh lạc tắc, khí huyết ứ trệ, bàng quang khí hóa rối loạn. Viêm tuyến tiền liệt mạn là do phòng dục quá độ làm tổn thương tinh khí gây nên thận khí suy yếu, thấp nhiệt tà xâm lấn, hoặc do ngày thường rượu chè quá mức làm cho tỳ vị bị tổn thương, thấp nhiệt sinh ra ở bên trong, dồn xuống dưới khiến cho kinh lạc bị trở, khí huyết ứ trệ gây nên.

Ngoài việc dùng thuốc để điều trị, có thể dùng các món ăn, bài thuốc để hỗ trợ, rất tốt như dưới đây.

Cháo ngao biển, trứng muối

Nguyên liệu: gạo tẻ ngon 100g, thịt ngao 50g, trứng muối 1 quả.

Cách làm: ngao biển rửa sạch, hấp chín, bỏ vỏ, thái nhỏ thịt ngao, trứng muối luộc chín, lấy lòng đỏ. Cho gạo vào nước nấu nhừ thành cháo, khi cháo chín cho thịt ngao băm nhỏ và lòng đỏ trứng muối vào đánh đều, nêm gia vị vừa đủ. Ăn nóng.

mon an
 Ảnh minh họa. (nguồn: internet)

Cháo sinh địa hoàng

Nguyên liệu: gạo tẻ 100g, xa tiền thảo 30g, mật ong 50g, sinh địa hoàng 50g.

Cách làm: sinh địa hoàng hầm lấy nước, sau đó cho gạo vào nước sinh địa hoàng nấu thành cháo, khi cháo gần chín, cho mật ong vào nấu sôi, bắc ra ăn nóng. Ngày có thể ăn 2 lần vào buổi sáng và tối.

Cháo trai

Nguyên liệu: thịt trai 100g, gạo tẻ 100g, hành răm, gia vị vừa đủ dùng.

Cách làm: trai sống ngâm vào nước vo gạo 1 – 2 ngày cho nhả hết đất, rửa sạch vỏ, đem luộc chín, lấy thịt thái nhỏ, thêm gia vị, nước mắm ướp cho ngấm, xào chín với dầu thực vật hoặc mỡ lợn cho thơm. Gạo cho vào nồi nấu với nước luộc trai thành cháo. Sau khi cháo nhừ mới cho thịt trai đã xào vào đun sôi, cho thêm hành răm, gia vị, ăn cháo lúc nóng.

Canh thận dê nấu với hướng dương

Nguyên liệu: thận dê một đôi, hướng dương (đông quy) 500g, gừng 5g, hành 5 nhánh, nước đủ dùng.

Cách làm: thận dê rửa sạch, bỏ gân, thái miếng nhỏ. Cho thận dê đã thái nhỏ vào nồi cùng hướng dương, gừng, hành, đổ nước đủ dùng, nấu chín nhừ rồi nêm muối, gia vị vừa đủ ăn lúc nóng.

Cá trạch hầm đậu phụ

Nguyên liệu: cá trạch 250g, đậu phụ 250g, gia vị, hành, gừng đủ dùng.

Cách làm: cá trạch làm sạch, bỏ mang, ruột. Hầm nhừ cá mới cho đậu phụ, gừng, hành vào đun sôi, thêm gia vị, ăn nóng.

Cháo bí ngô

Nguyên liệu: gạo tẻ 50g, bí ngô 200g, đường đỏ 50g.

Cách làm: cho gạo vào 800ml nước đun lửa to cho đến khi sôi. Đem rửa sạch bí ngô, cắt thành miếng nhỏ cho vào nồi, đun nhỏ lửa cho đến khi thành cháo. Cho thêm đường đỏ là có thể ăn. Chia làm 1 – 2 lần, ăn khi đói.

Lương y Vũ Quốc Trung
SK & ĐS



Ăn gì để có nhiều “tinh binh”?
Tháng 5 5, 2013

Trong những năm gần đây, muộn con trở thành một vấn đề khá nóng đối với nhiều cặp vợ chồng. Nguyên nhân do nam giới phần nhiều vì chất lượng và số lượng tinh trùng không bình thường. Trong y học cổ truyền, căn bệnh này được gọi là chứng nam tử tinh thiểu, nam tử tinh hàn hoặc tinh thanh bất dục. YHCT còn khuyên người bệnh nên trọng dụng những đồ ăn thức uống mang tính ôn ấm, có tác dụng bổ thận sinh tinh.

Nước cơm: còn gọi là mễ du, mễ thang… là thứ nước cơm sánh đặc nổi lên trên mặt nồi cơm hoặc nồi cháo. Nam giới mắc chứng tinh loãng  nên uống.

to yen

Bào thai hươu: tính ấm, vị ngọt mặn, có công dụng ích thận tráng dương, bổ hư sinh tinh.

Hải sâm: nam giới mắc chứng tinh thiểu, tinh lãnh, tinh loãng ăn đều tốt.

Mỡ chim bìm bịp: tục gọi là điền kê du, có công dụng bổ thận ích tinh, nhuận phế dưỡng âm, được dân gian coi là loại thực phẩm cường tráng tư bổ.

Củ mài: còn gọi là hoài sơn hay sơn dược. Người xưa khuyên những người thận hư tinh thiếu, ăn hoài sơn càng nhiều, càng lâu càng tốt.

Ngoài ra, các thực phẩm khác cũng rất có ích cho việc bổ thận sinh tinh như kỷ tử, hạt dẻ, ngân nhĩ, tổ yến, sữa ong chúa, cao da lừa, tinh hoàn và dương vật chó, đông trùng hạ thảo, tắc kè, nhung hươu…   
          
Lương y Hoài Vũ
SK & ĐS



Những món ăn dành cho người “đứt gánh giữa đường”
Tháng 4 29, 2013

Nam giới thường cậy mình khỏe ở mọi lúc mọi nơi, nhất là chuyện ấy. Nhưng nhiều khi lâm trận thì bị “đứt gánh giữa đường”… Y học cổ truyền có những món ăn giúp phái mạnh không bị yếu khi yêu khá hữu hiệu.

Gà đen hầm hạt dẻ: gà đen 500g, nhân hạt dẻ 100g, hành 5 nhánh, gừng 5g, rượu 20ml, dầu ăn 30ml.

Gà đen làm sạch lông, bỏ nội tạng, rửa sạch, chặt miếng, chần qua, vớt ra rổ để ráo nước. Bắc nồi lên bếp, cho dầu ăn, hành phi thơm rồi đổ gà vào, xào qua, cho nhân hạt dẻ vào cùng, đổ nước xâm xấp vào hầm đến khi chín nhừ, nêm gia vị là dùng được.

chao chim cut

Cháo chim cút bổ thận, tráng dương.

Món ăn này giàu protein, axit béo không bão hòa, các khoáng chất như canxi, photpho, sắt và các vitamin, rất tốt cho những người bị di tinh, tiểu tiện nhiều lần, khó đi tiểu.

Thịt chó hầm hồi hương: thịt chó 500g, hồi hương 5g, tiểu hồi hương 5g, vỏ quế 5g, thảo quả 5g, gừng tươi 5g, muối một ít 3g.

Thịt chó thái miếng, nêm hồi hương, tiểu hồi hương, vỏ quế, thảo quả, gừng tươi và muối với lượng vừa ăn, cho vào nồi hầm nhừ. Ăn khi còn nóng ấm. Dùng cho người bị bệnh liệt dương do tỳ, thận dương hư.

Cháo chim cút: chim cút 2 con, gạo nếp 100g, đậu đen 50g, hành 5 nhánh, hạt tiêu 3g, gừng 5g.

Chim cút làm sạch, để cả con, cho vào nồi cùng gạo nếp, đậu đen vo kỹ. Chế thêm khoảng 600ml nước dùng đun sôi, bớt lửa hầm đến khi thịt chín, gạo và đậu chín nhừ thì bắc ra nêm gia vị, gừng, hành, hạt tiêu vào là dùng được. Chim cút vị ngọt, tính bình, bổ thận, tráng dương, củng cố khí tạng. Đậu đen bổ thận âm, giải độc; hành, gừng, tiêu thực khí, thông khí. Có thể thay chim cút bằng chim sẻ hoặc chim ngói để nấu cháo này, đều có tác dụng như vậy.

Ba ba hầm dây tơ hồng: ba ba 1 con, tơ hồng 12g, gừng 5g, hành 5 nhánh, muối 3g.

Ba ba bỏ đầu, đuôi, móng và bộ lòng, dây tơ hồng rửa sạch, bỏ vào túi vải, gừng cắt lát, hành cắt khúc. Bỏ bao dây tơ hồng vào nồi, cho ba ba, gừng, hành, muối, đổ thêm ít nước. Nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ, hầm khoảng 45 phút là được. Ba ngày ăn một lần, thang trên chia ra làm bốn lần ăn. Món ăn này có tác dụng bổ thận ích tinh, bồi bổ khí huyết.

Canh thận dê, hồng sâm, nhục thung dung: hồng sâm 10g, nhục thung dung 15g, thận dê 1 đôi. Rửa thận dê, cho nước vào xoong, đun trong 30 phút. Sau đó cho hồng sâm, nhục thung dung vào, tiếp tục đun 15 phút nữa. Húp nước, ăn hồng sâm và thận dê. Món ăn này có tác dụng bổ thận tráng dương, sinh tinh, ích tủy, tốt cho người rối loạn cương.    

Lương y Hoài Vũ
SK & ĐS



Cá chạch tốt cho người bệnh gan và đái tháo đường
Tháng 4 16, 2013

Cá chạch không những có giá trị bổ dưỡng cao mà còn có khả năng phòng chống bệnh tật. Người xưa gọi cá chạch là “nhân sâm dưới nước”, sống trong ao hồ, đầm lầy, ruộng nước…
Cá chạch có nhiều tên gọi khác nhau như thu ngư, hòa thu, nê thu…, tên khoa học của nó là Misgurnus anguillicaudatus (Cantor). Theo phân tích của dinh dưỡng học hiện đại, trong 100g thịt cá chạch chứa 83g nước, 9,6g protid, 3,7g lipid, 2,5g glucid và 1,2g chất khoáng. Như vậy, thịt cá chạch có lượng mỡ khá thấp nhưng lượng đạm lại phong phú, cao hơn nhiều so với các loại thịt và cá khác.

Theo dinh dưỡng học cổ truyền, cá chạch vị ngọt, tính bình, có công dụng bồi bổ tỳ vị, dưỡng thận trừ thấp, làm hết vàng da, cầm đi lỏng và có lợi cho dương sự. Dưới dạng các món ăn – bài thuốc (dược thiện), cổ nhân thường dùng cá chạch để chữa các chứng bệnh như tiêu khát (tiểu đường), dương nuy (liệt dương), trĩ, viêm gan, mụn nhọt, lở loét ngoài da… Xin giới thiệu một số phương cách dùng cá chạch để bồi bổ sức khỏe và phòng chống bệnh tật.

Bài 1: cá chạch rán vàng 120g, hoàng kỳ 15g, đẳng sâm 15g, hoài sơn 30g, đại táo 15g, gừng tươi 5g. Tất cả đem sắc kỹ, lấy nước bỏ bã, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: bồi bổ tỳ vị, dưỡng huyết, dùng thích hợp cho người suy nhược cơ thể, gầy yếu, thiếu máu, trẻ em suy dinh dưỡng.

ca chach

Bài 2: cá chạch 250g, đậu phụ 500g. Cá chạch làm sạch, bỏ đầu đuôi; đậu phụ thái miếng đem nấu chín rồi cho cá chạch vào đun sôi một vài phút là được, chế thêm hành, gừng tươi và gia vị, dùng làm canh ăn. Công dụng: bổ tỳ vị, trừ thấp, dùng thích hợp cho người bị viêm gan vàng da, tiểu tiện không thông.

Bài 3: cá chạch 250g, mỡ lợn, hạt tiêu và gia vị vừa đủ, nấu thành canh ăn liền trong nửa tháng. Có thể thêm tôm sông tươi 30g và một chút rượu vang. Công dụng: bổ thận trợ dương, có lợi cho dương sự, dùng thích hợp cho người bị liệt dương, suy giảm khả năng tình dục.

Bài 4: cá chạch 250g, cát cánh 6g, địa du 18g, hoa hòe 9g, kha tử 9g. Tất cả đem sắc kỹ, bỏ bã lấy nước uống. Công dụng: chữa trĩ xuất huyết, trĩ sa không tự co lên được.

Một nghiên cứu được tiến hành trên 40 bệnh nhân bị viêm gan truyền nhiễm, kết quả có 24 bệnh nhân hết hẳn các triệu chứng lâm sàng, gan hết sưng, chức năng gan được phục hồi hoàn toàn; 11 bệnh nhân cơ bản hết các triệu chứng, chức năng gan được cải thiện, gan đỡ sưng; chỉ có 5 bệnh nhân không có tác dụng, bài thuốc đạt hiệu quả 87,5%. Các nhà y học Trung Quốc nhận thấy, cá chạch có tác dụng lợi mật, làm hết vàng da khá nhanh và có khả năng bảo vệ tế bào gan, làm hạ men gan tương đối tốt. Đối với trường hợp viêm gan mạn tính, cá chạch cũng có tác dụng điều trị ở một mức độ nhất định.

Cách dùng cá chạch để chữa bệnh tiểu đường: lấy 10 con cá chạch bỏ đầu đuôi, làm sạch, phơi hoặc sấy khô, đốt thành than rồi tán bột; lá sen tươi phơi khô tán bột, hai thứ lượng bằng nhau, trộn đều, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 thìa nhỏ.      

ThS. Xuân Mai
SK & ĐS



Các món ăn cho nam giới muộn con
Tháng 4 13, 2013

Theo y học hiện đại, vô sinh nam phần lớn là do số lượng tinh trùng mỗi lần xuất tinh không đủ, chất lượng tinh trùng yếu (tỷ lệ sống, số di động nhanh ít…). Để điều trị vô sinh nam, điều quan trọng là phải dùng thuốc hoặc món ăn có tác dụng bổ thận, tráng dương, sinh tinh ích tủy… trong đó tăng cường chức năng của thận có vai trò vô cùng quan trọng, vì theo YHCT thận tàng tinh, sinh tinh và là chủ cơ quan sinh sản.

Dưới đây là những món ăn có tác dụng bổ thận, tráng dương, sinh tinh ích tủy giúp khắc phục vô sinh nam:

Gà hầm kỷ tử: gà trống 1 con, kỷ tử 20g, hoàng tinh 20g. Gà làm thịt, moi ruột, rửa sạch, cho 2 vị thuốc vào hầm nhừ để ăn. Món ăn bài thuốc này thích hợp với bệnh nhân vô sinh có các triệu chứng: thắt lưng, đầu gối mỏi nhừ, miệng khô, hoa mắt, chóng mặt.

ga ham ky tu
 Gà hầm kỷ tử.

Canh đuôi lợn, tục đoạn: đuôi lợn 50g, đỗ trọng 20g, ba kích, tục đoạn 20g, nhục thung dung 20g, đậu đen 30g, gia vị vừa đủ. Đuôi lợn rửa sạch đem hầm với các vị thuốc trên, nêm gia vị vừa dùng. Dùng liên tục 7 – 10 ngày. Công dụng: bổ thận, sinh tinh.

Canh hải sâm: hải sâm 100g ngâm cho nở, măng 20g, nấm hương 5g, dầu thực vật, rượu, bột ngọt, hành băm, gừng băm, muối, tiêu bột vừa đủ. Hải sâm thái từng thỏi, măng xé nhỏ, phi hành, gừng cho thơm, đổ vào nước dùng, cho tiếp hải sâm, nấm, măng, gia vị đun tới sôi, rắc tiêu bột là được. Ăn kèm trong bữa cơm. Công dụng bổ thận tráng dương ích khí, tăng số lượng, chất lượng tinh trùng.

Thịt chó 250g, tiên mao, tiên linh tì mỗi thứ 15g, nấu chín nhừ để ăn giúp sinh tinh.

Thịt dê 100g, gạo tẻ 50g. Thịt rửa sạch thái nhỏ, cho vào nấu cháo với gạo tẻ để ăn. Món ăn này dành cho những bệnh nhân thắt lưng mỏi nhừ, ít tinh trùng.

Tôm nõn 250g, rau hẹ 100g. Cho tôm đã rửa sạch vào rán, sau đó cho hẹ vào xào chín để ăn. Thích hợp với bệnh nhân vô sinh nói chung.

Gan lợn 100g, rau chân vịt 50g đem xào chín để ăn. Thích hợp với bệnh nhân tinh trùng ít hoặc sức hoạt động của tinh trùng yếu.

Trứng chim sẻ 4 quả, đánh lẫn với thịt của 5 quả long nhãn, nấu chín lên ăn, mỗi ngày 3 lần. Thích hợp với các bệnh nhân vô sinh nói chung.

Dương vật bò 25g, dương khởi thạch (một loại khoáng chất) 25g, bột hạt dẻ 25g, gạo tẻ 100g. Nấu dương khởi thạch lấy nước, dùng nước đó nấu cháo với dương vật bò để ăn, ngày 2 lần. Thích hợp với bệnh nhân liệt dương, không xuất tinh, tinh trùng ít và yếu.     

Lương y Hoài Vũ
SK & ĐS



Mang thai và những dưỡng chất cần bổ sung
Tháng 4 2, 2013

Có 3 chất cần bổ sung khi mang thai là acid folic (vitamin B9), sắt và iốt. Ngoài ra, mẹ bầu cũng cần bổ sung thêm những vi chất khác để đảm bảo có một thai kỳ khỏe mạnh.

Khi mang thai, ngoài 3 loại vitamin và khoáng chất cần thiết phải bổ sung trong quá trình mang thai là acid folic (vitamin B9), sắt và iốt thì thai phụ còn cần phải bổ sung thêm nhiều chất khác để có thể sinh ra những em bé khỏe mạnh và thông minh.

Thực tế, chế độ ăn uống hàng ngày và sự phát triển của thai nhi có mối liên quan chặt chẽ đến nhau. Sự thiếu hụt hay thừa chất dinh dưỡng đều gây ra những ảnh hưởng không tốt đến thai nhi.

Acid folic – hay còn gọi là vitamin B9

Nếu thiếu acid folic trong khi mang thai, người mẹ có thể bị thiếu máu hồng cầu, dẫn đến nguy cơ sảy thai, sinh non, suy dinh dưỡng bào thai và đứa trẻ sinh ra có thể khuyết tật.

Sự thiếu hụt vitamin B6, B12 và acid folic sẽ ảnh hưởng đến chức năng của enzym homocysteine dẫn đến dị tật thai nhi, khuyết tật hệ thần kinh và tràn dịch màng não. Khi mang thai, mẹ bầu cần đồng thời bổ sung 3 nhóm chất này theo sự hướng dẫn của bác sĩ.

Acid folic có nhiều trong các loại thực phẩm như: gan động vật, cà chua, các loại rau lá màu xanh thẫm: rau muống, mồng tơi, rau ngót, rau súp lơ xanh…
Những chất cần bổ sung khi mang thai 1

63c24fnhungchatcanbosungkhiman
 
Sắt
 
Thông thường, lượng sắt cần cho cơ thể thai phụ khoảng 30-60 mg một ngày, gấp đôi lượng sắt lúc bình thường.Thiếu sắt tăng nguy cơ sinh non, băng huyết, nhiễm trùng phụ sản ở phụ nữ mang thai.

Ngoài việc bổ sung các thực phẩm chứa nhiều sắt (thịt bò, thịt lợn, huyết lợn, gà, vịt, cá thu, cá ngừ, trái khô, đậu, trứng, rau xanh…), các bà mẹ khi mang thai cần bổ sung 600 miligam sắt nguyên tố hằng ngày để đảm bảo lượng sắt cần thiết.

I-ốt

Thiếu i-ốt, thai nhi có thể bị bướu cổ, thiểu năng hoặc suy giảm thể chất. Với sự xuất hiện của nhiều loại muối i-ốt hiện nay thì tình trạng thiếu i-ốt đã giảm đi. Tuy nhiên, ở một số nơi lại có tình trạng bị thừa i-ôt.

Thừa i-ốt cũng có thể gây bướu cổ và suy giảm chức năng não, trí tuệ, trí nhớ. Vì vậy, khi mang thai, mẹ bầu cần phải chú í tới việc bổ sung lượng i-ốt sao cho vừa đủ.

Protein

Khi mới mang bầu, do bị nghén nên nhiều phụ nữ thường không ăn được gì khiến cơ thể bị thiếu chất. Sự thiếu hụt protein sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển não của thai nhi. Thể trọng não của thai nhi có thể nhẹ, ít số lượng tế bào não gây giảm trí thông minh. Tuy nhiên, nếu thừa protein, đặc biệt là protein động vật sẽ dẫn đến sự tiêu thụ quá mức các acid amin, đẩy nhanh việc mất canxi và dẫn đến loãng xương.

Lời khuyên của bác sĩ đó chính là mẹ bầu có thể ăn thực phẩm chứa nhiều vitamin C và B6. Những vitamin này sẽ giúp mẹ bầu cảm thấy ngon miệng hơn. Tuy nhiên, khi lựa chọn thực phẩm, mẹ bầu hãy chú ý lượng protein nạp vào cơ thể để tránh gây ảnh hưởng đến sự hấp thụ canxi của em bé.
Những chất cần bổ sung khi mang thai 2
 
 
Chất béo
 
Chất béo, đặc biệt là các acid không no có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành các tế bào não. Nếu thiếu chất béo có thể gây ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ. Tuy nhiên, sự thừa chất béo cũng sẽ gây ra những tác hại gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng. Vì vậy, mẹ bầu khi bổ sung chất béo cần phải có những lưu ý cho phù hợp, tránh sự thừa hoặc thiếu không cần thiết.

Carbohydrates

Carbohydrates có nhiệm vụ chính là cung cấp năng lượng cho cơ thể. Tuy nhiên, khi lượng chất này quá nhiều có thể gây đục thủy tinh thể hoặc làm ảnh hưởng đến thị giác của trẻ. Trẻ sinh ra có thể bị mù bẩm sinh hoặc bị bệnh tim và một vài dị tật khác. Bởi vậy, các chuyên gia sức khỏe khuyên mẹ bầu không nên ăn quá nhiều mì ống trong thời kỳ mang thai.

Vitamin A

Thiếu vitamin A có thể gây ra những dị tật về mắt, tim và phổi. Nếu thiếu hụt nghiêm trọng vitamon A thì sẽ dẫn đến sảy thai hoặc thai chết lưu. Ngược lại, thừa vitamin A lại có thể gây ngộ độc mãn tính, ảnh hưởng không tốt đến xương và gây dị tật đường tiết niệu của thai nhi.

Vitamin E

Thiếu vitamin E, thai phụ có thể bị sẩy thai, sinh non hoặc trẻ sinh ra không có não hoặc bị dị tật bẩm sinh. Ngược lại, sự thừa vitamin E có thể dẫn đến hiện tượng cao huyết áp, đau đầu, chóng mặt.
Những chất cần bổ sung khi mang thai 3
 
Ngoài ra, các nguyên tố vi lượng cũng là những chất cần bổ sung khi mang thai:
 
- Thiếu canxi sẽ tác động đến sự phát triển xương của thai nhi. Ngược lại, thừa canxi lại có thể gây vôi hóa nhau thai, vôi hóa đốt xương khiến trẻ chậm phát triển chiều cao.

- Thiếu magie sẽ khiến thai nhi bị dị tật bẩm sinh như sứt môi, cằm ngắn, lưỡi nhỏ, thoát vị cơ hoàng, tràn dịch màng phổi. Khi mang bầu, có rất nhiều phụ nữ hầu như chỉ chú ý tới việc bổ sung canxi mà bỏ qua việc bổ sung magie

- Phụ nữ mang thai nếu bị thiếu kẽm sẽ bị mất cảm giác ngon miệng, gây giảm lượng thức ăn vào cơ thể. Điều này cũng trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân chia tế bào thai nhi gây rối loạn, chậm tăng trưởng trí tuệ hoặc thiếu hụt lượng nước ối, giảm chức năng miễn dịch.
Việc bổ sung kẽm cho cơ thể cần phải có những chú ý vì thừa lượng kẽm cũng sẽ ảnh hưởng không tốt cho cả mẹ bầu và thai nhi như cảm thấy buồn nôn, tiêu chảy…
 
Theo A.family



Món ăn cho trẻ suy dinh dưỡng
Tháng 3 31, 2013

Tình trạng suy dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến thể lực và trí tuệ của trẻ. Chế độ ăn uống như thế nào để trẻ khỏe mạnh, thông minh, không bị suy dinh dưỡng… luôn là mối quan tâm của các bậc cha mẹ. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý cho con mình.

Suy dinh dưỡng là bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi. Y học cổ truyền gọi bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ là bệnh cam, liên quan đến hoạt động tiêu hoá thất thường (tích trệ đồ ăn, trùng tích) nên còn gọi là cam tích. Nguyên nhân có thể do bẩm sinh nguyên khí kém; do thiếu dinh dưỡng lâu ngày, ăn uống mất điều độ, ăn quá nhiều đồ béo ngọt; hoặc do các bệnh mạn tính như tiêu chảy mạn, cảm nhiễm đường hô hấp nhiều lần.

Bệnh cam tích ở trẻ chia thành 3 thời kỳ: thời kỳ khí cam, thời kỳ cam tích và thời kỳ cam khô. Ở thời kỳ đầu trọng lượng của trẻ thường giảm nhẹ hoặc không tăng cân, biếng ăn; ở thời kỳ thứ hai trẻ kém phát triển chiều cao hoặc không phát triển, người gầy, cơ bắp nhẽo, da bụng mỏng, xương sườn lộ rõ; thời kỳ thứ ba cơ thể trẻ suy yếu, sắc mặt trắng xanh hoặc hơi vàng, da, tóc khô, bụng trướng, tinh thần bứt rứt, buồn bực, chán ăn… Ở thể nặng trẻ thường kèm theo các bệnh khác như thiếu máu dạng thiếu sắt, rối loạn chức năng của hệ tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, thần kinh đặc biệt là suy giảm khả năng miễn dịch, đề kháng của cơ thể, trẻ dễ mắc các bệnh khác. Để phòng bệnh cam ở trẻ, chế độ nuôi dưỡng là rất quan trọng ngay từ những ngày đầu khi trẻ ăn dặm. Xin giới thiệu một số món ăn – nước uống bổ dưỡng, chữa bệnh cam ở trẻ để các bà mẹ có thể tham khảo thực hiện.

chao cho tre

Cháo ý dĩ:

Ý dĩ 50g, cháy cơm 30g, hạt sen 50g, đường 30g. Ý dĩ xay thành bột. Cháy cơm loại vàng ngon phơi khô sao vàng xay thành bột. Hạt sen ngâm với nước chanh một đêm hôm sau vớt ra phơi khô tán bột. Tất cả cho vào nồi thêm cho nước vừa đủ, đun trên lửa nhỏ, cháo chín cho đường vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn lúc còn nóng, chia 3 lần trong ngày, cần ăn từ 10 – 20 ngày.

Cháo thịt cóc:

Thịt cóc 5g, củ mài 20g, gạo tẻ 50g, gạo nếp 20g, muối vừa đủ. Chọn cóc vàng, làm thịt chỉ lấy mình và đùi, rửa nhiều lần nước cho sạch, nướng vàng, tán thành bột. Củ mài sấy khô, tán thành bột. Gạo tẻ và gạo nếp xay thành bột. Cho bột củ mài, bột gạo tẻ vào nồi thêm nước vừa đủ, đun trên lửa nhỏ, cháo chín cho bột thịt cóc vào quấy đều, khi cháo sôi lại là được. Trước khi ăn thêm muối cho vừa miệng. Ngày ăn 3 lần, cần ăn trong nhiều ngày, có thể không cần ăn liên tục mà cứ 5 ngày ăn lại nghỉ 5 ngày, sau đó tiếp tục ăn.

Cháo củ mài:

Củ mài 20g, gạo 50g, biển đậu 10g, lòng đỏ trứng gà 1 cái, đường trắng 20g. Củ mài sấy khô. Gạo, biển đậu đều xay thành bột. Trứng gà luộc bóc lấy lòng đỏ, cho vào bột gạo dầm nát trộn đều. Tất cả cho vào nồi nồi thêm 200ml nước đun trên lửa nhỏ. Khi cháo chín cho đường quấy đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 15 ngày.

Cháo ếch:

Ếch 1 con (150 – 200g), cà rốt 50g, gạo 50g, mắm muối vừa đủ. Ếch làm thịt bỏ đầu và nội tạng, bỏ bàn chân, ướp mắm muối trong 20 phút. Cà rốt gọt vỏ, rửa sạch mài thành bột. Cho gạo và ếch vào ninh nhừ thành cháo, trước khi ăn cho cà rốt vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 5 – 10 ngày.

Cháo chim cút:

Chim cút 1 con (250 – 300g), gạo nếp 30g, gạo tẻ 50g, vỏ quýt khô 30g, mắm muối vừa đủ. Chim cút làm sạch (bỏ ruột, phổi, phần đầu từ mắt trở lên, chân), ướp mắm muối trong 20 phút. Vỏ quýt tán thành bột cho vào bụng chim cút, cùng gạo tẻ, gạo nếp nước vừa đủ ninh thành cháo. Cho trẻ ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 5 – 10 ngày.

Bột chữa cam:

Gạo nếp 200g, củ mài 50g, củ súng 15g, ý dĩ 10g, sơn tra 10g, trần bì 10g. Gạo nếp ngâm ngập nước một đêm vớt ra để ráo rồi rang trên lửa nhỏ cho vàng. Các thức khác đều sấy khô. Tất cả tán thành bột mịn. Cho trẻ uống ngày 2 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê đầy, thêm chút đường hoà vào nước đun sôi để nguội cho trẻ uống. Cần uống liền 1 tháng.

Gan gà hấp:

Gan gà 150g, phục linh 10g, bột gia vị vừa đủ. Phục linh tán thành bột. Gan gà rửa sạch thái vừa miếng ướp gia vị. Trộn bột phục linh với gan gà cho đều hấp cách thuỷ, khi chín cho trẻ ăn ngày 1 lần lúc đói, cần ăn liền 5 – 10 ngày. Có thể thay gan gà bằng gan lợn.

Cá quả hấp:

Cá quả 1 con (khoảng 250g), tỏi 2 tép vừa, bột gia vị vừa đủ. Cá quả làm sạch bỏ ruột, khía trên mình cá 2 – 3 nhát. Tỏi giã nhỏ cùng bột ngọt, bột gia vị ướp cá, sau 20 phút đem hấp cách thuỷ, khi chín cho trẻ ăn. Khi ăn gỡ lấy thịt cá nạc và nước, ngày ăn 1 lần, cần ăn liền 5 – 10 ngày.

Lưu ý:

Nên cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng. Do hệ tiêu hoá của trẻ còn yếu nên thức ăn phải nấu nhừ, cần cho ăn nhiều rau xanh, hoa quả chín; không nên cho trẻ ăn quá nhiều các chất béo, ngọt, tanh, các đồ sống, lạnh tránh rối loạn tiêu hóa dẫn đến các chứng cam; không ăn các loại gia vị cay nóng.

Tạo cho trẻ ăn, ngủ đúng giờ…

Tăng cường vận động, xoa bóp cho trẻ.

Theo: Lương y Đình Thuấn
Chăm sóc trẻ bị suy dinh dưỡng:

    Trẻ bị suy dinh dưỡng thường kém ăn, hay bị rối loạn tiêu hóa hoặc mắc bệnh. Việc nuôi dưỡng chỉ có hiệu quả khi bệnh của trẻ đã được điều trị một cách triệt để.
    Cần phải cho ăn nhiều bữa trong ngày, mỗi bữa một ít để bảo đảm số lượng thức ăn cần thiết cho trẻ đồng thời phải cung cấp năng lượng cao hơn trẻ bình thường.
    Đối với trẻ 1-2 tuổi ngoài bú mẹ cần ăn thêm 4 bữa/ngày. Trẻ 3-5 tuổi cần ăn 5-6 bữa/ngày.
    Trong chế độ ăn, ngoài gạo để nấu bột, cháo hoặc cơm và các thức ăn như trẻ khác cần phải thêm thịt hoặc cá, trứng, đậu đỗ, rau xanh và mỡ hoặc dầu. Cho ăn thêm hoa quả chín.
    Nên cho dầu mỡ quấy vào bột cháo hoặc cho dầu mỡ vào nước canh, rau xào… để tăng đậm độ nhiệt trong bữa ăn của trẻ.
    Cách chế biến bữa ăn phải phù hợp với khẩu vị của trẻ, luôn thay đổi món ăn để trẻ ăn ngon miệng.

Theo BS. Nguyễn Văn Tiến
SK & ĐS



7 lưu ý quan trọng khi mang thai
Tháng 3 8, 2013

Điều chỉnh chế độ ăn uống

Hầu hết các bà bầu đều cần gia tăng hàm lượng protein, một số vitamin và khoáng chất như axit folic và sắt, canxi. Hạn chế đồ ăn nhanh do nó không cung cấp nhiều calo. Ăn tốt hơn không hẳn là ăn nhiều hơn. Bạn chỉ cần nạp khoảng 300 calo mỗi ngày.

Không ăn gỏi, hàu sống và pho mát mềm

Bạn sẽ cần phải tránh xa đồ hải sản sống, sữa chưa qua tiệt trùng hoặc pho mát mềm, đồ ăn chưa nấu chính. Tất cả đều là nguồn vi khuẩn có thể gây hại cho đứa con chưa sinh của bạn.

Một số loài cá chứa nhiều thủy ngân gây hại cho não của bào thai. Hạn chế ăn cá ngừ, cá thu, cá biển.

Bạn cũng không nên uống cocktail. Sử dụng chất cồn trong quá trình mang thai sẽ gây các biến chứng thể chất, làm giảm khả năng học hỏi và gây trục trặc về tâm lý cho trẻ. Nên từ bỏ rượu hoàn toàn khi mang thai.

Cũng không nên dùng đồ uống có caffeine. Uống hơn 4 cốc cà phê mỗi ngày có thể dẫn tới sảy thai, con nhẹ cân và cả thai chết lưu. Caffeine có thể nằm trong trà, cola, ca cao, các đồ uống có gas và cả chocolate.

Nên dùng đồ uống như sữa không béo, nước quả tươi hoặc nước lọc thêm lát chanh.

dinh duong khi mang thai

Ăn uống khoa học và hợp lý giúp bạn luôn khỏe mạnh trong suốt thai kỳ. ảnh minh họa.

Ăn nhiều cá

DHA có tác dụng lớn đối với sự phát triển não bộ của bé, giúp bé sinh ra có thị lực tốt hơn, bộ nhớ và khả năng ngôn ngữ phát triển hơn. Để tăng cường sức khỏe của mẹ và đảm bảo em bé trong bụng được khỏe mạnh cần cung cấp đủ lượng DHA cần thiết có lẽ là một trong những điều lưu ý quan trọng về dinh dưỡng khi mang thai. Bà bầu cần ăn ít nhất khoảng 300g cá mỗi tuần hoặc có thể uống bổ sung viên dầu cá thay thế nếu không thích cá.

Không bỏ qua sữa và các chế phẩm từ sữa

Phụ nữ mang thai không cần thiết phải uống sữa dành cho bà bầu tốn kém, chỉ cần uống sữa tươi hoặc sữa bột là được. Thực ra sữa bà bầu chỉ bổ sung thêm vitamin và khoáng chất, nếu ăn uống đúng cách và uống vitamin bổ sung mỗi ngày thì sữa tươi hoàn toàn được. Nhớ phải chọn loại nguyên kem để cung cấp đủ năng lượng và chất béo thiết yếu cho mẹ và bé.

Uống đủ nước mỗi ngày

Sau khi mang thai, do trao đổi chất cơ sở tăng, lượng tiêu hao nước trong cơ thể cũng tăng tương ứng. Do vậy để đáp ứng nhu cầu về nước ngày càng tăng của cơ thể trong suốt thời kỳ mang thai, bạn cần uống khoảng 3 lít nước (khoảng 10 đến 12 cốc nước) Thêm một ly nước sau khi tập luyện nhẹ nhàng.

Vào mùa hè bạn cần uống thêm 1 – 2 ly nữa (11 – 13 cốc) để bù lại lượng nước bị thất thoát qua đường mồ hôi.
Nước quả cũng có thể coi là nước bổ sung nhưng cần nhớ là chúng cũng cung cấp nhiều năng lượng hơn. Tránh các loại đồ uống chứa cafein như cà phê, co la và trà bởi vì chúng rất lợi tiểu, làm cơ thể bạn nhanh mất nước.

Bổ sung vitamin, khoáng chất

Các viên vitamin bổ sung sẽ đảm bảo bạn có đủ chất dinh dưỡng cần thiết. Đảm bảo vitamin chứa 600-800 microgram axit folic. Thiếu loại vitamin B này sẽ dẫn tới dị tật thai nhi. Trong giai đoạn sau của thai kỳ, bạn còn cần bổ sung sắt và canxi. Tuy nhiên, tránh dùng quá liều vitamin và khoáng chất, nó có thể gây hại cho con bạn.

Tăng cân vừa phải

Nhìn chung, bạn nên tăng từ 11 kg đến 15 kg nếu bạn bắt đầu thai kỳ bằng số cân chuẩn. Còn nếu bạn bị thiếu cân trước khi mang bầu, bạn nên tăng khoảng 12-18 kg. Những ai đã bị thừa cân khi mới bắt đầu thì chỉ cần tăng khoảng 6-11 kg.

Thời điểm bạn tăng cân cũng quan trọng như số cân tăng. Bạn nên tăng ít cân nhất trong quý đầu, khoảng 1-2 kg, tiếp đến tăng từ từ, và số cân tăng lên nhiều nhất (khoảng 0,5 kg mỗi tuần) trong quý 3, khi đó trẻ phát triển nhanh nhất.

Minh Thúy

Theo Dinhduong



9 loại nước giúp giải bia rượu cho cơ thể
Tháng 2 11, 2013

1. Gừng tươi

Thái một củ gừng tươi khoảng 60 gram thành từng lát mỏng, sau đó đem sắc nước uống. Vị gừng nóng làm cho các mạch máu lưu thông tốt hơn, từ đó hóa giải nhanh chất cồn trong cơ thể. Có thể cho thêm vào nước gừng nóng một thìa nhỏ mật ong để có thể hấp thụ nhanh và giúp giải say rượu.

2. Nước mía

Khi say rượu chỉ cần uống một cốc nước mía ép sẽ có tác dụng giải rượu nhanh chóng nhất.

3. Cà chua

Cà chua cũng giải rượu. Cách dễ làm nhất là uống một cốc nước ép cà chua chín. Trong cà chua có nhiều nguyên tố nói trên sẽ kịp thời bổ sung cho cơ thể.

ca chua

4. Nước bưởi

Ăn bưởi hoặc uống nước bưởi ép cũng có tác dụng làm tỉnh rượu và giải ngộ độc rượu

5. Chè xanh

Chè xanh có chất axít tanic khử được chất cồn trong rượu nên cho người say rượu uống một cốc chè xanh pha đặc cũng sẽ giải ngộ độc rượu rất tốt.

6. Cháo nóng nấu loãng

Chất cồn trong rượu gặp nước cháo loãng sẽ bị ngưng tụ lại làm cơ thể không hấp thụ được chất cồn, giảm được tình trạng say.

7. Rau muống

Rửa sạch 500g rau muống tươi (loại rau sạch) giã nát, vắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày sẽ giải được ngộ độc và khỏi say rượu.

8. Đậu xanh

Nghiền nát khoảng nửa lon đậu xanh hạt, sau đó hòa vào nước sôi để nguội rồi cho người ngộ độc rượu uống để nôn mọi chất trong dạ dày ra. Sau đó có thể cho người ngộ độc ăn cháo gạo nấu với 30g cam thảo.

9. Đậu đen

Ninh đậu đen cho nhừ rồi uống liên tục từng chén một sẽ có tác dụng giải ngộ độc rượu.

Theo Gia đình



Món ăn cho người béo phì
Tháng 1 30, 2013

Chứng béo phì là một loại bệnh do cơ thể có năng lượng đầu vào nhiều hơn so với năng lượng tiêu hao, dẫn đến chất béo tích tụ quá nhiều trong cơ thể, hình thành vóc dáng phì nộn, cân nặng vượt mức bình thường thấy rõ. Dưới đây là một số món ăn ít chất béo, thích hợp với người béo phì.

Nấm hương xào rau cần

Rau cần 500g, nấm hương ngâm nước 50g, muối 3g, bột nêm, bột năng với mỗi thứ vừa đủ, dầu ăn 50ml.

Rau cần bỏ lá, rửa sạch, thái cọng dài 2cm, ướp với muối khoảng 10 phút, dùng nước dội rửa sạch để ráo, sử dụng sau. Nấm hương thái lát, cùng giấm, bột nêm, bột năng ướp trong chén, thêm nước khoảng 50ml, khuấy thành xốt, sử dụng sau. Bắc chảo lên bếp có lửa to cho nóng, đổ vào 50ml dầu, khi dầu bốc khói, thêm rau cần, xào sơ 2 – 3 phút, thêm nấm hương xào nhanh, rưới vào nước xốt, múc ra đĩa thì hoàn tất.

Chủ trị: chứng béo phì, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, chứng cao mỡ máu.

mon an cho nguoi beo phi

Canh cá chép

Cá chép 2 con, tiêu hột 1 muỗng vừa, gừng tươi, ngò rí, rượu vang, hành, bột nêm, giấm với mỗi thứ vừa đủ.

Cá chép bỏ vảy, mổ bụng bỏ nội tạng, thái lát nhỏ; gừng và hành rửa sạch, thái sợi, sử dụng sau. Tiêu hột, cá chép, hành, gừng cho vào trong nồi, thêm nước vừa đủ, bắc lên bếp hầm với lửa vừa trong nửa giờ, thêm ngò rí, rượu vang, bột nêm, giấm thì hoàn tất.

Chủ trị: chứng béo phì.

Cháo bo bo – bí đao

Bo bo 30g, hạt bí đao 100g, đậu đỏ 20g.

Bo bo, bí đao, đậu đỏ lần lượt vo sạch, trộn lại, cho vào trong nồi thêm nước đun đến khi đậu nhừ, thêm ít lá sen bọc trong túi vải, cho vào đun thêm 5 phút, vớt ra thì hoàn tất.

Chủ trị: chứng béo phì, chứng cao mỡ máu, gan nhiễm mỡ.

Món xào nấm hương – nấm rơm

Nấm rơm 250g, nấm hương 50g, muối 3g, bột nêm và đường trắng một ít, nước bột năng vừa đủ, dầu ăn 30ml.

Nấm hương ngâm nước nửa giờ, vớt ra, ép ra nước, bỏ cuống rửa sạch, sử dụng sau. Đổ dầu vào chảo cho nóng, thêm nấm hương xào 1 phút, thêm nấm rơm, muối, bột nêm, đường trắng, nước dùng, khi hơi sôi, dùng nước bột năng làm xốt thì hoàn tất.

Chủ trị: người béo phì có chứng cao mỡ máu, bệnh tăng huyết áp, xơ cứng động mạch, bị đái tháo đường.

Sen xào giá đậu xanh

Lá sen 200g, hạt sen ngâm nước 50g, giá đậu xanh 150g, củ sen 100g, dầu ăn vừa đủ, muối, bột nêm, nước bột năng với mỗi thứ một ít.

Hạt sen, lá sen thêm nước vừa đủ, ninh canh bằng lửa nhỏ, sử dụng sau. Củ sen thái sợi, dùng dầu xào gần chín, thêm hạt sen nấu chín và giá đậu xanh, rưới lên nước canh vừa nấu, thêm muối và bột nêm vừa đủ, dùng nước bột năng làm xốt, múc ra đĩa thì hoàn tất.

Chủ trị: chứng béo phì, chứng cao mỡ máu, gan nhiễm mỡ.

Cơm nếp ba màu

Đậu đỏ, bo bo với mỗi thứ vừa đủ, nếp, hạt bí đao, dưa leo (dưa chuột) với mỗi thứ vừa đủ.

Đậu đỏ và bo bo dùng nước vo sạch cho vào nồi đun trước 20 phút, sau đó thêm vào nếp và hạt bí đao đã vo sạch thêm nước đun đến chín, múc lên đĩa thêm dưa leo thì hoàn tất.

Chủ trị: chứng béo phì, chứng cao mỡ máu, gan nhiễm mỡ.

Chè bo bo

Bo bo 30g vo sạch, cho vào nồi đất, thêm nước vừa đủ, bắc nồi lên bếp đun sôi bằng lửa to, chuyển lửa nhỏ ninh chín. Nêm đường trắng vừa đủ thì hoàn tất.

Chủ trị: chứng béo phì, chứng cao mỡ máu.

Tần ô xào củ cải

Tần ô 100g và củ cải 200g lần lượt rửa sạch thái cọng, đổ dầu vào chảo cho nóng, thêm vào củ cải xào đến gần chín, thêm tần ô, nêm muối, bột nêm, nước bột năng làm xốt, múc ra đĩa thì hoàn tất.

Chủ trị: chứng béo phì, chứng cao mỡ máu, gan nhiễm mỡ.

Nước táo mèo – lá sen

Táo mèo (sơn tra) 15g, lá sen (khô) 10g.

Táo mèo cùng lá sen cho vào nồi đất, thêm nước sắc 3 lần, gạn lọc lấy nước nấu cô, dùng uống thay trà.

Chủ trị: chứng béo phì, chứng cao mỡ máu, bệnh tăng huyết áp.

Cháo đậu đỏ

Đậu đỏ 50g, gạo 50g, đường trắng vừa đủ.

Đậu đỏ loại bỏ tạp chất, thêm nước đun chín, lại thêm gạo đã vo sạch ninh thành cháo.

Chủ trị: chứng béo phì và thấp nhiệt uẩn kết gây ra đầy bụng, phù thũng, bí tiểu, phù chân, ung nhọt…

Canh cá chép – đậu đỏ

Cá chép 1 con (khoảng 1kg), đậu đỏ 100g, vỏ quít 7,5g, muối 3g, bột nêm và bột tiêu mỗi thứ vừa đủ, hành 10g, gừng 10g, tỏi 10g.

Vỏ quít thái sợi, đậu đỏ vo sạch, cá chép cạo bỏ vẩy, bỏ nội tạng, rửa sạch. Vỏ quít và đậu đỏ nhét vào bụng cá chép, đặt cá trong tô, thêm vật liệu nêm nếm và nước dùng, cho vào lò hấp 1 giờ.

Chủ trị: chứng béo phì, tỳ hư ăn ít, rối loạn tiêu hóa.

Chè lá sen

Lá sen tươi 1 tấm (khoảng 200g), gạo 100g, đường trắng vừa đủ.

Món ăn thường ngày cho chứng béo phì 1
Gạo vo sạch, thêm nước ninh chè. Khi gần chín cho lá sen đã rửa sạch phủ trên mặt, nấu khoảng 15 phút, loại bỏ lá sen, chè có màu xanh nhạt, lại nấu giây lát thì hoàn tất. Khi dùng nêm đường trắng, dùng ăn tùy lúc.

Chủ trị: chứng béo phì, chứng cao mỡ máu.

Củ sen hầm đậu xanh

Củ sen 100g, đậu xanh 150g, nước dùng 1,5 lít, muối 2g, bột tiêu 2g, bột nêm 2g, gừng tươi 3 lát.

Đậu xanh vo sạch, ngâm nước 2 giờ, để ráo sử dụng sau. Củ sen gọt vỏ, bỏ mấu, rửa sạch, thái cọng. Gừng tươi rửa sạch. Bắc nồi lên bếp, thêm nước vừa đủ, sau khi đun sôi thêm củ sen, nấu 5 phút vớt ra, dội sạch bằng nước lạnh 2 lần, lại dùng nồi đất đổ vào nước dùng, đun sôi thêm vào củ sen, đậu xanh, gừng tươi hầm chung, cho đến khi đậu nhừ, thêm bột tiêu, muối, bột nêm thì hoàn tất.

Chủ trị: chứng béo phì, trúng nắng, ngộ độc thức ăn.

Cháo bí đao

Bí đao tươi cả vỏ 100g (hoặc hạt bí đao khô 15g, tươi 30g), gạo 100g.

Bí đao dùng dao cạo sơ, thái lát nhỏ, cùng gạo cho vào nồi đất, nấu chung thành cháo thì hoàn tất. Hoặc dùng hạt bí đao nấu nước bỏ bã, rồi thêm vào gạo ninh thành cháo, mỗi sáng và chiều dùng 1 lần (khi ăn không nêm muối).

Chủ trị: chứng béo phì, gan nhiễm mỡ.

LY.DS. BÀNG CẨM

SK & ĐS



Những thực phẩm không nên ăn khi mang thai
Tháng 11 23, 2012

Khi mang thai, bạn được khuyên nên ăn đa dạng các loại thực phẩm để bổ sung đầy đủ dưỡng chất cho thai nhi, nhưng một số thực phẩm sau có thể gây hại cho bạn và em bé, hãy cẩn trọng bạn nhé!

Thức ăn động vật sống hoặc chưa nấu chín

Những thức ăn động vật được nấu chưa chín như thịt, hàu sống, trai, sushi chưa được tiệt trùng, thậm chí là trứng, nguyên liệu bánh hoặc bột bánh thô … có thể chứa một loạt các vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng có hại cho sức khỏe của 2 mẹ con bạn.

Vì thế, để giảm nguy cơ bệnh tật do thực phẩm, hãy chắc chắn thịt gia cầm, thịt cá, trứng phải được nấu chín kỹ càng, không nên ăn bột thô.

Xúc xích, thịt nguội, sữa không tiệt trùng

Thực tế, những thực phẩm này dễ bị vi khuẩn Listeria monocytogenes – một vi khuẩn gây bệnh nhiễm listeriosis có thể dẫn đến sẩy thai, thai chết lưu hoặc các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác.

Bên cạnh đó xúc xích và thịt nguội bao gồm gà tây, lụa, xúc xích, hải sản đông lạnh hun khói (như cá hồi, cá thịt trắng, cá tuyết, cá ngừ, cá thu) phải đảm bảo an toàn khi nó được nấu chín.

Ngoài ra, các bà bầu cũng tránh sữa và các sản phẩm làm từ sữa chưa được tiệt trùng nhé vì nó cũng dễ bị nhiễm khuẩn Listeria ký sinh trong đó,có thể gây hại cho cơ thể.

Một số hải sản và cá

Những loại cá lớn chẳng hạn như cá kiếm, cá mập, cá lát, cá thu luôn được cho là những loại cá có nồng độ thủy ngân cao hơn so với các loài cá khác.

Thủy ngân tuy là một sản phẩm phụ nhưng lại can thiệp vào sự phát triển bình thường của trí não và hệ thần kinh của một đứa trẻ.

Theo FDA (Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ), phụ nữ mang thai và cho con bú chỉ nên ăn lượng hải sản có chứa hàm lượng thủy ngân thấp như cá hồi, tôm, cá ngừ đóng hộp, cá minh thái, cá mòi, cá rô phi và cá da trơn.

Những thực phẩm có thể gây dị ứng

Nếu bạn, con trước đó của bạn hoặc các em bé khác đã bị dị ứng, thì em bé trong bụng bạn sẽ có nhiều khả năng bị dị ứng thực phẩm.

Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ cho biết bạn nên tránh sử dụng các thực phẩm nhất định trong khi mang bầu. Chẳng hạn như tránh sử dụng đậu phộng và các sản phẩm đậu phộng vì có thể làm gia tăng dị ứng cho trẻ.

Đặc biệt, nếu bạn có một lịch sử gia đình bị dị ứng và hen suyễn hãy nói chuyện với bác sĩ về những thực phẩm gây dị ứng để đảm bảo an toàn nhất cho 2 mẹ con nhé.

Thịt cua

Cua được coi là một thực phẩm tốt cho con người bởi nó tiếp thêm sinh lực cho tuần hoàn máu và loại bỏ cá chất ứ đọng trong cơ thể. Tuy nhiên, sự “tiếp thêm sinh lực” làm lưu thông máu này có thể đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe của thai nhi. Phụ nữ mang thai nên tránh cua ăn để tránh được nguy cơ sẩy thai.

Gan động vật

Gan động vật cũng có thể gây nguy hại cho bạn vì đây là nơi tập trung nhiều độc tố nếu động vật bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, trong gan cũng có chứa nhiều cholesterone và vitamin A. Nếu bạn ăn quá nhiều gan, kết hợp dùng thêm các loại thuốc hay thực phẩm dinh dưỡng khác có thể gây ra hiện tượng thừa vitamin, ảnh hưởng xấu đến bé yêu.

Trong gan cũng có chứa nhiều cholesterone và vitamin A không tốt cho bà bầu

Trà đặc

Trà đặc tuyệt đối bị cấm với những phụ nữ mang thai. Chất fluoride có trong trà là rất cao. Một tách trà đặc có chứa 1,25 mg florua. Nếu phụ nữ uống trà đặc trong thời kỳ mang thai, họ có thể dễ dàngbị thiếu máu, thiếu sắt và quy trình cung cấp dinh dưỡng cho bào thai có thể bị cản trở. Đồng thời, caffeine có trong trà có thể làm tăng nhịp tim của phụ nữ mang thai và làm trầm trọng thêm những gánh nặng cho tim và thận, ảnh hưởng đến sức khỏe của cả người mẹ và bào thai.

Rau sam

Đây là loại rau dễ trồng dễ chăm, nó vừa là thảo dược vừa là thực phẩm chế biến món ăn, mang tính dược hàn. Thực tế chứng minh khi dùng rau sam thì nó kích thích tử cung khá mạnh, có thể làm tăng số lần và cường độ thu co của tử cung và hậu quả là gây ra sẩy thai.

Baba

Cũng như các thực phẩm trên, ba ba tuy có tác dụng lợi dương bổ thận nhưng baba có vị tanh, tính hàn và có tác dụng tán u, thông huyết mạch, rất nguy hại trong việc sẩy thai. Hơn thế nữa, “sức đẩy thai” của chân ba ba mạnh hơn nhiều so với thịt ba ba.

Theo BS Phạm Thành, Bệnh viện Thiên Đức thì thực phẩm có ảnh hưởng trực tiếp tới nguy cơ sảy thai của bà bầu: “Nếu ăn uống không cẩn thận khi mang thai sẽ khiến phụ nữ bị nhiễm vi khuẩn có trong thực phẩm, dẫn đến sẩy thai hoặc thai bị chết lưu. Chưa có một bằng chứng khoa học nào chứng tỏ rượu an toàn với phụ nữ mang thai, đặc biệt là ở phụ nữ mang thai 3 tháng đầu vì khi đó tất cả các cấu tạo bộ phận quan trọng của thai nhi đang hình thành. Phụ nữ cũng nên chú ý không dùng thực phẩm chưa nấu chín, không đảm bảo vệ sinh. Tránh đồ uống có cồn, nước chè đặc, cà phê, đu đủ xanh. Đu đủ xanh cũng đã được dân gian tin rằng có khả năng gây sẩy thai, vì thế phụ nữ mang thai cần chú ý tránh những thực phẩm này để an toàn cho cả hai mẹ con”.

Trái cây phi hữu cơ

Những tranh cãi về sự nguy hiểm của dư lượng thuốc trừ sâu trên rau quả với phụ nữ mang thai cho đến nay vẫn chưa ngã ngũ. Tuy nhiên, nếu bạn đang lo lắng về vấn đề này thì nên chọn những loại trái cây hữu cơ thông thường để sử dụng. Theo nhóm công tác môi trường, những loại trái cây chứa nhiều dư lượng thuốc trừ sâu nhất là đào, dâu tây, táo, quất, anh đào, nho và lê.

Khổ qua (mướp đắng)

Mặc dù chưa có nghiên cứu nào khẳng định tác hại của khổ qua, song một thí nghiệm cho thấy ăn nhiều khổ qua có thể gây quái thai ở loài chuột. Ngoài ra chất vicine trong hạt khổ qua có thể gây ngộ độc. Vị đắng trong loại quả này cũng khiến dạ dày và tử cung co bóp nhiều hơn, làm tăng nguy cơ sảy thai và đẻ non. Vì thế thai phụ được khuyên không nên ăn khổ qua, ngay cả sau khi sinh con, vì một số chất không tốt có thể ngấm vào sữa mẹ.

Cà phê

Cà phê rất giàu caffeine. Cung cấp quá nhiều caffeine cho cơ thể có thể dẫn đến kích thích hệ thần kinh trung ương. Theo nghiên cứu, mỗi 300 gram cà phê có chứa từ 50 đến 80 mg caffeine.

Nếu phụ nữ trong giai đoạn mang thai, thai phụ thu nạp một lượng lớn cafein (nhiều hơn 4 cốc mỗi ngày) cũng sẽ làm tăng nguy cơ bị sảy thai. Các bào thai rất nhạy cảm với caffeine. Caffeine có thể đi vào nhau thai và ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi. Để bảo vệ bào thai, phụ nữ mang thai nên tránh uống cà phê.

Rượu

Không phải nói thì ai cũng biết rằng rượu có thể có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển thông minh của thai nhi. Theo nghiên cứu, uống rượu là một nguyên nhân quan trọng gây dị tật thai nhi và sự chậm thông minh ở trẻ. Điều này là bởi vì rượu có thể dễ dàng đi qua nhau thai để thấm vào cơ thể của thai nhi. Kết quả là, mật độ của rượu trong cơ thể của phụ nữ mang thai là gần như giống với trong các cơ quan của thai nhi. Uống nhiều rượu có thể làm tổn thương tim và não của bào thai. Các minh chứng khoa học đã chỉ ra rằng việc sử dụng các loại đồ uống có cồn 2 lần/tuần sẽ làm tăng nguy cơ sảy thai gấp 3 lần so với bình thường. Vì vậy, phụ nữ nên ngừng uống rượu trong thời kỳ mang thai.

Trà thảo dược

Một số loại trà thảo mộc nếu uống nhiều có thể kích thích tử cung và vô tình gây ra sảy thai hoặc các cơn co dạ con. Tốt nhất chị em nên chú ý và hạn chế uống các loại trà từ các loại thảo dược sau: hoa cúc, cây ma hoàng, rễ cây cam thảo, lá mâm xôi, hoa hồi, cây ngải đắng, cây dâm bụt, cây sả, cây thìa là…

Lưu ý rằng, trà từ lá cây mâm xôi được cho là có tác dụng giúp kích thích tử cung để chuẩn bị cho cơn co dạ con và sinh nở. Mặc dù chưa được khoa học chứng minh, nhưng trà lá mâm xôi có thể uống được ở thời gian gần cuối của thai kỳ (sau tuần thai thứ 38). Điều đáng lưu ý là hầu hết các loại thảo mộc ở trên vẫn có thể ăn kèm trong các thức ăn. Chỉ khi được pha thành trà thì các loại thảo mộc này mới cô đặc và nguy hiểm với bà bầu.

Minh Thúy

Theo Mẹ & bé



5 nhóm dưỡng chất phụ nữ lớn tuổi cần bổ sung
Tháng 11 19, 2012

Phụ nữ khi đã có tuổi, lượng nội tiết tố estrogen giảm nhanh, đặc biệt khi bước vào giai đoạn mãn kinh. Khi đó, tỷ lệ mắc bệnh tim mạch càng cao, là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong.

Vì thế, để phòng bệnh tim mạch, loãng xương, ung thư vú, cao huyết áp… chị em cần có chế độ bổ sung phù hợp. Dưới đây HealthNewsDaily đưa ra 5 nhóm dưỡng chất cần thiết:

1. Vitamin D

Những phụ nữ có lượng vitamin D không đủ có thể khiến xương bị giòn, thậm chí tệ hơn là loãng xương. Một nghiên cứu mới đây đăng trên tạp chí y học New England đã chỉ ra rằng phụ nữ dùng liều cao vitamin D hằng ngày có thể giúp giảm 30% nguy cơ bị gãy xương hông khi có tuổi.

Có 3 nguồn cung cấp vitamin D là: da, chế độ ăn và thuốc bổ. Thật không may, khi da có tuổi thì nó cũng ít có khả năng sản sinh vitamin D. Vì thế, chị em nên bổ sung lượng vitamin D thiếu hụt này bằng cách uống sữa ít béo hằng ngày, khoảng 3 cốc sữa gày. Ngoài ra, bạn có thể bổ sung bằng sữa chua ít chất béo hoặc pho mát làm từ sữa đã gạn kem, nước cam…

Vitamin D giúp cơ thể hấp thụ canxi, giúp xương khoẻ mạnh.


Ảnh minh hoạ:Healthnewsdaily.

2. Canxi

Canxi giúp cơ thể sản xuất các tế bào xương mới. Khi chị em đã bước vào giai đoạn mãn kinh thì khả năng sản sinh các tế bào xương mới cũng giảm đi. Việc uống sữa không cung cấp đủ lượng canxi để tạo nên sự khác biệt.

Vì thế, theo các chuyên gia ngoài uống sữa chị em cũng cần có một chế độ ăn hằng ngày giàu canxi. Phụ nữ lớn tuổi nên uống liều bổ sung 600mg canxi 2 lần mỗi ngày.

Hai dạng chính của canxi trong sản phẩm bổ sung là canxi carbonate và canxi citrate. Canxi carbonate không đắt nhưng để hấp thụ tốt hơn thì nên dùng kèm với thực phẩm, trong khi canxi citrate thì lại bổ sung khi bụng đói.

Ngoài các sản phẩm sữa, canxi cũng có trong đậu phụ, ngũ cốc, đậu nành và các đồ uống từ gạo, rau như cải xanh, cải xoăn và cải bắp. Một số loại cá xương mềm như: cá mòi và cá hồi cũng có canxi.

3. Axít béo omega-3

Theo một nghiên cứu đăng tên tạp chí y học của Mỹ thì ăn nhiều cá có lượng axít béo omega-3 giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở nữ giới. Omega-3 là một dạng chất béo không bão hòa đa. Theo Hội Tim mạch Mỹ thì chất béo này giúp giảm sự hình thành các mảng bám trong động mạch vành và giảm huyết áp. Nó có tác dụng làm tăng cholesterol tốt và giảm cholesterol xấu.

Việc bổ sung dầu cá với mức 1-4 g mỗi ngày giúp giảm chỉ số triglyceride (một thành phần trong mỡ máu) từ 20 đến 50%. Vì thế, các chuyên gia khuyến cáo, phụ nữ nên ăn những cá giàu chất béo này như cá rô phi, cá hồi hay cá tuyết ít nhất 2 lần một tuần.

Dầu ô liu chứa các axít béo bão hoà đơn, cũng rất tốt cho sức khoẻ.

4. Vitamin B12

Sau thời kỳ mãn kinh, chị em thường thiếu nhiều dưỡng chất quan trọng, trong đó có vitamin B12, dẫn đến nguy cơ bị thiếu máu. Nghiên cứu chỉ ra rằng những phụ nữ bị thiếu máu thường tiêu thụ ít protein, axít folic hay vitamin B9, sắt, vitamin C và vitamin B12.

Việc thiếu hụt vitamin B12 có thể dẫn đến mệt mỏi, giảm cân, trí nhớ kém, lú lẫn và trầm cảm. Vì thế, nó thường được chỉ định để điều trị chứng mất trí nhớ, tăng cường sự tập trung. Cụ thể, liều dùng vitamin B12 hằng ngày với người trưởng thành là 1,4mcg. Nguồn cung cấp vitamin này có thể có trong thịt, cá, gia cầm, trứng, sữa… Với những chị em ăn kiêng thì việc uống bổ sung vitamin B12 rất cần thiết.

5. Axít folic hay vitamin B9

Axít folic là dưỡng chất rất cần thiết với chị em không chỉ khi có bầu mà cả khi về già. Dấu hiệu cho thấy bạn đang thiếu hụt dưỡng chất này là thiếu máu, giảm cân, mệt mỏi, đau đầu.

Theo một nghiên cứu đăng trên tạp chí Y học Mỹ thì những phụ nữ tiêu thụ nhiều axít folic sẽ giúp giảm nguy cơ bị cao huyết áp. 94.000 phụ nữ từ 27 đến 44 tuổi và khoảng 62.000 người từ 43 đến 70, không có tiền sử cao huyết áp đã tham gia nghiên cứu.

Các chuyên gia đã so sánh giữa những chị em dùng ít nhất 1.000mcg axít folic mỗi ngày với những người chỉ tiêu thụ chưa đến 200mcg. Kết quả cho thấy, những người bổ sung trên 1.000 mcg/ngày thì tỷ lệ mắc bệnh cao huyết áp rất thấp, chỉ 6/1000 người.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chị em nên bổ sung 1.000 mcg axít folic mỗi ngày mà chỉ cần khoảng 400mcg. Các loại rau lá xanh, cam, chanh, bí, các loại hạt và dầu ôliu rất giàu dưỡng chất này.

Phương Trang

Theo: vnexpress



Ăn uống trước thụ thai
Tháng 11 9, 2012

Hẳn bạn đã nghe tới câu ‘Ăn uống ra sao thì sức khỏe vậy’. Nếu bạn đang muốn thụ thai thì bạn càng cần phải chú ý tới dinh dưỡng. Hãy duy trì chế độ ăn uống tốt nhất ngay từ trước khi mang thai.

Sau đây là một số lời khuyên dinh dưỡng cho bạn:

Axit folic

Kelly Shanahan (một bác sĩ sản khoa) khuyên, phụ nữ nên bắt đầu thực hiện một chế độ ăn uống lành mạnh, chứa nhiều vitamin và các chất dinh dưỡng thiết yếu, chẳng hạn axit folic. Axit folic trong dinh dưỡng thời kỳ này là chủ đề quan trọng nhất.

Axit folic (còn gọi là folate) cần cho sự tăng trưởng tế bào, phát triển phôi thai. Chuyên gia dinh dưỡng Martha Belury cho biết: “Nên bổ sung axit folic dạng vitamin ít nhất một tháng trước khi thụ thai và trong suốt 3 tháng đầu mang thai. Nó được chứng minh là giảm nguy cơ khiếm khuyết ống thần kinh lên tới 50-70%”.

Nếu bạn đang cố gắng thụ thai, bác sĩ khuyến cáo bạn có thể bổ sung vitamin tổng hợp có chứa 400mcg axit folic mỗi ngày. Đồng thời, ăn uống những món giàu axit folic, bao gồm các loại rau lá xanh, quả bơ, lạc, ngũ cốc, nước cam, bánh mì…

Xây dựng thói quen ăn uống lành mạnh

Bạn nên chọn đồ ăn có chất dinh dưỡng. Cả đồ uống cũng vậy. Đó phải là những thứ có chứa lượng lớn vitamin, chất khoáng, protein…

Để bắt đầu, nên:

- Tìm những thức ăn nhiều vitamin, protein, chất khoáng và chất xơ.

- Cắt giảm chất béo, đường, chất bảo quản và phụ gia.

- Mua sản phẩm hữu cơ, không có thuốc bảo vệ thực vật.

- Tìm sản phẩm không chứa hormone tăng trưởng.

Những thứ nên tránh

Bên cạnh những món bạn cần ăn, có những thứ nên tránh:

- Cá sống hoặc chưa nấu chín (gồm cả sushi, sò ốc, trứng thịt).

- Cá thu, cá kiếm, cá mập, cá kình nên tiêu thụ ở mức vừa phải.

- Tránh sữa chưa tiệt trùng và sản phẩm làm từ nó.

- Tránh pho mát mềm như Brie, feta, Camembert, Roquefort và pho mát Mexico chẳng hạn như Quesa Blanca.

- Tránh trứng sống, gồm cả bánh quy hay sốt tự chế.

Chọn đồ uống tốt cho sức khỏe

Cơ thể con người chủ yếu là nước. Do đó, hãy xem xét chế độ nước uống cho bạn mỗi ngày ngay từ khi sắp thụ thai. Uống đủ nước, có nghĩa là khoảng 8 cốc mỗi ngày có tác dụng thải độc.

Các loại nước ép từ củ quả, rau xanh cung cấp lượng phong phú vitamin, chất khoáng với lượng kalo tối thiểu.

Nước ngọt không phải thứ nhiều dinh dưỡng nên cần hạn chế. Nó có thể chứa chất làm ngọt nhân tạo là saccharin – chất đi qua nhau thai, tồn tại trong tế bào thai nhi.

Caffein

Là thành phần có trong nước ngọt, trà, cafe, thậm chí là chocolate. Caffein là một chất kích thích và lợi tiểu, nên làm giảm mức độ chất lỏng trong cơ thể bạn tại một thời điểm, có thể gây mất nước.

Một số nghiên cứu khẳng định, tiêu thụ quá nhiều caffein có thể gây khó thụ thai. Trong thời gian mang thai, các nghiên cứu cho thấy rằng, caffein có thể gây sảy thai, làm chậm sự phát triển của thai nếu dùng hơn 200mg (khoảng 2-3 tách café) mỗi ngày.

Rượu

Rượu là đồ uống cần tránh hoàn toàn khi muốn thụ thai và trong quá trình mang thai. Dị tật bẩm sinh liên quan đến rượu có thể xảy ra trong 3-8 tuần đầu mang thai – thời điểm trước khi bạn biết mình có thai.

Ngọc Huê

Theo Mẹ & bé



Món ăn bài thuốc phòng trị chóng mặt
Tháng 10 22, 2012

Chóng mặt là chứng bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Trong y học cổ truyền, chóng mặt thuộc phạm vi chứng huyễn vựng. Hải Thượng lãn Ông cho rằng  “huyễn vựng xét chỉ bởi hỏa, là vì âm huyết hậu thiên hư yếu thì hỏa động lên, chân thủy tiên thiên hư yếu thì hỏa bốc lên, bệnh nhẹ nên bổ huyết thêm vị mát, bệnh nặng nên

Sau đây là một số món ăn bài thuốc sử dụng phòng trị chóng mặt rất hiệu quả:

Nếu chóng mặt trong người nóng, hình thể gầy gò, miệng khô khát do âm huyết hư: phép trị: bổ âm, thanh nhiệt, giáng hỏa, tốt nhất nên ăn món ăn bài thuốc có tác dụng bổ âm huyết, thanh hỏa sinh tân dịch.

Cháo lươn: lươn làm sạch 1 – 2 con, 100g, đậu xanh 100g, gạo mới 100g nấu cháo tuần vài lần.

Bí đỏ hầm đậu: bí đỏ chín 100g, đậu phụng 50g hầm ăn.

Cháo tiết heo: tiết heo 50g, gạo mới, đậu xanh gia vị vừa đủ nấu cháo.

Cải xoong xào thịt bò: cải xoong 200g, thịt bò 50g xào ăn.

Cải xoong xào thịt bò

Giá đậu xào: giá đậu xanh 200g, gan heo non 50 xào ăn.

Cá rô kho: cá rô, củ cải, gia vị vừa đủ kho nhừ ngày ăn 1 – 2 con.

Bài Tứ vật gia vị: gồm thục địa, đương quy, bạch thược, xuyên khung, câu kỷ tử, ngưu tất, mạch môn đều 12g, thịt vịt 100g, gia vị vừa đủ tiềm ăn.  Ngoài ra, nên tăng cường ăn các món khác chế biết chủ yếu có vị mè đen, đậu đen, đậu xanh, đậu nành… trái cây như na, măng cụt, bơ, dâu đều tốt.

Nếu hình thể người mập trệ, nằm ngồi đều chóng do đàm trệ, huyết ứ: phép trị bổ huyết, tiêu đàm, thông ứ. Nên ăn món ăn bài thuốc có tác dụng bổ thông huyết.

Giá đậu xào hẹ: giá đậu xanh 200g, bông hẹ 50g, lòng mề gà 50g, gia vị vừa đủ xào ăn.

Bí đỏ hầm đậu: bí đỏ 200g, đậu phụng 50g, hầm ăn.

Bông bí xào tỏi: bông hoặc ngọn bí 200g, tỏi củ 10g xào ăn.

Canh củ cải: củ cải 100g, cà rốt 50g, nấm hương 30g, nấm nèo 20g, chân gà 50g, thêm hành củ gia vị hầm ăn.

Chè nấm mèo: nấm mèo, 30g, đậu xanh 30g, đường gia vị vừa đủ nấu ăn.

Canh rau đay: rau đay 100g, mướp hương 50g, thịt cua đồng 50g, gia vị vừa đủ nấu canh ăn.

Ngoài ra, nên ăn các món khác chủ yếu chế biến có vị hành tây, hành ta, hẹ, kiệu, tỏi, rau đắng, lá lốt, cải cay, đu đủ, quít, bưởi, giá đậu, rau ngót, cải xoong, rau thơm như tía tô, kinh giới, rau mùi, thì là đều tốt.

Nếu ăn ngủ kém, da xanh,  khi ngồi xuống đứng dậy chóng mặt tăng, do âm huyết hậu thiên hư, “tâm tỳ hư”: phép trị: bổ huyết, kiện tỳ, an thần. Nên ăn món ăn bài thuốc tác dụng bổ huyết dưỡng tâm tỳ như:

Hoa lý xào: hoa lý 50g, thịt bò non 50g, gia vị vừa đủ xào ăn.

Giá đậu xào: giá đậu xanh 100g, lòng gan gà 50g, thêm hành gia vị xào ăn.

Bao tử hầm: bao tử heo rửa sạch 100g, hạt sen 50g, nấm mèo 20g, gia vị vừa đủ tiền ăn.

Bài Quy tỳ gia vị tiềm gà ác: nhân sâm, bạch truật, phục thần, đương quy, hoàng kỳ, táo nhân, viễn chí, long nhãn mỗi vị 12g, mộc hương 6g, cam thảo 4g, đại táo 3 quả, gà ác 1 con làm sạch tiềm ăn.

Ngoài ra nên ăn trái cây như: nhãn, dâu, na, trái bơ, vú sữa, măng cụt và các món chế biến từ sữa, mật ong, phấn hoa đều tốt.

Trên đây là một số món ăn bài thuốc thông dụng hàng ngày sử dụng phòng trị chóng mặt. Tuy nhiên, nếu người nóng âm huyết hư nên hạn chế ăn mặn, khô, cay, nóng quá. Nếu người mập đàm trệ huyết ứ cữ thức ăn bổ béo nhiều dầu mỡ khó tiêu… Nếu do huyết hư, ăn ngủ kém, cữ các vị kích thích như: cà phê, trà đặc, thuốc lá…

Lương y MINH PHÚC

SK & DS



Ăn đu đủ liệu có gây sảy thai?
Tháng 10 18, 2012

Việc ăn gì trong quá trình bầu bí luôn luôn là một vấn đề quan trọng và cũng gây nhiều tranh cãi. Nhiều mâu thuẫn nảy sinh giữa những người thân xoay quanh chủ đề này.

Mâu thuẫn với mẹ chồng vì thèm ăn đu đủ

Lấy nhau được 3 năm, mong chờ mãi cuối cùng vợ chồng Dung (Hoàng Mai – Hà Nội) mới được đến ngày nhìn que thử thai lên 2 vạch. Khỏi phải nói vợ chồng Dung vui đến mức nào. Biết tin con dâu có bầu, mẹ chồng Dung đã lên cả một thực đơn những đồ ăn thức uống nào cần tẩm bổ, những gì tuyệt đối không nên đụng đũa.

Nhìn thực đơn của mẹ chồng, Dung vô cùng ngán ngẩm vì những món được ăn thì toàn thứ quá bổ béo và ngán, còn danh sách những thứ không được ăn thì lại có cả đu đủ – món mà từ ngày có bầu Dung thèm như lên cơn nghiện. Vậy mà mẹ chồng Dung cứ nhất quyết không cho con dâu ăn vì sợ sảy thai.

Chỉ vì việc được hay không được ăn đu đủ mà mẹ chồng nàng dâu đang hòa thuận bỗng nảy sinh mâu thuẫn.
 
Vậy ăn đu đủ có thực sự gây sảy thai?

Các nhà nghiên cứu đã từng tiến hành thử nghiệm trên chuột ở Ấn Độ, cho chuột đang mang thai ăn nhiều loại hoa quả khác nhau thì kết quả cho thấy đu đủ xanh có gây sảy thai.

Và khi thử nghiệm chất chiết xuất từ nhựa đu đủ (papain, PLE) trên tử cung chuột ở các chu kỳ động dục và thai nghén khác nhau, kết quả cho thấy tác động của PLE gây co thắt tử cung xảy ra mạnh nhất là ở các giai đoạn sau của thai kỳ.

Đu đủ xanh (hoặc còn ương) thì sẽ có chất nhựa (mủ) không tốt cho phụ nữ mang thai. Ngoài ra, chất papain còn hoạt động giống như hormone prostaglandin và oxytocin gây ra co thắt tử cung. Nó cũng có thể gây ra phù và xuất huyết nhau thai – những biến chứng nguy hiểm trong thai kỳ, có thể dẫn tới sinh non.

Đó là những kết quả có được khi thử nghiệm trên chuột. Còn trên người chưa có bằng chứng về nguy cơ sảy thai do ăn đu đủ xanh. Vì lý do y đức nên không thể thử nghiệm tương tự như trên chuột. Nhưng “có kiêng có lành”, các mẹ bầu được chuẩn đoán dễ sảy thai (hoặc đang ở giai đoạn cuối của thai kỳ) không nên ăn thường xuyên đu đủ xanh hay các món nộm (gỏi) có nguyên liệu là đu đủ xanh.

Tuy nhiên một khi đu đủ chín hoàn toàn thì sẽ không còn chất mủ này. Không những thế đu đủ chín còn có rất nhiều lợi ích.

… nên ăn đu đủ đã chín hoàn toàn.

Vì sao bà bầu nên ăn đu đủ chín?

Với những lợi ích dưới đây, các mẹ bầu hoàn toàn nên thêm đu đủ chín vào thực đơn của mình.

- Đu đủ còn là nguồn giàu vitamin B phức tạp, cần cho sự chuyển hóa các chất của cơ thể người mẹ. Kali có trong đu đủ giữ ổn định nhịp tim và huyết áp trong thời kỳ mang thai. Ngoài ra, đu đủ còn chứa chất chống sâu răng, viêm lợi cho thai kỳ.

- Nếu mẹ bầu nào không muốn bị tăng cân quá nhanh trong thai kì thì đu đủ chín là một lựa chọn sáng suốt vì đu đủ chín còn khá ít calo.

- Đu đủ tươi, chín có chứa nhiều vitamin C, chống lại tình trạng viêm và đau khớp. Nó còn có tác dụng thúc đẩy hệ miễn dịch.

- Loại quả này cũng chứa lượng cholesterol thấp nên an toàn cho bà bầu khi ăn mà không làm thay đổi nồng độ lipid trong cơ thể.

- Phần thịt của đu đủ chín là nguồn cung cấp chất xơ dồi dào, giúp phòng tránh và giảm táo bón trong suốt thai kỳ. Bởi vậy mẹ bầu có thể ăn đu đủ chín 2 – 3 bữa mỗi tuần để không bị táo bón.

Theo Mang thai



Protein trong sữa giúp chống lại ung thư đại tràng
Tháng 10 11, 2012

 Một loại protein trong sữa làm giảm đáng kể sự phát triển các tế bào ung thư đại tràng theo thời gian bằng cách kéo dài chu kỳ tế bào trước khi các nhiễm sắc thể được nhân lên.

Tác giả nghiên cứu chính, giáo sư Stina Oredsson ở ĐH Lund, Thụy Điển cho biết điều trị bằng Lfcin4-14 làm giảm tổn thương ADN trong các tế bào ung thư đại tràng bị phơi nhiễm với tia cực tím.

GS Oredsson cho biết: “Trước đây chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng kéo dài chu kỳ tế bào ở các tế bào ung thư đại tràng là kết quả của điều trị bằng Lfcin4-14 và có thể mang đến cho các tế bào thêm thời gian hồi phục ADN. Thực tế, tổn thương gây ra do tia cực tím đã giảm ở các tế bào ung thư đại tràng được điều trị  bằng Lfcin4-14 so với nhóm chứng. Sự khác nhau này là nhỏ song cũng khá rõ rệt”.


Để hiểu rõ cơ chế mà Lfcin4-14 làm giảm tổn thương ADN, các nhà nghiên cứu đánh giá nồng độ của một số protein có liên quan trong quá trình tiến triển chu kỳ tế bào, tổn thương ADN và tế bào chết.

Kết quả cho thấy tăng flap endonuclease-1, một protein liên quan với tổng hợp ADN; giảm tế bào b lympho- 2 liên quan đến protein X vốn liên quan với tế bào chết và giảm nồng độ H2AX biểu hiện tổn thương ADN hiệu quả hơn.

Tác giả nghiên cứu kết luận: “Những thay đổi này ủng hộ giả thuyết của chúng tôi rằng điều trị bằng Lfcin4-14 dẫn đến tăng phục hồi ADN và các tác dụng của Lfcin4-14 trong kéo dài chu kỳ tế bào có thể góp phần trong phòng ngừa ung thư đại tràng.”

Nghiên cứu này được công bố trên tờ Dairy Science.

Ngọc Diệp
ANTĐ (Theo UPI)



Giữ cân cho bé
Tháng 10 9, 2012

PNCN – Theo BS Đỗ Thị Ngọc Diệp, Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM: “30% học sinh tiểu học bị thừa cân béo phì, trong số này bé trai nhiều hơn bé gái.”
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học. Nhiều phụ huynh than bé ăn ít, nhưng không hiểu vì sao bé ục ịch. Thực tế, đến bữa tối bé không ăn nhiều, nhưng từ lúc tan học đến giờ ăn bé đã kịp “măm” hai bữa phụ. Có phụ huynh còn bỏ vào cặp con bốn hộp sữa để phòng ở trường… thiếu chất. Những bữa phụ của gia đình xem ra không nhiều, nhưng đã hình thành thói quen ăn uống, khi thiếu, trẻ sẽ… nhớ và tự tìm đồ ăn thức uống có sẵn tại căng tin (nếu ở trường) và trong tủ lạnh (nếu ở nhà). Bị thừa cân, béo phì khi còn quá nhỏ sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sống sau này vì các loại bệnh như: tiểu đường, cao huyết áp, rối loạn mỡ máu… Điều đáng ngại hơn cả là béo phì làm tăng nguy cơ vô sinh, ảnh hưởng đến chất lượng dân số. Chương trình Dinh dưỡng học đường đã và đang là một giải pháp can thiệp cho vấn đề này ở trẻ. Cụ thể, các bữa ăn cho bé phải nấu bằng muối iốt để các bé không bị thiếu iốt (cơ thể không dự trữ iốt, ăn ngày nào xào ngày ấy), tăng vận động (ở những cơ sở chật hẹp thì thực hiện thể dục giữa giờ, nhảy tại chỗ…).

 

Phần giữ cân còn lại là việc của… gia đình. Trước hết, cần nhận định xem con mình có trong đối tượng cần “thay mỡ bằng thịt” hay không, qua các điểm sau: quần áo lớn hơn từ một-hai cỡ so với các bạn cùng tuổi, hay kêu đói, xem ti vi, vi tính hơn hai giờ/ngày. Những bé bắt đầu thừa cân rất dễ nhận biết, đó là sự lười di chuyển, nếu sai bảo bé lấy đồ vật gì, bé sẽ tìm cách thoái thác. BS Ngọc Diệp hướng dẫn: “Vòng bụng các bé ở bất kỳ tuổi nào mà trên 80cm là đã bị béo phì”.

Hiện, không ít phụ huynh thấy con bị béo phì đã áp dụng kỷ luật sắt bằng cách cho con ăn rất ít, hoặc ép bé ăn các loại bột quảng cáo giảm cân. Điều này dẫn đến tình trạng bé ăn nhiều hơn khi có… cơ hội. Vì vậy, điều cần làm là thay đổi thói quen ăn uống của các bé. Chỉ cho uống nước đun sôi để nguội, không uống các loại nước có đường. Uống sữa hai lần mỗi ngày. Tăng cường ăn rau và các loại trái cây. Các bé tuổi này thường thích ăn trứng và thịt, không thích ăn cá. Vì thế, nên tập cho các bé ăn cá. Lập hẳn “chiến dịch” nấu các món ngon từ cá như: chả cá thát lát xốt cà chua, cá thu rim, chả cá chiên, canh cải cá rô, riêu cá chép… Nếu các bé chưa quen ăn cá, có thể khởi đầu bằng các loại cá hộp xương đã mềm, vị cũng dễ ngon miệng nhưng cần nấu thêm cà chua và các loại đậu để tăng cường chất xơ, thêm sinh tố và khoáng chất cho bé. Trong bữa ăn cần có thêm các món ngon miệng, màu sắc tươi tắn như: xà lách trộn dầu giấm, xà lách trái cây. Tập cho bé quên các loại bánh ngọt, bánh kem, kem… và thay thế bằng: trái cây xắt nhỏ, sữa chua trộn trái cây (trái cây thay đổi mỗi ngày), rau câu trái cây…

Song song với việc thay đổi các món ăn, cần “chỉ điểm” cho bé biết giá trị của các món: ví dụ ăn đùi gà giúp cơ bắp rắn chắc, ăn rau giúp không bị táo bón, ăn đồ chiên lâu tiêu, mau mệt mà còn bị béo phì… Bé sẽ cảm nhận và tự quyết định. Tăng cường vận động của bé bằng cách cho đi mua và lựa chọn thức ăn, tham gia nấu ăn, chạy đi lấy vật dụng làm bếp cho mẹ thay vì ngồi tại chỗ xem ti vi, chơi game…

Tủ lạnh trong gia đình là nơi tồn trữ thức ăn, cũng là nơi cung cấp năng lượng khổng lồ cho bé nếu chứa các loại thực phẩm mà bé ưa thích: trứng, phô mai, bánh mì xăng uýt, bánh su, bánh kem, bánh ngọt… Vì thế, trong chiến dịch thay đổi thói quen ăn uống còn phải thực hiện “vườn không nhà trống”… tủ lạnh. “Trang hoàng” tủ lạnh bằng sữa chua, sữa chua uống liền, trái cây ít ngọt…

phunuonline.com.vn



6 loại thực phẩm tốt cho tóc
Tháng 10 7, 2012

Nếu muốn mái tóc suôn mềm, bóng mượt mà không cần đến các loại dầu dưỡng tóc, hãy tập trung vào chế độ ăn uống.

1. Cá hồi

Cá hồi là một trong những loại thực phẩm tốt nhất giúp mái tóc khỏe mạnh bởi nó cung cấp các axit béo omega-3 cần thiết, cũng như protein. Omega-3 rất cần thiết để giúp mái tóc tràn đầy sức sống. Nếu thiếu thành phần này, tóc bạn sẽ bị khô và xơ xác.

2. Rau xanh

Bạn có thể tập trung vào rau chân vịt, bông cải xanh, củ cải Thụy Sĩ để cung cấp các nguồn vitamin A và vitamin C. Các loại vitamin này sẽ bảo vệ tóc, tránh tình trạng khô, hư hại và tổn thương bởi các tác nhân môi trường.

3. Trứng

Trứng là một sự lựa chọn tuyệt vời cho mái tóc khỏe mạnh. Trứng cung cấp lượng protein hoàn chỉnh. Nếu bạn đang tránh thịt đỏ, lòng trắng trứng vẫn sẽ mang đến lượng protein cần thiết giúp cho tóc bạn suôn mượt và bóng khỏe từ gốc đến ngọn.

4. Gạo nâu

Gạo lức mang lại nguồn carbohydrate dồi dào để bảo vệ mái tóc của bạn, đồng thời nó cũng cung cấp vitamin B và các chất xơ. Đây là những dưỡng chất vô cùng cần thiết cho một mái tóc khỏe đẹp.

5. Thịt heo muối

Thịt lợn muối là loại thực phẩm cực kỳ tốt để có một mái tóc tuyệt vời. Tất nhiên bạn nên ăn ở mức độ vừa phải để không bị tăng cân. Thịt lợn với nguồn protein dồi dào cùng các chất kẽm và vitamin B không những bảo vệ tóc không gẫy rụng mà còn mang lại độ sáng bóng, mượt mà.

6. Các loại hạt

Các loại hạt có chứa selenium – một loại khoáng chất bảo vệ da đầu của bạn. Nhiều loại hạt khác cũng chứa axit béo omega-3, kẽm, có thể ngăn ngừa rụng tóc và giảm thiểu tóc mỏng và thưa.

Minh Trang

Theo Ngôi sao



Những lợi ích từ dầu cá
Tháng 10 7, 2012

 Dầu cá chứa nhiều axit béo, giúp duy trì sức khỏe tim mạch, cải thiện các rối loạn tâm thần như rối loạn trầm cảm lưỡng cực, tâm thần phân liệt… Dầu cá từ cá thu, cá mòi, cá kiếm, hàu, cá hồi… là những nguồn tốt nhất.

Dưới đây là những lợi ích của dầu cá, theo Healthmeup.

Tim mạch. Dầu cá giúp ngăn ngừa các bệnh tim mạch . Nó không chỉ giúp làm giảm triglycerides – một dạng mỡ máu làm xơ cứng động mạch, mà còn ngăn ngừa những bất thường trong nhịp tim.

Ung thư. Dầu cá ngăn ngừa hiệu quả ba hình thức phổ biến của bệnh ung thư gồm ung thư vú, ung thư ruột kết và ung thư tuyến tiền liệt. Omega-3 giúp duy trì các tế bào khỏe mạnh và hạn chế sự tăng trưởng của tế bào không mong muốn.


Dầu cá mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe – Ảnh: Shutterstock

Cholesterol. Một trong những lợi ích chính của dầu cá là nó giúp điều chỉnh mức cholesterol. Sự hiện diện của EPA (eicosapentaenoic acid) và DPA (axit docosahexaenoic) được tìm thấy trong hầu hết các loại dầu cá giúp điều tiết cholesterol.

Giảm cân. Tiêu thụ cá có thể là cách để chữa bệnh  cao huyết áp và béo phì. Một nghiên cứu ở Úc đã phát hiện ra rằng chế độ ăn uống giảm cân có dầu cá thường xuyên sẽ mang lại hiệu quả khá nhanh.

Viêm khớp. Dầu cá giúp ích trong việc điều trị chứng viêm khớp. Sử dụng dầu cá lâu dài có thể giúp giảm và ngăn ngừa cơn đau viêm khớp một cách hiệu quả.

Mắt. Omega-3 giúp bảo vệ bệnh thoái hóa điểm vàng (AMD) của mắt và cũng giúp giảm nguy cơ mắc hội chứng khô mắt.

Rối loạn tâm thần. Dầu cá giúp giảm nguy cơ của bệnh Alzheimer, sa sút trí tuệ và tâm thần phân liệt.

Da và tóc. Omega-3 giúp ngăn độ ẩm vào tế bào da, giảm bớt nhược điểm trên da. Hàm lượng protein trong dầu cá giúp tóc phát triển và duy trì mái tóc khỏe mạnh.

Huyết áp cao. Omega-3 có đặc tính chống viêm, giúp hạ huyết áp.

Hen, suyễn. Dầu cá giúp ích cho bệnh nhân có vấn đề về khí quản nhờ làm giảm các cơn hen, suyễn và giúp dễ thở hơn.

Móng tay. Dầu cá cũng được sử dụng trong công nghệ làm đẹp thông qua thành phần chiết xuất giúp cải thiện kết cấu và chất lượng của móng tay.

Xương. Omega-3 được tìm thấy trong dầu cá giúp điều hòa khoáng chất trong xương và các mô xung quanh.

Mang thai. Dầu cá tốt cho thai phụ, thường được nhắc đến với tên DHA giúp cho mắt và não của bé phát triển. Ngoài ra, dầu cá còn giúp ngăn ngừa tình trạng sinh non, cân nặng thấp lúc sinh và sẩy thai.

Viêm. Dầu cá giúp giảm viêm trong máu và các mô. Dầu cá giúp điều trị hiệu quả rối loạn tiêu hóa , hội chứng ruột ngắn và các bệnh viêm mãn tính.

Não.  Dầu cá cũng giúp cải thiện trí nhớ và sự tập trung. Ngoài ra, nó còn giúp cải thiện chức năng của não.

Bệnh tiểu đường loại 2. Một nghiên cứu tại Mỹ đã tìm thấy rằng dầu cá có thể ngăn ngừa chứng viêm trong các tế bào mỡ gây kháng insulin và ngăn ngừa bệnh tiểu đường loại 2.

Mụn trứng cá. Đặc tính EPA trong dầu cá giúp điều tiết chất nhờn trên da.

Cải thiện tâm trạng. Dầu cá giúp cải thiện tính khí thất thường và giảm bệnh trầm cảm.

Ngọc Lam

TNO



Cháo khoai lang – Thức ăn cho bà bầu mới sinh trị táo bón hiệu quả
Tháng 10 6, 2012

Đông y cho rằng, sau sinh do mất máu nhiều khiến khí huyết mất thăng bằng, nước và tân dịch bị suy hao làm ảnh hưởng tới chức năng nhu động của ruột, phân chậm tống ra ngoài nên quá trình lưu lại ở ruột bị đại tràng hút kiệt nước, phân rắn lại mà sinh táo bón. Lúc này sản phụ thường biểu hiện tình trạng âm hư hỏa vượng khiến sắc mặt không tươi nhuận, mà hanh vàng, da khô, miệng nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch lý…

 

Một trong những món dễ làm cho bà bầu mới sinh trị táo bón hiệu quả:

Cháo khoai lang

Nguyên liệu:
- Khoai lang 200g
- Nghệ vàng 10g
- Đường đỏ 50g.

Thực hiện:
- Nghệ rửa sạch giã nhỏ.
- Khoai lang rửa thái miếng, cho cả vào nồi đổ nước vừa đủ đun cho khoai nhừ, khuấy đều thành cháo, cho đường đỏ vào để sôi lại chốc lát là được.
- Ngày ăn 2 lần vào lúc đói.
- Khi thấy đại tiện ngày 1 lần (hết táo bón) thì ngừng ăn.

Nguồn: thucanchobabau.net


Hôn nhân

  • picture Quyết tâm chinh phục mẹ chồng

    T5/05/2013

    Từ chỗ bị bà ghét bỏ, kịch liệt phản đối đám cưới, tôi đã giành được sự tin yêu và quý mến từ mẹ chồng sau ngày vu quy. “Từ trước đến nay con luôn là đứa con ngoan, biết nghe lời. Chỉ riêng quyết định hôn nhân là con khiến mẹ đau đớn, thất [...]

  • picture Chuyện “nhỏ như con thỏ” cũng ly hôn

    T3/05/2013

    Ly hôn là phương án cuối cùng để giải thoát khỏi cuộc hôn nhân không hạnh phúc, bế tắc, khó có thể chung sống được nữa với nhau. Tôi đồng ý với quan điểm này. Tuy nhiên, với tốc độ ly hôn chóng mặt như hiện nay, đòi hỏi phải đánh giá lại thế nào [...]

  • picture Cách có thể giúp bạn tìm ra bằng chứng anh ta “ăn phở”.

    T7/05/2013

     Kiểm tra điện thoại, Facebook của chồng, bất ngờ ghé qua văn phòng anh ấy, theo dõi xe của chàng… là những cách có thể giúp bạn tìm ra bằng chứng anh ta “ăn phở”. Bạn không nên dùng những cách dưới đây khi mới chỉ nghi ngờ chồng có bồ theo những lời mách [...]

Để tìm kiếm bạn nhớ đánh không dấu
Liên kết vàng

Nhập email của bạn để nhận bài viết mới:

Chăm sóc bởi Google FeedBurner

Liên hệ

Tư vấn tâm lý

Tư vấn phong thuỷ

Tư vấn bảo vệ môi trường