Home » Sinh sản » Vô sinh ở nữ giới

Vô sinh ở nữ giới có nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, ngoài những nguyên nhân không thể tránh, bản thân nữ giới có thể phòng ngừa vô sinh bằng cách chọn một lối sống lành mạnh, quan hệ tình dục an toàn…

Dưới đây là những thông tin về vô sinh ở nữ giới do Thạc sĩ – bác sĩ Vương Thị Ngọc Lan, Bộ môn Phụ sản Đại học Y dược TP.HCM chia sẻ cùng bạn đọc.

Nguyên nhân vô sinh ở nữ giới

1. Bệnh lý vòi trứng và vùng chậu: là những tổn thương hay tắc vòi trứng và các cấu trúc khác của vùng chậu. Hai nguyên nhân thường gặp trong nhóm này là tắc vòi trứng và lạc nội mạc tử cung.

2. Rối loạn phóng noãn: buồng trứng có hoạt động phóng noãn không đều đặn hay hoàn toàn không phóng noãn. Trong nhóm này, các bệnh lý thường gặp là hội chứng buồng trứng đa nang, tăng prolactin máu, rối loạn chức năng tuyến giáp, suy buồng trứng, stress…

3. Bất thường cổ tử cung: là những bất thường như cổ tử cung hẹp, chất nhầy cổ tử cung không thuận lợi, viêm cổ tử cung nặng do lậu cầu, Chlamydia trachomatis, kháng thể kháng tinh trùng,…

4. Bất thường tử cung: là các dị tật bẩm sinh không có tử cung, tử cung dị dạng 2 sừng, tử cung đôi, tử cung có vách ngăn sâu và dày, nội mạc tử cung mỏng,…

5. Không rõ nguyên nhân

Phương pháp, chi phí và thời gian điều trị

Có nhiều phương pháp điều trị vô sinh, từ đơn giản đến phức tạp. Tùy theo nguyên nhân, bác sĩ sẽ chọn cách điều trị phù hợp. Có thể kể một số kỹ thuật điều trị cơ bản sau đây:

– Giao hợp quanh thời điểm phóng noãn. Đây là phương pháp đơn giản, thường áp dụng cho các bệnh nhân còn trẻ tuổi, nguyên nhân vô sinh đơn giản, hiếm muộn chưa rõ nguyên nhân. Phương pháp này dùng các phương tiện để xác định thời điểm phóng noãn như siêu âm theo dõi nang noãn, thử nước tiểu; máu để xác định đỉnh LH, xem chất nhầy cổ tử cung,… Thời gian thực hiện thường khoảng 2 tuần, chi phí thấp.

– Gây phóng noãn: là việc dùng thuốc uống hay tiêm để gây sự phát triển nang noãn và phóng noãn ở các phụ nữ rối loạn phóng noãn, không phóng noãn như hội chứng buồng trứng đa nang… Thời gian thực hiện từ 2 – 3 tuần, tùy theo loại thuốc sử dụng mà chi phí từ 1 – 5 triệu đồng.

– Bơm tinh trùng vào buồng tử cung có kết hợp với kích thích buồng trứng (IUI): thường chỉ định cho các trường hợp vô sinh chưa rõ nguyên nhân, tinh trùng ít, yếu nhẹ, lạc nội mạc tử cung,… Thời gian thực hiện khoảng 2 tuần, chi phí tổng cộng khoảng 5 – 6 triệu đồng.

– Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF): thường thực hiện cho các trường hợp bệnh nhân bị tổn thương, tắc 2 vòi trứng, lạc nội mạc tử cung nặng, tinh trùng bất thường mức độ vừa, hay thất bại 4 chu kỳ bơm tinh trùng vào buồng tử cung. Các bước cơ bản trong qui trình thụ tinh trong ống nghiệm gồm: tiêm thuốc kích thích buồng trứng, chọc hút lấy trứng, cho thụ tinh trứng với tinh trùng trong labo, chuyển phôi vào buồng tử cung, hỗ trợ sau chuyển phôi. Thời gian thực hiện từ 2 – 7 tuần tùy theo phác đồ kích thích buồng trứng sử dụng. Chi phí trung bình cho một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm hiện nay khoảng 45 triệu đồng.

– Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI): thực hiện cho các trường hợp tinh trùng bất thường nặng, rất nặng hay không có tinh trùng do bế tắc. Kỹ thuật này khá giống thụ tinh trong ống nghiệm, chỉ khác ở quá trình tạo phôi, vì tinh trùng quá ít và yếu, chúng ta phải dùng dụng cụ đặc biệt, thông qua hệ thống kính hiển vi có vi thao tác để bắt tinh trùng và tiêm tinh trùng vào bào trứng. Thời gian thực hiện từ 2 – 7 tuần tùy theo phác đồ kích thích buồng trứng, chi phí vào khoảng 45 – 50 triệu đồng.

– Thụ tinh trong ống nghiệm với trứng người cho: áp dụng cho các trường hợp bệnh nhân lớn tuổi có số trứng còn lại trong buồng trứng rất ít, chất lượng trứng kém hay suy buồng trứng sau phẫu thuật, hóa trị, xạ trị do ung thư hay suy buồng trứng vô căn, các trường hợp thất bại thụ tinh trong ống nghiệm nhiều lần. Trứng sẽ được xin từ buồng trứng người cho trẻ tuổi (< 35 tuổi), không mắc bệnh gì, đã có ít nhất một con bình thường khỏe mạnh. Trứng sẽ được thụ tinh với tinh trùng người chồng tạo thành phôi, sau đó phôi được chuyển vào buồng tử cung người vợ. Thời gian thực hiện từ 2 – 4 tuần, chi phí khoảng 45 triệu đồng.

– Trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IVM): thường thực hiện cho các trường hợp có hội chứng buồng trứng đa nang có kèm với các nguyên nhân vô sinh khác như tắc vòi trứng, tinh trùng ít, yếu, thất bại với gây phóng noãn, nguy cơ hay tiền sử bị quá kích buồng trứng khi dùng thuốc gây phóng noãn. Phương pháp này thường sử dụng rất ít thuốc kích thích buồng trứng, chọc hút lấy trứng non trong các nang noãn nhỏ ở buồng trứng, nuôi trưởng thành trứng bên ngoài cơ thể, thụ tinh với tinh trùng chồng tạo phôi, chuyển phôi vào buồng tử cung người vợ. Phương pháp này có ưu điểm như thời gian thực hiện ngắn, khoảng 1 tuần, an toàn không quá kích buồng trứng (vì không kích thích buồng trứng) và trên hết, chi phí chỉ bằng phân nửa chi phí thụ tinh trong ống nghiệm, khoảng 25 triệu đồng.

Khi bị vô sinh, một số phụ nữ ngại đến bệnh viện nên hay làm theo các phương pháp truyền miệng như ăn món này nhanh có con, ăn món kia giúp trị vô sinh… Tuy nhiên, hiện chưa có loại thức ăn nào được chứng minh có hiệu quả trong điều trị hiếm muộn do nữ, hoặc nếu có, cũng chưa rõ liều lượng và thời gian ăn bao lâu thì đạt kết quả.

Riêng nguyên nhân rối loạn phóng noãn do rối loạn chuyển hóa; béo phì, người phụ nữ cần thực hiện giảm cân bằng các chế độ ăn kiêng, tập thể dục nhiều. Khi giảm cân được khoảng 5% trọng lượng cơ thể ban đầu, phóng noãn và khả năng có thai sẽ được cải thiện.

Những nguyên nhân chiếm tỉ lệ cao, biện pháp phòng ngừa vô sinh

Hai nguyên nhân thường gặp nhất của hiếm muộn ở người vợ là bệnh lý vòi trứng vùng chậu và rối loạn phóng noãn, với tỉ lệ tương đương khoảng 40%.

Ở Việt Nam, trước đây, tỉ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục còn cao nên nguyên nhân tổn thương vòi trứng thường gặp hơn. Tuy nhiên, gần đây, rối loạn phóng noãn ngày càng tăng do tình trạng béo phì ngày càng nhiều ở người trẻ.

Tắc vòi trứng là nguyên nhân hiếm muộn thường gặp ở nữ giới, thường xảy ra trong độ tuổi sinh sản, không do bẩm sinh. Các yếu tố nguy cơ gây tắc vòi trứng gồm: nhiễm trùng đường sinh dục, quan hệ tình dục không an toàn, nạo phá thai không an toàn, không đảm bảo vô trùng, mắc các bệnh lý mãn tính như lao sinh dục,…

Rối loạn phóng noãn thường do các bệnh lý như hội chứng buồng trứng đa nang, suy buồng trứng hay do tình trạng cuộc sống và công việc áp lực, căng thẳng tâm lý. Hội chứng buồng trứng đa nang chiếm 70 – 80% nhóm nguyên nhân rối loạn phóng noãn. Các bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang thường có các biểu hiện rối loạn kinh nguyệt, béo phì, rậm lông, mụn mặt, rụng tóc hói đầu và các rối loạn chuyển hóa đường và mỡ. Rối loạn phóng noãn có thể xảy ra ở phụ nữ độ tuổi sinh sản nhưng hiện nay, ngày càng có những người trẻ hơn, ở độ tuổi dậy thì, cũng có các biểu hiện của hội chứng buồng trứng đa nang.

Một số biện pháp có thể thực hiện nhằm tránh hiếm muộn như:

– Thói quen vệ sinh bộ phận sinh dục đúng cách

– Quan hệ tình dục an toàn

– Tránh nạo phá thai nhiều lần và không an toàn

– Chế độ ăn uống, sinh hoạt, thể dục đúng, điều độ

– Khám phụ khoa định kỳ để phát hiện các bệnh lý đường sinh dục và điều trị kịp thời, hiệu quả, tránh các bệnh viêm nhiễm mãn tính có thể gây hiếm muộn.

Những bệnh viện và trung tâm điều trị vô sinh

Hiện nay, điều trị vô sinh được thực hiện ở nhiều cơ sở điều trị sản phụ khoa. Một số cơ sở chỉ thực hiện các khảo sát hay các điều trị đơn giản như siêu âm nang noãn, gây phóng noãn,… Một số cơ sở có thể thực hiện đầy đủ các kỹ thuật điều trị hiếm muộn.

 Hiện tại, cả nước có 14 đơn vị thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm được thẩm định và cấp phép của Bộ Y tế.

Miền Bắc: có 5 đơn vị gồm Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Trung tâm Công nghệ phôi của Học viện Quân y 103, Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa

Miền Trung: Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế

Miền Nam:

– Tại TP.HCM: Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Hùng Vương, IVFAS (Bệnh viện An Sinh), IVF Vạn Hạnh (Bệnh viện Vạn Hạnh), Bệnh viện Phụ sản Quốc tế

– Tại  Bình Dương: Bệnh viện Phụ sản bán công Bình Dương

– Tại Cần Thơ: IVF Mekong (Bệnh viện Phụ sản quốc tế Phương Châu), Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ.

Những trường hợp chống chỉ định điều trị vô sinh

Hầu như không có chống chỉ định của điều trị vô sinh. Tuy nhiên, điều trị vô sinh sẽ không được thực hiện cho các trường hợp sau đây:

– Người phụ nữ có chống chỉ định mang thai và sanh đẻ như các trường hợp có bệnh lý tim nặng, các bệnh ung thư, bệnh tâm thần,…

– Những trường hợp không thỏa mãn các qui định thuộc Nghị định của Chính phủ về Sinh con theo phương pháp khoa học như: phụ nữ > 45 tuổi cần xin trứng để điều trị, phụ nữ không có tử cung hay dị dạng tử cung không thể mang thai cần mang thai hộ,.…

Theo PNO

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống