Home » Người lớn » Chẩn đoán và điều trị ung thư tuyến tiền liệt

Theo Hiêp hội phòng chống ung thư Hoa Kỳ khuyến cáo thì những người từ 50 tuổi trở lên nên đi thăm khám (thăm trực tràng, xét nghiệm PSA) mỗi năm một lần.

Phát hiện sớm

Đối với người có nguy cơ cao (Mỹ gốc Phi, có bố, anh em trai bị UTTTL ở lứa tuổi dưới 65 thì nên bắt đầu khám từ năm 45 tuổi)

– Xét nghiệm PSA (Kháng nguyên đặc hiệu UTTTL)  

PSA là chất bình thường được sản xuất bởi tuyến tiền liệt, có chủ yếu trong tinh dịch và một lượng rất nhỏ ở trong máu với nồng độ dưới 4 ng/ml. Khi bị UTTTL thì nồng độ PSA tăng cao.

Một số yếu tố khác làm thay đổ nồng độ PSA:

+ U phì đại lành tính tuyến tiền liệt

+ Viêm tuyến tiền liệt

+ Ngay sau khi xuất tinh cũng làm tăng nhẹ

Sử dụng một số thuốc như Finasteride có thể làm giảm nồng độ PSA một cách giả tạo

Thầy thuốc có thể sờ nắn tuyến tiền liệt phát hiện những thay đổi tại chỗ của tuyến (khối rắn cứng) biện pháp này rất hiệu quả, tốn ít thời gian, kinh tế giúp phát hiện các trường hợp UTTTL có nồng độ PSA bình thường.
   Thăm trực tràng bằng tay phát hiện sớm UTTTL 

Chẩn đoán

– Triệu chứng

Giai đoạn sớm thường không có triệu chứng và thường chỉ dựa vào xét nghiệm PSA, thăm khám trực tràng.

Giai đoạn tiến triển, muộn có thể gây tiểu khó, tiểu nhiều lần trong ngày, đi tiểu ra máu, rối loạn cương dương.

Triệu chứng của di căn xa: Di căn xương hay gặp nhất gây đau xương và hạn chế vận động, đôi khi gây gãy xương bệnh lý.  

– Cận lâm sàng

Siêu âm nội soi qua đường trực tràng là phương pháp  có giá trị chẩn đoán chính xác hơn thăm trực tràng. Đây cũng là phương pháp cho phép đánh giá kích thước u cũng như định hướng cho sinh thiết qua kim một cách chính xác.

Chụp cắt lớp vi tính cho phép xác định di căn hạch chậu, mức độ xâm lấn tới tổ chức xung quanh u.

Chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể đánh giá chính xác hơn mức xâm lấn tổ chức xung quanh so với chụp cắt lớp vi tính.

Xạ hình xương là xét nghiệm cần thiết để đánh giá xem bệnh có di căn xa tới xương hay không? Xương là vị trí di căn rất hay gặp trong UTTTL.

Sinh thiết: có thể sinh thiết bằng kim hoặc bằng súng sinh thiết dưới sự hướng dẫn của siêu âm.

Chẩn đoán giai đoạn tuỳ theo mức độ lan rộng của khối u, di căn hạch và tình trạng di căn xa, ng­ười ta chia thành các giai đoạn 0, 1, 2, 3 và 4.

Điều trị

Phẫu thuật là phương pháp chính được áp dụng trong UTTTL, nhất là khi bệnh còn khu trú tại chỗ, các trường hợp bệnh ở giai đoạn sớm, chỉ cần phẫu thuật cắt u qua nội soi có thể chữa khỏi hoàn toàn căn bệnh này. Điều trị nội tiết đóng vai trò là phương pháp điều trị hỗ trợ nhằm giảm khả năng tái phát và kéo dài thời gian sống cho người bệnh. Điều trị hoá chất được áp dụng khi bệnh đã lan tràn xa hoặc tái phát, di căn sau điều trị bằng phẫu thuật và nội tiết. Một số trường hợp, người ta dùng các que có chứa tia phóng xạ (xạ trong) đưa vào vùng ung thư để diệt các tế bào ác tính thay cho phẫu thuật.

– Phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt triệt căn

Chỉ định cho UTTTL khu trú tại chỗ (T1,T2) có thể cắt qua đường sau xương mu hoặc qua đường tầng sinh môn. Gần đây có thể phẫu thuật cắt u qua nội soi đường niệu đạo.

– Điều trị tia xạ

Điều trị xạ ngoài hoặc điều trị xạ áp sát với lập trình của máy tính

Xạ trị áp sát trong UTTTL

– Điều trị nội tiết

Điều trị nội tiết nhằm mục đích loại bỏ các androgen, là yếu tố kích thích phát triển UTTTL. Các phương pháp điều trị này bao gồm:

Phẫu thuật cắt tinh hoàn hai bên

Cắt tinh hoàn bằng thuốc dùng các dẫn chất của LHRH (Zoladex)
 

Xạ trị áp sát trong UTTTL.

Dùng các thuốc kháng androgen: Flutamide

– Điều trị hóa chất

Hoá chất được dùng trong bệnh UTTTL đã thất bại với điều trị bằng nội tiết, hoặc khi bệnh tái phát, di căn xa.

– Điều trị triệu chứng và giảm đau

Khi bệnh đã ở giai đoạn quá muộn thì việc điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng được đưa lên hàng đầu. Các bác sĩ sẽ dùng các thuốc giảm đau từ nhẹ đến nặng theo các bậc thang khác nhau. Ngoài ra, một số biện pháp khác cũng được chỉ định như dùng các thuốc tăng tái tạo xương, tia xạ vào vùng đau để giảm triệu chứng…
   
Cắt tinh hoàn bằng thuốc dùng các dẫn chất của LHRH (Zoladex)

Tiên lượng bệnh

Các yếu tố tiên lượng bao gồm giai đoạn bệnh, độ mô học, nồng độ PSA, tuổi, thể trạng và các bệnh lý kèm theo. Nhìn chung, bệnh ở giai đoạn càng sớm thì khả năng chữa khỏi càng cao.

Bệnh ở giai đoạn khu trú, tỷ lệ sống thêm 5 năm gần 100%, khi đã có di căn xa tỷ lệ sống thêm 5 năm chỉ còn 34%.

Theo dõi

Các biện pháp theo dõi sau điều trị bao gồm khám lâm sàng, thăm trực tràng, định lượng PSA 6 tháng/lần, trong 5 năm đầu.  Sau 5 năm kiểm tra 1 năm /lần.

Xạ hình xương, CT Scanner, MRI khi PSA tăng, có dấu hiệu nghi ngờ tái phát

Theo BSGĐ.org

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống