Home » Trẻ em » Trẻ mắc bệnh tự kỷ do nhiễm hóa chất độc

Bệnh tự kỷ là một căn bệnh của trẻ em, xuất hiện rất sớm, khi trẻ trên 12 tháng hoặc có khi trẻ phát triển bình thường, rồi tự nhiên bị rối loạn các chức năng về tâm lý, ngôn ngữ. Các nhà khoa học cho rằng có thể do nhiễm hóa chất độc hại nên trẻ mắc bệnh tự kỷ.

Bệnh tự kỷ được mô tả lần đầu tiên vào năm 1943, sau đó được nghiên cứu nhiều hơn, nhất là mấy năm gần đây khi các triệu chứng được tiêu chuẩn hóa chính xác hơn, giúp cho việc định bệnh thuận lợi. Biểu hiện bệnh khác biệt rất nhiều, có trẻ chỉ bị nhẹ vẫn có thể sinh hoạt, học hành gần như bình thường. Nhưng có những trường hợp nặng làm cho trẻ không thể sinh hoạt, học tập được. Trong mấy năm gần đây, số trẻ em bị bệnh tự kỷ gia tăng rất cao ở nhiều nước trên thế giới, có thể vì định bệnh chính xác hơn. Một số nhà khoa học cho rằng nguyên nhân vì nạn ô nhiễm môi trường sống, ô nhiễm thực phẩm, nước uống, dụng cụ làm bếp nhiễm hóa chất đã làm cho căn bệnh này gia tăng. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng cần được quan tâm thỏa đáng, vì cho đến nay vẫn chưa có thuốc chữa bệnh tự kỷ, việc điều trị chủ yếu phải dùng tâm lý trị liệu hết sức tốn kém và lâu dài.

Không nên cho trẻ em chơi đồ chơi có chất phtalates vì có thể làm trẻ mắc bệnh tự kỷ.

Mẹ dùng mỹ phẩm, con mắc bệnh?

Nhóm nghiên cứu của bác sĩ Philip Landrigan thuộc Đại học Mt Sinai school of Medicine cho rằng, bệnh tự kỷ có thể bị gây ra bởi việc não bộ của bào thai bị nhiễm độc bởi một số hóa chất do người mẹ nhiễm phải khi mang thai, do thực phẩm bị ô nhiễm hóa chất hoặc những dụng cụ nấu bếp, việc bảo quản thực phẩm bị nhiễm độc bởi chất phtalates. Trước đây, y học đã khám phá ra một số trường hợp mắc bệnh tự kỷ ở những trẻ em mà người mẹ đã lỡ dùng phải một vài dược phẩm trong khi mang thai như các thuốc thalidomid, misoprostol, valproic acid. Thai nhi thường bị nhiễm bệnh khi bào thai được 3 tháng, là thời gian mà não bộ bắt đầu hình thành và tăng trưởng.

Một số trường hợp dị tật bẩm sinh của não bộ cũng xảy ra khi người mẹ đang mang thai bị mắc bệnh do siêu vi gây ra như chứng bệnh German measles hoặc nhiễm chất độc da cam. Gần đây, ở châu Âu và Hoa Kỳ, người ta đã cấm sử dụng một số hóa chất như acrylamid, bisphenol vì gây ra ung thư hoặc tổn hại cho thần kinh. Trong khi hàng ngàn, hàng vạn trường hợp nhiễm độc các chất chì, thủy ngân, cadmium… đã được giới y học phát hiện, nhưng phải một thời gian khá lâu mới được xác nhận.

Chất đang được nghiên cứu hiện nay là phtalates thường có trong nước hoa, keo xịt tóc, thuốc sơn móng tay, thuốc gội đầu, mỹ phẩm. Các đồ dùng như chai lọ, hộp đồ nhựa, bát đĩa bằng plastic để dùng trong các lò microwave cũng có chất phtalates. Những nghiên cứu trên phụ nữ mang thai có nồng độ phtalates cao trong nước tiểu thì tỷ lệ trẻ em bị bệnh tự kỷ cao hơn mức bình thường. Do đó, người ta khuyên rằng những bà mẹ đang mang thai chỉ nên dùng những loại mỹ phẩm được xác nhận là không có chất phtalates.

Các dấu hiệu của trẻ mắc bệnh tự kỷ

Các bậc cha mẹ khi chăm sóc con cái có thể phát hiện bệnh tự kỷ của trẻ dựa vào các biểu hiện như sau: trẻ có những trở ngại về ngôn ngữ như chậm nói, sau 12 tháng vẫn chưa biết nói hoặc trở nên lầm lì, tránh giao tiếp với cha mẹ, anh em, bạn bè hoặc nói ra những câu vô nghĩa. Trở ngại về đời sống xã hội: bệnh nặng thì có thể trở nên cô lập hoàn toàn, sống riêng rẽ, không nghe, không nhìn, không nói; còn bệnh nhẹ thì có thể biểu hiện là nhút nhát, e dè. Nhiều trẻ bị bệnh tự kỷ có những cử chỉ khác thường, máy móc, vô nghĩa như: gõ đập, múa may, lắc lư hoặc quậy phá lung tung bất thường.

Hầu hết trẻ bị bệnh tự kỷ thường học rất kém, không bình thường và sau này trở thành một gánh nặng cho gia đình và xã hội. Một số ít trẻ bị bệnh tự kỷ rất nặng, biểu hiện là tuy tâm trí gần như hoàn toàn tê liệt nhưng lại có một vài tài năng vô cùng xuất chúng về âm nhạc hay toán học. Những người này có khả năng làm được những bài toán cực kỳ phức tạp, đồng thời có một trí nhớ siêu phàm về các cuốn lịch cũng như thời tiết cả chục năm về trước mà chỉ có máy điện toán cực mạnh mới làm nổi.

Có một vài trường hợp các em không hề được học về âm nhạc, điêu khắc, hội họa nhưng chỉ cần nghe qua một lần cũng có thể chơi được những bản nhạc cổ điển phức tạp nhất hoặc sáng tác được những tác phẩm nghệ thuật xuất chúng. Có những trường hợp trẻ em bị bệnh tự kỷ không biết đọc, không biết viết, nhưng có thể nhớ được cả một cuốn niên giám điện thoại sau khi đọc qua một lần, đó là hiện tượng “idiot savant” được quay thành phim Rainman, nhưng đến nay khoa học vẫn chưa giải thích được những trường hợp lạ lùng này.

Khoảng 25% các trường hợp bị bệnh tự kỷ có nguyên nhân di truyền. Những gia đình có con em bị bệnh tự kỷ thì tỷ lệ cao hơn có thể lên tới 11%. Cha mẹ lớn tuổi mới sinh con cũng có tỷ lệ trẻ sinh ra bị mắc bệnh tự kỷ cao hơn. Hiện nay, các nhà khoa học y khoa đang cố gắng nghiên cứu nhằm tìm ra những nguyên nhân gây bệnh để tìm cách phòng ngừa căn bệnh khó khăn và tôn kém trong điều trị này.

ThS. Minh Phát

SK&ĐS

Lưu

One Response to “Trẻ mắc bệnh tự kỷ do nhiễm hóa chất độc”

  1. TRẺ TỰ KỶ – TẠI SAO?

    Hiện nay, việc phát hiện những cháu bé có tình trạng Tự Kỷ đã trở nên ngày một nhiều và sớm hơn. Ngay từ 1,2 tuổi khi thấy bé không chịu nói, không thích giao tiếp hay có những phản ứng kỳ lạ, bố mẹ lập tức nghĩ rằng, trẻ có thể bị “bệnh tự kỷ” và tích cực tìm nhiều cơ sở để có những cách “điều trị” cho bé.

    Nguyên Nhân dẫn đến tình trạng Tự Kỷ:

    Khi đối diện với tình trạng kỳ lạ này, các nhà khoa học, y học, sinh học, tâm lý … đều có thể cho rằng nguyên nhân của tự kỷ có dính dáng đến lĩnh vực của mình, từ những vấn đề của di truyền, cấu trúc bất thường của hệ thần kinh não bộ, cho đến việc do bố mẹ không quan tâm giao tiếp với trẻ ngay từ khi mới sinh, và cả việc cho trẻ xem TV quá nhiều… mà nguyên nhân nào cũng có thể và có khi là tất cả !

    Trong quá trình chẩn đoán với các trẻ có dấu hiệu tự kỷ từ nhiều năm nay, chúng tôi thấy có hai vấn đề do tâm lý nhưng lại có liên quan đến sinh học, đó là sự lo âu căng thẳng, buồn bực của người mẹ khi mang thai bé và việc sinh mổ. Tuy chưa thể xem đây có phải là hai nguyên nhân trong số các nguyên nhân tạo ra tình trạng Tự Kỷ hay không, nhưng hầu như trong các trường hợp chẩn đoán là Tự Kỷ hay hiếu động kém chú ý, thì có đến 80% các bà mẹ cho biết là có vấn đề căng thẳng lo lắng khi mang thai hay có tình trạng sinh mổ vì lý do này hay lý do khác. Và có đến gần 50% là có cả hai vấn đề : Lo lắng và sinh mổ.

    Chúng tôi cho rằng trong quá trình sinh nở, khi sinh theo cách bình thường, thai nhi được di chuyển một cách chậm chạp từ trong lòng mẹ, là môi trường nước, ấm áp và quen thuộc sang một môi trường không khí, lạnh lẽo và xa lạ, thai nhi sẽ “trườn” theo đường sinh dục để ra ngoài, đủ thời gian để các cảm giác về xúc giác và thính giác cảm nhận sự thay đổi. Từ đó, trẻ sẽ “yên tâm” hơn, không còn lo lắng để có phản ứng “co lại” không muốn tiếp xúc nữa. Còn nếu sinh mổ, ngay từ trong lòng mẹ, trẻ được “di dời” ngay ra với môi trường bên ngoài một cách nhanh chóng, trẻ sẽ không đủ thời gian để cảm nhận, xúc giác không được kích thích một cách nhẹ nhàng, mà trái lại bị những tác động mạnh bạo của các bàn tay xa lạ cầm nắm, thai nhi vô cùng lo lắng, sợ hãi và những sang chấn tâm lý đầu đời đó sẽ có những tác động xấu lên hệ thần kinh của trẻ sau này.

    Ngoài ra, trong đa số trường hợp sinh mổ, vì lý do sức khỏe, trẻ thường phải nằm trong lồng kính ít nhiều, đây cũng là một thời gian “chết” Tuy bảo vệ cho trẻ về sức khỏe, nhưng lại làm cho khả năng giao tiếp của trẻ giảm đi đáng kể.

    Còn trong trường hợp người mẹ có những lo lắng, căng thẳng khi có thai thì điều này đã được chứng minh là sẽ gây ra những ảnh hưởng lên tâm sinh lý thai nhi, vì thế một trong những nguyên tắc của Thai giáo, là người mẹ nên có những trao đổi, vuốt ve một cách nhẹ nhàng lên thai nhi, tinh thần vui vẻ, và thường xuyên thì thầm to nhỏ, nghĩ về cháu bé trong lòng với niềm vui, thì cháu bé sinh ra sẽ phát triển một cách tốt đẹp.

    Yếu tố xúc cảm có vai trò gì ?

    Người ta thấy là tỷ lệ trẻ có tình trạng Tự Kỷ ở những gia đình trí thức, có ăn học, bố mẹ có địa vị và bằng cấp trong xã hội lại cao hơn ở những gia đình bình dân. Tại sao lại như vậy ? Phải chăng là các bà mẹ có ăn học đã được giáo dục là phải biết kìm nén cảm xúc. Dù cho phải “gặm một khối căm hờn” nhưng bề ngoài vẫn phải giao tiếp ứng xử bình thường, hay nếu có giận dữ, khóc lóc cũng phải có “điểu chỉnh âm thanh vừa đủ nghe” Chính điều đó đã tạo ra những “chất độc” với tác động tuy âm thầm nhưng mạnh mẽ đến thai nhi. Còn với những gia đình bình dân, thì khi bực mình, lo lắng, giận dữ họ đều có thể biểu lộ cảm xúc một cách tự nhiên, có thể la hét, đập phá hay khóc lóc thoải mái, tuy bề ngoài trông như một con mẹ điên, nhưng có bao nhiêu cục giận, mối lo đều được xả ra hết, chẳng còn gì trong lòng, ngay chiều hôm đó là có thể kéo nhau đi ăn hàng được rồi! Có nhiều cặp vợ chồng giới bình dân buổi sáng mày tao chi tớ, đánh nhau chí tử nhưng buổi tối vẫn có thể lên giường với nhau, còn các cặp vợ chồng tri thức, khi phát sinh mâu thuẫn thì thường là “hồn ai nấy giữ, giường ai nấy nằm” và người mẹ trong trường hợp này thì chỉ biết ôm cái thai mà để cho nước mắt chảy ngược vào tim. Để rồi cái thai trong lòng phải “lãnh đủ” những uất ức, buồn rầu của người mẹ và sau này, những vết tích đó sẽ có thể tạo nên tình trạng từ chối giao tiếp nơi trẻ Tự Kỷ.

    Đâu là biện pháp thích hợp?

    Những tác động kể trên có thể là nguyên nhân để tạo ra tình trạng rối nhiễu cho trẻ nhất là hội chứng Tự Kỷ. Vì thế, trong thời kỳ mang thai, người mẹ không nến kìm nén những cảm xúc ấm tính, mà cứ để nó được bộc lộ trọn vẹn để không lưu giữ trong lòng. Ngoài ra chỉ nên sinh mổ trong những trường hợp bắt buộc và nên tìm cách giao tiếp với trẻ càng sớm càng tốt.

    Chúng ta cũng nên biết không phải trẻ chậm nói nào cũng có thể chẩn đoán là Tự Kỷ, vì chậm nói là biểu hiện của nhiều tình trạng khác nhau, từ Chậm phát triển trí tuệ cho đến Hiếu Động kém chú ý đều có thể có biểu hiện này. Vì thế, đã có nhiều trẻ đã bị gắn cho cái nhãn “Tự Kỷ” hay “ có nét Tự Kỷ” dù không đúng, điều này làm phát sinh những thất vọng, lo lắng không đáng có cho bố mẹ các em và tai hại hơn, là có thể đưa ra những định hướng điều trị không chính xác cho tình trạng của trẻ.

    Nhưng cũng có nhiều bố mẹ lại không chấp nhận sự thật, cho rằng con mình nếu bị “bệnh”, trước sau gì cũng sẽ tìm được thuốc hay, thày giỏi để chữa trị cho con. Để rồi chạy Đông chạy Tây tìm đến những phương pháp tốn kém, với các trang thiết bị hay các liệu pháp điều trị phức tạp, hay tìm cách cho con ra nước ngoài để điều trị, mà họ quên rằng, hay cố tình không biết, người thày thuốc giỏi nhất cho đứa con chính là bố mẹ các em !

    Có thể nói các trung tâm, bệnh viện chỉ là nơi cung cấp cho bố mẹ những kiến thức, hỗ trợ và giám sát chương trình chăm sóc, giáo dục và trị liệu tại chính gia đình các em. Bởi vì sự giao tiếp và hội nhập của các em phải được điều chỉnh và tái cấu trúc ngay chính từ gia đình. Nếu bố mẹ từ chối hay tránh né tham gia kế hoạch chăm sóc trẻ dưới sự định hướng của các nhà chuyên môn thì đã vô tình bỏ qua một cơ hội xây dựng sự ổn định và hội nhập của trẻ với môi trường bên ngoài và nếu bố mẹ hy vọng sẽ tìm ra một liệu pháp thần kỳ để biến đổi con mình trở lại tình trạng bình thường thì đó chính là một ảo tưởng không nên có trong việc đem lại cho các em một cuộc sống, tuy không thể nào hoàn toàn giống như những trẻ bình thường, nhưng đó là một cuộc sống mà trẻ chấp nhận được mọi người và mọi người cũng chấp nhận được các em.

    Cv.Tl LÊ KHANH

    Trả lời
Kỹ năng cuộc sống
wap tai zalo chat 2017 nhanh
  • Chăm sóc trẻ
  • Kiến thức gia đình