Bệnh thuỷ đậu

Hiện nay là mùa đang có nhiều trẻ đang bị thuỷ đậu. Đây là một bệnh truyền nhiễm rất dễ lây lan, có khả năng bùng nổ thành dịch. Tác nhân gây bệnh là một loại siêu vi trùng (Herpes varicella hay còn gọi là Varicella zoster). Mọi lứa tuổi, mọi giới đều có thể mắc bệnh thuỷ đậu, tuy nhiên tuổi hay mắc nhất là trẻ em dưới 10 tuổi (90%). Bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường xảy ra từ tháng giêng đến tháng năm. Bệnh lây lan do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh: chủ yếu là đường hô hấp qua những giọt nước bọt của người bệnh, đường lây khác là thông qua tiếp xúc với những bọng nước ở người bệnh vỡ ra.

Thời gian lây trung bình là 7-8 ngày, đó là thời gian kể từ trước khi có phát ban 24 giờ kéo dài cho đến khi các nốt đậu đóng vảy. Bệnh thường có diễn tiến lành tính, ít gây biến chứng trên người có miễn dịch bình thường. Những người hệ thống miễn dịch suy giảm có thể bị bệnh lần hai. Bệnh lần hai thường là nhẹ hơn lần đầu.

Thời gian ủ bệnh trung bình là 13-17 ngày. Thời kỳ này không có triệu chứng. Đến thời kỳ khởi phát người bệnh sốt nhẹ, chán ăn, mệt mỏi, nhức đầu, đôi khi có đau bụng nhẹ. Một số bệnh nhân xuất hiện tạm thời những nốt hồng ban nỗi lên khỏi mặt da, kích thước nhỏ khoảng vài mm, khoảng 24 giờ sau những vị trí có nốt ban này trở thành những nốt đậu. Cũng có một số trường hợp thời kỳ này kéo dài hơn, sốt cao hơn kèm theo các triệu chứng khác. Cần chú ý các trường hợp này bệnh có thể diễn tiến nặng và dễ xảy ra các biến chứng nguy hiểm.

Tiếp theo là thời kỳ toàn phát đây được gọi là thời kỳ đậu mọc. Trong thời kỳ này trên da xuất hiện những bọng nước kích thước tù 3-12 mm, bọng nước hình tròn hoặc hình giọt nước. Lúc đầu xuất hiện ở thân mình sau đó lan lên mặt và tứ chi, có trường hợp bọng nước xuất hiện ở nơi khác như niêm mạc miệng, kết mạc mắt, mi mắt, niêm mạc tiêu hoá, niêm mạc đường hô hấp, gây nên các triệu chứng tại các cơ quan này. Có thể ngứa làm bệnh nhân khó chịu. Khoảng 24 giờ sau thì bóng nước hoá đục. Bọng nước mọc thành nhiều đợt nên chúng ta thấy trên da có nhiều dạng xen kẻ nhau như dạng ban, bóng nước trong, dạng bọng nước đục, dạng đóng mày. Thời kỳ này người bệnh sốt nhẹ hoặc không sốt.
Sau một 7-10 ngày thường các bóng nước đóng vảy, không xuất hiện thêm các bọng nước mới, bệnh chuyển qua thời kỳ hồi phục. Tại những nơi đã xuất hiện bọng nước sẽ có giảm sắc tố da kéo dài khoãng 2 – 3 tháng sau thì phần lớn trở lại bình thường. Nhưng nếu bọng nước có nhiễm khuẩn hoặc trên nền của bệnh, da có sẵn như chàm, sạm da do nắng, vết bỏng, thì tổn thương da sẽ hồi phục chậm hơn thậm chí để lại sẹo.

Trên đây là diễn tiến bình thường của bệnh thuỷ đậu. Tuy nhiên có một số trường hợp biểu hiện bệnh nặng nề hơn, bệnh diễn tiến kéo dài, dễ kèm theo các biến chứng, thời gian phục hồi cũng kéo dài hơn. Những trường hợp này thường gặp ở những người bệnh có hệ thống miễn dịch suy giảm. Các biến chứng có thể gặp trong bệnh thuỷ đậu: nhiễm trùng da, viêm mô tế bào, áp xe dưới da, viêm hạch ngoại biên, viêm phổi thuỷ đậu, viêm thanh quản, hội chứng Reye, viêm thận cấp, viêm não thuỷ đậu, giảm tiểu cầu, liệt thần kinh mặt.

Phụ nữ mang thai bị bệnh thuỷ đậu trong 3 tháng cuối của thai kỳ, trẻ sinh ra dễ có một số dị tật bẩm sinh như sẹo da, teo cơ, bất thường ở mắt, chậm phát triển tinh thần, co giật, thậm chí trước khi sinh 1 tuần nếu bà mẹ bị thuỷ đậu trẻ sinh ra, các cơ quan nội tạng thường bị tổn thương đặc biệt là phổi gây tử vong tới 30% các trường hợp.

Một số dấu hiệu nặng của bệnh thuỷ đậu: Khi có một hay nhiều dấu hiệu này người bệnh cần được thăm khám, theo dõi để phát hiện và xữ lý kịp thời những biến chứng của thuỷ đậu:
• Sốt cao, sốt kéo dài,
• Bọng nước mọc nhiều, xuất huyết dưới da, xuất huyết nội tạng,
• Đau bụng, đau cơ, ho nhiều,
• Khó thở, thở nhanh, tím tái, ho ra máu, co giật, múa vờn, rung giật nhãn cầu.

Phòng ngừa bệnh thuỷ đậu:
• Tạo miễn dịch thụ động, sữ dụng Globulin miễn dịch cho những người tiếp xúc với virus nhưng chưa có miễn dịch, như người suy giảm miễn dịch mắc phải, phụ nữ có thai, trẻ mới sinh có mẹ bị thuỷ đậu. Thuốc phải đựơc dùng trong vòng 96 giờ (tốt nhất trong vòng 48giờ) sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh.
• Tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm vaxcin thuỷ đậu.
• Phòng ngừa lây lan từ người bệnh sang người lành ít đạt được hiệu quả như mong muốn vì bệnh rất dễ lây, đồng thời lây sớm từ 24-48 giờ trước khi xuất hiện bóng nước. Tuy nhiên khi phát hiện bệnh cần cách ly người bệnh cho đến khi không còn xuất hiện bọng nước mới và các nốt đậu đóng vảy. Tiếp xúc, chăm sóc người bệnh phải dùng khẩu trang, găng tay y tế.

Những điều cần lưu ý:

• Điều trị bệnh thuỷ đậu ở người có miễn dịch bình thường với mục đích là giảm nguy cơ gây biến chứng.
• Điều trị triệu chứng: chống ngứa, giảm đau, hạ sốt.
• Trẻ em không được dùng aspirin vì thuốc có thể gây ra hội chứng Reye.
• Phòng ngừa bội nhễm: cắt móng tay, đeo găng tay để trách gãi, vệ sinh thân thể, thay áo quần hàng ngày, tắm dung dịch sát khuẩn, bôi thuốc sát khuẩn. Cho kháng sinh nếu có dấu hiệu bội nhiễm hoặc những người có nguy cơ nhiễm khuẩn cao.

Thạc sỹ – bác sỹ Lê Viết Hải.

Theo Mẹ & Bé

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.