Home » Người lớn » Ung thư nội mạc tử cung

Tử cung (hay còn gọi là dạ con) là một bộ phận của hệ thống sinh dục nữ. Đó là một cơ quan rỗng hình quả lê, có chức năng nuôi dưỡng và bảo vệ thai nhi. 

 Trong chậu hông, tử cung nằm ở giữa bàng quang và trực tràng. Tử cung có 3 phần: cổ tử cung hình trụ hẹp nằm ở phía dưới tiếp giáp với âm đạo, thân tử cung hình nón nằm ở giữa và đáy tử cung có hình vòm nằm ở phía trên. Hai bên đáy tử cung có 2 vòi trứng là con đường thông thương giữa 2 buồng trứng với tử cung. Thành tử cung có 2 lớp: phía trong là lớp màng mỏng goi là lớp nội mạc tử cung, lớp ngoài rất dầy gọi là lớp cơ tử cung.

Đối với những phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, hằng tháng, lớp nội mạc tử cung dầy lên để chuẩn bị đón nhận trứng được thụ thai về làm tổ ở đó. Nếu người phụ nữ không có thai, lớp nội mạc tử cung sẽ bong ra tạo nên hiện tượng kinh nguyệt.

 

Các yếu tố nguy cơ gây ung thư nội mạc tử cung

Hiện tại khoa học vẫn chưa biết chính xác nguyên nhân của ung thư nội mạc tử cung, nhưng có một điều chắc chắn là đây không phải là bệnh lây truyền từ người này sang người khác. Các nhà khoa học cũng đã phát hiện ra một số yếu tố nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung, đó là những yếu tố mà nếu có, người phụ nữ sẽ có nhiều khả năng (nhưng không phải chắc chắn) mắc phải căn bệnh này. Các yếu tố nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung gồm có:

  • Tuổi: ung thư nội mạc tử cung xuất hiện hầu hết ở những người trên 50 tuổi
  • Quá sản nội mạc tử cung: sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư nôị mạc tử cung
  • Điều trị nội tiết tố thay thế: đây là phương pháp điều trị để chống loãng xương, điều chỉnh các rối loạn do mãn kinh, phòng một số bệnh tim mạch. Các bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này với liều cao trong một thời gian dài sẽ tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung.
  • Béo phì: sự tổng hợp estrogen của cơ thể diễn ra một phần tại tổ chức mỡ. Người béo phì sẽ có hàm lượng estrogen cao trong cơ thể, và đó là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung. Nguy cơ cũng tăng ở những người mắc bệnh cao huyết áp hay đái tháo đường.
  • Tamoxifen: những phụ nữ dùng tamoxifen để phòng ngừa hay điều trị ung thư vú sẽ tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung. Điều này là do những tác động tương tự estrogen của thuốc trên tử cung. Trên thực tế lợi ích do thuốc đem lại lớn hơn nhiều nguy cơ nên tamoxifen vẫn được chỉ định rộng rãi trong điều trị ung thư vú, tuy nhiên bệnh nhân nên trao đổi kỹ với bác sỹ trước khi sử dụng và phải được theo dõi cẩn thận.
  • Chủng tộc: phụ nữ da trắng có xu hướng mắc nhiều hơn phụ nữ da đen.
  • Ung thư đại – trực tràng:  những phụ nữ bị hoặc gia đình có người bị ung thư đại – trực tràng có nguy cơ cao bị ung thư nội mạc tử cung.
  • Một số yếu tố khác là không sinh đẻ, dậy thì sớm, mãn kinh muộn cũng sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung.

Những phụ nữ có nguy cơ cao nên gặp bác sỹ để biết cách nhận ra các triệu chứng sớm của bệnh cũng như thời gian theo dõi định kỳ.

 

Triệu chứng

Ung thư nội mạc tử cung thường xuất hiện sau tuổi mãn kinh với triệu chứng phổ biến nhất là ra máu âm đạo bất thường.  Chảy máu lúc đầu dưới dạng loãng có những vệt máu sau đó số lượng máu sẽ tăng dần. Không nên chủ quan coi đây là 1 phần của kinh nguyệt mà nên đi khám ngay. Người phụ nữ nên đi khám nếu thấy xuất hiện 1 trong số các triệu chứng sau:

  • Chảy dịch, chảy máu âm đạo bất thường
  • Đi tiểu khó hoặc đau
  • Đau khi giao hợp
  • Đau vùng chậu hông

Những triệu chứng này cũng có thể do một số bệnh khác ít nguy hiểm hơn gây ra, nhưng nên đi khám vì chỉ có bác sỹ mới có kết luận chính xác.

Chẩn đoán

Nếu 1 phụ nữ có những biểu hiện gợi ý đến ung thư nội mạc tử cung, bác sỹ sẽ khám xét cẩn thận và có thể yêu cầu làm xét nghiệm kiểm tra máu và nước tiểu. Dưới đây là các biện pháp khám và xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán:

– Khám khung chậu để kiểm tra âm đạo, tử cung bàng quang và trực tràng. Bác sỹ sẽ sờ nắn để phát hiện khối u hoặc những thay đổi về hình dạng, kích thước nếu có. Để có thể quan sát phần trên của âm đạo và cổ tử cung, bác sỹ sẽ đưa một dụng cụ gọi là mỏ vịt vào trong âm đạo

– Siêu âm qua đường âm đạo hoặc qua thành bụng: Nếu phát hiện lớp nội mạc tử cung dầy, bác sỹ có thể sẽ sinh thiết.

– Sinh thiết: Bác sỹ lấy ra một chút nội mạc tử cung làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý để tìm ung thư hay các bệnh khác. Thông thường, bác sỹ phải nong cổ tử cụng và nạo buồng tử cung.

 

Xếp giai đoạn

Sau khi đã chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung, bác sỹ cần phải đánh giá giai đoạn bệnh để có thể điều trị thích hợp. Đây là quá trình xem xét cẩn thận xem bệnh có lan tràn đến cơ quan khác hay không, và nếu có thì là cơ quan nào. Bác sỹ có thể yêu cầu làm các xét nghiệm máu, nước tiểu, chụp phim X quang, soi trực tràng…

Bệnh được chia làm 4 giai đoạn tuỳ thuộc vào mức độ lan tràn của tế bào ung thư.

 

Điều trị

Khi được chẩn đoán là ung thư nội mạc tử cung, người bệnh thường lo sợ, mất bình tĩnh và bối rối, bên cạnh đó kế hoạch điều trị lại phức tạp, vì vậy khi trao đổi với bác sỹ về kế hoạch điều trị nên có phương tiện để ghi lại những ý kiến của bác sỹ hoặc có người thân đi cùng.

Hầu hết các bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật, một số được điều trị bằng tia xạ      (còn gọi là xạ trị), một số được điều trị bằng nội tiết hoặc điều trị hoá chất, một số lại được điều trị phối hợp các phương pháp này.

 

Phẫu thuật: thường cần cắt bỏ tử cung, buồng  trứng và vòi trứng hai bên, lấy đi các hạch bạch huyết để kiểm tra xem ung thư đã lan đến hạch hay chưa. Nếu ung thư chỉ giới hạn ở lớp nội mạc tử cung , bệnh nhân sẽ không cần điều trị gì thêm.

Điều trị tia xạ: là phương pháp sử dụng tia phóng xạ để tiêu diệt tế bào ung thư. Giống như phẫu thuật, đây là phương pháp điều trị tại chỗ nghĩa là chỉ tác động đến những tế bào ở trong vùng điều trị. Có 2 hình thức điều trị tia xạ:

– Xạ ngoài: sử dụng một máy phát tia lớn ở ngoài cơ thể để chiếu tia vào vùng điều trị. Bệnh nhân thường được điều trị 5 ngày mỗi tuần trong vòng vài tháng. Có thể bệnh nhân chỉ cần điều trị ngoại trú mà không phải nằm viện.

– Xạ trong: sử dụng một ống nhỏ chứa chất phóng xạ đưa vào âm đạo và lưu ở đó trong vài ngày. Bệnh nhân sẽ phải nằm viện và hạn chế sự thăm viếng trong những ngày điều trị.

Điều trị nội tiết: là phương pháp dùng các thuốc để ngăn chặn các tế bào ung thư tiếp xúc với các nội tiết tố mà chúng cần có để phát triển. Trước khi điều trị nội tiết, bác sỹ sẽ yêu cầu làm xét nghiệm về nội tiết để biết được bệnh nhân có khả năng đáp ứng với phương pháp điều trị này hay không. Đây là phương pháp điều trị toàn thân, được chỉ định cho những bệnh nhân không mổ được, đã di căn hoặc tái phát sau điều trị.

Điều trị hoá chất: là phương pháp dùng thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư. Đây cũng là phương pháp toàn thân, thường dùng khi bệnh di căn xa.

Các tác dụng phụ có thể gặp do điều trị:

Phẫu thuật: Bệnh nhân thường đau và cảm giác rất mệt mỏi sau phẫu thuật. Thời gian để phục hồi thường kéo dài 4-8 tuần sau phẫu thuật. Một số bệnh nhân sẽ xuất hiện buồn nôn, nôn hay các biểu hiện về tiêu hoá khác. Cần tuân thủ chế độ ăn chuyển dần từ lỏng sang đặc.

Do mổ cắt tử cung và buồng trứng 2 bên nên bệnh nhân sẽ không còn kinh nguyệt, không có khả năng có thai và có các biểu hiện của mãn kinh. Tuy nhiên không nên dùng nội tiết tố thay thế để điều chỉnh các triệu chứng của mãn kinh vì như trên đã nêu, đây là 1 yếu tố nguy cơ.

Điều trị tia xạ: Các tác dụng phụ tuỳ thuộc vào liều xạ và vùng được chiếu xạ. Các biểu hiện thông thường là đỏ da, khô da, rụng lông vùng chiếu xạ, chán ăn và mệt mỏi. Một số bệnh nhân có biểu hiện khô, kích thích nóng rát âm đạo. Tia xạ cũng có thể gây nên một số rối loạn về đại, tiểu tiện.

Điều trị nội tiết: Có thể gây ra các biểu hiện ứ nước trong cơ thể, tăng cảm giác ăn ngon, lên cân.

Điều trị hoá chất: Các tác dụng phụ thường gặp là buồn nôn và nôn, ăn không ngon, ỉa chảy, mệt mỏi, rụng tóc, xạm da và móng. Một số thuốc làm bệnh nhân tê và cảm giác kim châm ở bàn tay bàn chân, đau đầu. Một số thuốc gây độc với thận nên khi dùng các thuốc này bệnh nhân cần truyền nhiều dịch.

Vấn đề dinh dưỡng

Bệnh nhân cần ăn uống đầy đủ trong quá trình điều trị để giữ được sức khoẻ, giúp cho quá trình liền vết mổ diễ ra thuận lợi.

Theo dõi sau điều trị

Theo dõi sau điều trị là rất quan trọng trong điều trị ung thư nói chung và ung thư nội mạc tử cung nói riêng. Nó giúp cho việc phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề mới phát sinh. Mỗi lần đến kiểm tra, bệnh nhân sẽ được khám lâm sàng bao gồm cả thăm khám khung chậu, chụp phim X quang và làm các xét nghiệm khác.

Theo BSGĐ.org

4 Responses to “Ung thư nội mạc tử cung”

  1. Nguyễn Thị Cần 09.11.2010

    Thư viện gia đình tư vấn giúp tôi.

    Tôi hiện nay đã 42 tuổi. Mấy tháng vừa qua tôi bị rong kinh ( Sau chu kỳ kinh thì có dịch màu nâu, đôi lúc có màu đỏ – Dịch rất ít nhưng kéo dài khoảng 10 ngày). Tôi đi siêu âm ở BV huyện thì BS bảo có u nang buồng trứng và cho tôi uống 2 hộp Nga phụ khang. Khi uống hết mà kinh nguyệt vẫn kéo dài như trước. Tôi đã đến BV Phụ sản Trung Ương. Bác sĩ cho tôi làm xét nghiệm HCG ( -); Siêu âm: Kết quả bình thường. BS đã cho tôi đơn thuốc:
    1/ Dasrocef ( Cefpodoxime 200mg ) – 10 viên
    2/ Transamin ( Tranexamicacid 500mg) – 10 viên
    3/ Marvelon Tab 21s ( Desogestrel + Ethinylestradiol) 150mcg – 21 v.
    Tôi đã uống và sau khoảng 4 ngày là hết kinh nguyệt. Nhưng 5 ngày sau tôi lại có kinh và lại rong kinh đến 20 ngày.
    Ngày 6/11/2010, tôi lại đến phòng khám của Thạc Sĩ Lê Thị Phương Lan ( P. GĐ BVC). Qua thăm khám:
    – Rong huyết 20 ngày, không đau bụng
    – Â Đ dịch nồng, rất hôi
    – Chlamdia ( – )
    – Tháo vòng.
    BS Lan đã cho tôi thuốc uống như sau:
    1/ Zinat 500mg – 10viên
    2/ Doxycyclin 100mg – 20 viên
    – Nếu tôi uống thuốc mà vẫn rong kinh thì tôi muốn BS tư vấn xem tôi nên đi đến BV nào khám để có kết quả cao nhất.
    – Nếu tôi uống thuốc mà không rong kinh nữa thì có cần phải kiểm tra lại không?
    Tôi cũng nhờ BS giúp: Hiện nay, tôi còn đang điều trị tại BV Nội tiết vì tôi đang điều trị sau mổ cắt bướu thòng tuyến giáp. Việc này có ảnh hưởng gì đến rong kinh không?

    Trả lời
    • admin 09.11.2010

      Bạn đã hơi vội vàng khi lần đầu đến BS ở BV phụ sản TW khám và dùng thuốc chưa khỏi ngay, mà đã đi đến khám và chữa tại BS khác. Bạn đã đến BV Phụ sản Trung Ương là đã đúng địa chỉ, khi bạn khám ở đó lần đầu, khi chưa khỏi nên tiếp tục đến khám lại và điều trị, không phải bệnh này cứ dùng thuốc là khỏi ngay. BS cần phải có quá trình theo dõi bệnh và cho phác đồ điều trị tiếp theo cho bạn. Khi bạn đến BV để điều trị thì bạn nên tuân thủ đúng như lời dặn của BS, nếu hiện tại bạn vẫn bị rong kinh nên đến khám lại tại BS ban đầu đã khám, nên để 1 BS theo dõi bệnh của mình.

      Trả lời
  2. Em năm nay 20 tuổi. Em bị rong kinh-rong huyết, đi khám tại bện viện phụ sản trung ương, kết quả như sau:
    Kích thước tử cung bình thường
    Âm vang cơ tử cung đồng nhất
    Niêm mạc tử cung: Trong BTC có ít dịch 7mm
    Buồng trứng trái nhiều nang nhỏ
    Buồng trứng phải nhiều nang nhỏ
    Định lượng beta-hCG 1.0 IU/L
    Sau đó bác sỹ kê đơn thuốc cho em.
    Em hỏi bác sỹ buồng trứng có nhiều nang nhỏ nghĩa là sao, lúc đó sắp hết giờ làm, bs vội để về, nên trả lời em là: rồi cứ biết thế đã. Em đi khám mà không biết mình bị rong kinh do nguyên nhân gì. Vậy cho em hỏi kết quả xét nghiệm của em nghĩa là sao? Và buồng trứng có nhiều nang nhỏ có phải là buồng trứng đa nang không? Vì em đọc trên mạng người bảo phải, người bảo không phải. Xin thư viện gia đình tư vấn giúp em. Em xin chân thành cảm ơn!

    Trả lời
    • admin 26.12.2010

      Buồng trứng đa nang chính là buồng trứng có nhiều nang nhỏ. Biểu hiện ban đầu của hội chứng buồng trứng đa nang là kinh nguyệt không đều, thường là thưa và kéo dài, máu kinh thất thường, ít. Estrogen tăng cao nhưng lại không có hiện tượng phóng noãn. Progesteron không được tiết ra cân đối với estrogen. Nội mạc tử cung dày lên mãi, mạch máu không tăng trưởng kịp, không đủ máu nuôi dưỡng nên bị hoại tử, bong ra từng mảng nhỏ, gây chảy máu dài ngày, gọi là rong kinh. Trường hợp này gọi là rong kinh do rối loạn hormon. Gần 70% các trường hợp rong kinh ở tuổi dậy thì là rong kinh do rối loạn hormon. Cũng có nhiều trường hợp rối loạn hormon khác gây rong kinh rong huyết ở người lớn tuổi (như rối loạn hormon liên quan đến thai nghén, rối loạn hormon tuổi mãn kinh). Rong kinh rong huyết còn có thể có một số nguyên nhân khác như nguyên nhân thực thể (polyp nội mạc tử cung, u xơ tử cung) hay nguyên nhân huyết học (rối loạn đông máu, thiếu men G6DP).

      Bạn nên dùng thuốc theo đơn kê của BS, khi dùng hết thuốc nên quay lại chính nơi đó để tiếp tục thăm khám và theo dõi, chữa bệnh này bạn nên quay lại BS đó không nên thay đổi BS khi thấy chưa khỏi, làm như vậy vì BS này đang theo dõi từ đầu tiện lợi cho việc khám và chữa bệnh.

      Trả lời
Kỹ năng cuộc sống