Home » Trẻ em » Bệnh viêm não Nhật Bản có biểu hiện thế nào

Bệnh viêm não Nhật Bản đã được mô tả từ những năm 1871, nhưng mãi tới năm 1934 virut viêm não Nhật Bản mới được Hayshi phát hiện tại Nhật Bản, chính vì vậy được gọi là virut viêm não Nhật Bản.

Các vụ dịch thường xảy ra vào mùa hè. Vật chủ trung gian truyền bệnh là muỗi thuộc giống CulexAedes trong đó muỗi Culex tritaeniorhynchus là vector (vật chủng trung gian) chính. Khi bị muỗi nhiễm virut viêm não Nhật Bản đốt, người có thể mắc bệnh viêm não Nhật Bản và bệnh thường gặp nhiều hơn ở trẻ em. Tỷ lệ tử vong cao.

 Triệu chứng bệnh

Thời kỳ ủ bệnh là 1 – 6 ngày, ngắn nhất 24 giờ và có khi tới 14 ngày. Thường ít có triệu chứng. Bệnh thường khởi phát đột ngột với các triệu chứng như sốt, đau đầu, buồn nôn và nôn. Sau đó sốt cao, co giật, co cứng cơ và lú lẫn. Hầu hết các trường hợp có thể thấy dấu hiệu màng não, động tác tự động, phản xạ bệnh lý, rối loạn tâm thần.

 Những triệu chứng nổi bật trong giai đoạn toàn phát là những dấu hiệu màng não, não và rối loạn thần kinh thực vật. Đối với dấu hiệu màng não có 2 triệu chứng phổ biến là cứng gáy và dấu hiệu Kernig. Rối loạn vận động thể hiện trên nhiều mặt: co cứng cơ, co vặn, cơn quay mắt quay đầu, co giật, động cơn, run, liệt nửa người, mất vận động ngôn ngữ. Các triệu chứng thần kinh thực vật rất đa dạng và nặng nề: nhiệt độ dao động, xanh tái, rối loạn hô hấp, tăng tiết đờm dãi, nhịp tim nhanh, chướng bụng, nôn, bí đại tiểu tiện và ngừng hô hấp đột ngột. Các triệu chứng tâm thần chủ yếu là rối loạn ý thức với các mức độ khác nhau từ u ám, ngủ gà đến hôn mê sâu.

 Nói chung các rối loạn tiến triển nhanh chóng, biến đổi hàng ngày và khác nhau tuỳ từng trường hợp.

 Trong các trường hợp nặng tiến triển đến tử vong, thường thấy sốt > 400C kèm với các rối loạn thần kinh thực vật nặng nề. Tử vong thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến thứ 8 của giai đoạn cấp. Trên các bệnh nhi sống sót có thể để lại các di chứng thần kinh tâm thần.

 Di chứng của viêm não Nhật Bản

 

 Dựa vào đâu để chẩn đoán viêm não Nhật Bản

Khi chẩn đoán, cần phải dựa vào nhiều tiêu chuẩn chặt chẽ:

– Các biểu hiện lâm sàng: sốt, rối loạn ý thức, co giật….

– Dịch tễ học: Địa phương có dịch, tập quán sinh hoạt, có ổ virut và muỗi trung gian truyền bệnh..

– Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào chẩn đoán virut học (phân lập virut và huyết thanh chẩn đoán (IgM)).

Đối với chẩn đoán phân biệt, vấn đề đặt ra là chẩn đoán một hội chứng viêm não cấp tính.

 Trong thực tế chúng ta cần phân biệt với các bệnh sau:

– Các bệnh viêm não – màng não do vi khuẩn

– Bệnh não cấp xảy ra sau các bệnh truyền nhiễm: bệnh do virut như nhiễm poliovirus, Coxsackie, ECHO, sởi, thuỷ đậu, herpes simplex… Bệnh do vi khuẩn và ký sinh trùng như thương hàn thể não, liệt toàn thể do giang mai, viêm não do Listeria, Toxoplasma não, bệnh ấu trùng sán lợn

– Bệnh não do rối loạn chuyển hoá: hạ đường huyết…

– Bệnh não do rối loạn mạch máu, tắc nghẽn động mạch hoặc tĩnh mạch, u não, apxe não

 Xử trí bệnh

Hiện nay, chúng ta chưa có thuốc để điều trị đặc hiệu, mà chủ yếu điều trị triệu chứng, hồi sức tích cực, phục hồi chức năng và nâng cao thể trạng. Hiện có các phương pháp điều trị sau:  

+ Trong giai đoạn khởi phát và toàn phát (giai đoạn cấp), chúng ta phải tập trung hồi sức cấp cứu:

 – Chống phù não, làm giảm các phản ứng vận mạch

 – Chống co giật và các rối loạn thần kinh thực vật

 – Hỗ trợ tình trạng suy hô hấp

 – Chống bội nhiễm, nhất là ở đường hô hấp

 – Cân bằng nước và điện giải

 – Tiến hành tập phục hồi chức năng vận động sớm để hạn chế di chứng.

+ Sau hết giai đoạn cấp cứu chúng ta cần phải tiến hành điều trị phục hồi ý thức, tăng cường dinh dưỡng cho não, uống thuốc giảm trương lực cơ. Sớm tập phục hồi chức năng, dinh dưỡng, chống loét và điều chỉnh các rối loạn tâm lý. Đây là những vấn đề rất quan trọng trong quá trình điều trị.

BSGĐ.Org

 

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống