Home » Người lớn » Bệnh Loãng Xương

1. Ðại cương:

Chúng ta còn nhớ trong sách quốc văn hóa giáo khoa thư thươœ xa xưa người ta thường tả hình dáng của bà ngoại hay bà nội như một cụ già vóc người nhỏ bé và lưng còng. Ðây là hình ảnh của  người phụ nữ có tuổi chịu hậu quả của bệnh loãng xương ở Việt Nam thời xa xưa ấy. Thế thì bệnh loãng xương là gì?

 

Người ta thường định nghĩa bệnh loãng xương như một bệnh của xương bị giảm khối lượng xương và chất lượng xương bị suy thoái, hậu quả  là xương dễ bị gẫy, nhất là ở xương đùi, xương sống và xương cổ tay. Nhiều người còn gọi bệnh loãng xương là bệnh xốp xương, nhưng có lẽ không nên gọi là bệnh mục xương, vì tên gọi này gợi lên  một hình ảnh của  bệnh lý quá nặng nề mà thực tế không đến nỗi như thế.

Bệnh loãng xương là một bệnh âm thầm không triệu chứng, rất thường xảy ra cho người Việt Nam và các dân tộc Á Châu khác. Khoảng 65% phụ nữ Việt Nam ở tuổi mãn kinh có tỷ trọng xương thấp, một yếu tố quan trọng của bệnh loãng xương. Ở Mỹ, trong số 1 triệu rưỡi người bị gãy xương do xốp xương thì có đến 1/5 trường hợp là người Á Châu, một tỷ lệ khá cao so với toàn dân chúng Mỹ, vì tổng số người Á Châu ở Mỹ chiếm một tỷ lệ không nhiều.

2. Những thay đổi xương theo từng tuổi tác của người ta:

Xương sống gồm có mô xương bao bọc bên ngoài và tuỷ xương chứa mỡ và tạo máu ở trong. Mô xương bao gồm mô liên kết là một loại mô đệm, được tẩm các chất vôi (calcium) và phosphate. Vì chứa nhiều chất calcium nên sự vận chuyển chất calcium  trong cơ thể người ta có một vai trò rất quan trọng để duy trì mô xương. Chất calcium  trong mô xương không phải cố định mà được thay đổi luôn luôn  bằng sự huỷ xương  và tạo xương xen kẽ nhau qua trung gian của tế bào tạo xương (cốt bào hay osteoblast) và tế bào huỷ xương (huỷ cốt bào hay osteoclast). Ở tuổi đang lớn, và vị thành niên, xương được tạo ra vượt quá mức  huỷ xương nên khối lượng xương ngày càng tăng cho đến tuổi 20. Từ 20 tuổi đến 35 tuổi, sự tạo xương và huỷ xương cân bằng nhau và khối lượng xương ít thay đổi. Từ 35 tuổi trở đi, khối lượng xương ngày càng giảm đi vì xương bị huỷ nhiều hơn xương được tạo ra, nhất là phụ nữ sau khi chấm dứt kinh nguyệt, sự huœy xương xảy ra nhanh hơn, làm khối lượng xương bị giảm, hay nói một cách khác, đưa đến bệnh loãng xương.

Có nhiều chất kích thích tố (hormones) tác động đến sự huỷ xương và tạo xương qua nhiều cơ chế phức tạp. Một số kích thích tố tăng trưởng  (growth factors) và nhất là sinh tố D thúc đẩy việc tạo xương. Ngược lại, nhiều kích thích tố khác ảnh hưởng đến sự huỷ xương như kích thích tố phó giáp trạng (parathyroid hormone) kích thích tế bào huỷ xương sinh sản và trưởng thành làm xương bị huỷ và mất calcium. Ở phụ nữ, kích thích tố nữ estrogen ảnh hưởng đến sự phát triển của tế bào tạo xương và ngăn cản hoạt động của tế bào huỷ xương, vì thế khi phụ nữ lúc trẻ không bị bệnh loãng xương, và đến tuổi mãn kinh, kích thích tố nữ estrogen bị suy yếu thình lình đã làm xương bị huỷ hoại nhanh chóng mất chất calcium đưa đến bệnh loãng xương như trên đã nói.

3. Nguyên nhân của bệnh loãng xương. Có phải bệnh loãng xương chỉ xảy ra ở phụ nữ  thôi?

Nguyên nhân thực sự của bệnh loãng xương không được biết rõ ràng nhưng có những yếu tố bất lợi (risk factors) làm cho người ta dễ bị bệnh loãng xương. Những yếu tố đó là: phụ nữ trên 50 tuổi (tuổi mãn kinh) – mãn kinh sớm trước 45 tuổi – ăn ít chất calcium có trong thức ăn – thiếu sinh tố D hay ít ra nắng (tia tử ngoại của ánh nắng kích thích sự thành lập của sinh tố D dưới da) – ít hoạt động – yếu tố di truyền trong gia đình – uống nhiều cà phê hay hút thuốc lá nghiện rượu.

Người Á Châu bao gồm người Việt Nam dễ bị bệnh loãng xương hơn dân tộc khác vì  ngoài những yếu tố vừa kể trên, người Á Châu còn có những đặc điểm dễ đưa đến bệnh loãng xương như có xương nhỏ – thường là ăn uống ít chất calcium, nhất là hay dị ứng với sữa vì thiếu men tiêu sữa (lactase) nên không uống sữa được, một nguồn cung cấp calcium đáng kể – thiếu vận động thể dục thể thao – và ít chịu nắng vì sợ bị đen.

Ngoài ra còn có những trường hợp khác đưa đến bệnh loãng xương khi dùng một số thuốc lâu dài và không có sự hướng dẫn của bác sĩ như thuốc có steroid như prednisone, thuốc chống động kinh, thuốc về kích thích tố tuyến giáp trạng (thyroid hormone), các thuốc giảm acid có aluminum.. hay một số bệnh kinh niên  như bệnh của tuyến giáp trạng (thyroid diseases), bệnh đường ruột làm rối loạn tiêu hoá, bệnh gan và tuỵ tạng…

Khi nói đến bệnh loãng xương, người ta thường nghĩ đây là bệnh của phụ nữ. Ðiều này cũng đúng nhưng không hẳn như vậy. Ở phái nam,  bệnh loãng xương xảy ra hiếm hơn, chỉ chiếm 10% tổng số trường hợp bị loãng xương nói chung. Lý do chính yếu là  kích thích tố nam testerone cũng ảnh hưởng đến sự tạo xương và khi người đàn ông có tuổi trên 50 tuổi kích thích tố nam giảm đi rất ít và từ từ so với sự giảm sút kích thích tố nữ estrogen nhanh chóng ở phụ nữ tuổi mãn kinh, và như thế sự mất xương ở đàn ông ít nhận thấy hơn. Những người đàn ông lớn tuổi bị bệnh loãng xương thường liên quan đến những trường hợp bị bệnh hay dùng một sốá  thuốc như đã nói trên, hay bị thiếu kích thích tố nam.

4. Triệu chứng của bệnh loãng xương. Có phải khi bị bệnh loãng xương người ta hay bị đau xương không?

Có nhiều người lầm tưởng  là bệnh loãng xương có triệu chứng đau xương. Ðây là điều ngộ nhận vì bệnh loãng xương chỉ xảy ra âm thầm cho đến lúc nào đó người bệnh bị gãy xương dễ dàng vì té ngã, lúc ấy mới biết bị bệnh loãng xương. Khi bị gãy xương sống, thường là xương sống bụng do bị té ngã hay không nữa, làm đốt xương sống bị sụp xuống, vừa mất chiều cao, vừa đè nén chung quanh làm co thắt bắp thịt dọc xương sống  làm cho người ta vừa đau, vừa bị gù, người thấp người lại. Chỉ lúc này người ta mới đau, và cái đau này do hậu quả  của xương bị gãy, chứ không do loãng xương.

Nói về gẫy xương của người có tuổi, nhất là phụ nữ, phần lớn có liên quan đến bệnh loãng xương. Càng bị loãng xương nặng, người ta càng dễ  gẫy xương nhiều khi chỉ do té ngã nhẹ thôi. Trong vòng 20 năm đầu sau khi mãn kinh, người ta hay gẫy xương sống dưới dạng gẫy sụp đốt sống rất đau và làm gù lưng, và gẫy  hai xương tay gần cổ tay  (gọi là gẫy xương Colles). Ở phụ nữ ngoài 70 và ở đàn ông, phần lớn bệnh loãng xương  có liên quan đến gẫy khớp háng, đầu trên xương tay, xương cẳng chân, xương chậu  và đầu dưới xương cẳng tay (xương radius, hay xương tay quay).

5. Làm thế nào để chẩn đoán bệnh loãng xương:

Tất cả những người nào có những yếu tố để đưa đến bệnh loãng xương như ở trên đã trình bày và phụ nữ trên 65 tuổi đều nên đi thử nghiệm  để chẩn đoán bệnh loãng xương và uống thuốc chữa bệnh. Nhiều người được chẩn đoán tình cờ khi chụp quang tuyến bình thường thấy dấu hiệu xương bị loãng nhưng chụp quang tuyến thường  không cho chẩn đoán chính xác. Vì thế muốn chẩn đoán chính xác, người ta phải được  chụp đặc biệt bằng một phương pháp gọi là DEXA là chữ viết tắt của “Dual-Energy X-ray Absotiometry” dùng để  đo tỷ trọng của xương. Phần lớn người ta đo xương sống  và xương đùi vì đây là những chỗ hay bị gãy nhất. Kỹ thuật  này cũng dùng tia quang tuyến (X-ray), nhưng nồng độ phóng xạ chỉ bằng 1/10 nồng độ phóng xạ của chụp hình phổi. Thường xương không để tia phóng xạ đi qua, khi bị xốp xương, tia phóng xạ có thể xuyên qua được phần nào, độ xuyên qua nhiều hay ít tuỳ mức độ của xương bị loãng. Người ta dùng máy ghi nhận mức độ tia quang tuyến xuyên qua xương bao nhiêu và kết quả được đưa vào máy điện tử để so sánh với kết quả đo được ở xương bình thường  của người 35-40 tuổi, gọi là T-score. Sau đây là bảng tóm lược kết quả DEXA và cách xử trí dựa vào sự phân loại của WHO  (World Health Organization)

Kết quả của đo tỷ trọng xương không những hướng dẫn sự trị liệu mà còn là yếu tố để theo dõi kết quả trị liệu cho bệnh nhân, nên bệnh nhân được cho chụp loãng xương mỗi hai năm một lần.

6. Cách chữa bệnh loãng xương như thế nào? Dùng Calcium có làm sạn thận không?

 Có nhiều loại thuốc để chữa bệnh loãng xương, thuốc thay đổi tuỳ theo tình trạng của người bệnh và phải chữa lâu dài mới có kết quả vì bệnh loãng xương cũng phải có thời gian lâu dài mới tạo thành bệnh. Những thuốc căn bản để chữa bệnh được kể sau đây:

  • Kích thích tố: Ở phụ nữ mãn kinh bị loãng xương, người ta có thể dùng kích thích tố nữ estrogen, chất này làm giảm độ mất chất Calcium của xương, tuy nhiên theo sự nghiên cứu  cách đây vài năm người ta thấy estrogen có làm giảm độ loãng xương nhưng không làm giảm tỷ lệ gẫy xương, và lại gia tăng bệnh tim mạch, ung thư vú và tử cung, nên hiện nay người ta bỏ không dùng estrogen trong mục đích này nữa. ƠŒ phái nam nếu bị giảm kích thích tố nam testosterone và bị loãng xương có thể dùng testorsterone được mà không có hại như phụ nữ dùng estrogen.
  • Bisphosphantes: thuốc này thường được biết đến  với tên Fosamax 70mg, hay Actonel 30mg, được dùng mỗi tuần một viên. Khi dùng thuốc, người ta không được nằm trong vòng 30 phút sau khi uống thuốc, để tránh thuốc trào lên thực quản làm viêm loét thực quản. Chính vì lý do này, nhiều người ngộ nhận và truyền miệng nhau là dùng thuốc phải đi bộ 30 phút. Ðiều này không đúng. Hiện nay người ta mới bào chế thuốc này phối hợp với sinh tố D cũng tiện dụng. Ngoài tác dụng phụ của thuốc là viêm thực quản, thuốc Bisphosponated còn có thể làm đau  cơ, đau khớp và đau xương từ nhẹ đến nặng và từ vài ngày đến cả năm, triệu chứng đau này sẽ hết ngay khi người ta bỏ thuốc.
  • Raloxifene: tên thương mại là Evista 60mg, uống mỗi ngày có tính chất của estrogen nhưng không làm tăng tỷ lệ ung thư tử cung và ung thư vú, làm giảm bệnh loãng xương và giảm tỷ lệ gẫy xương sống do loãng xương. Tøác dụng phụ của loại thuốc này là tăng độ tăng máu nên có thể đưa đến bệnh nghẽn tĩnh mạch, vì vậy uống thuốc này phải vận động thể dục thể thao đều đặn.
  • Sinh tố D và Calcium: Phụ nữ không kể tuổi tác nên duy trì mức độ sinh tố D và Calcium; đầy đủ độ ăn uống thức ăn  có chứa các chất này. Ở phụ nữõ trong tuổi mãn kinh, nên dùng Calcium hàng ngày, 1500mg mỗi ngày gồm 2 viên Calcium và một ly sữa lớn, khoảng 8oz (240ml) chứa gần 500gm calcium. Nhiều người ngại dùng calcium vì sợ bị sạn thận, điều này không đúng nếu không dùng quá nhiều calcium, trên 2500mg và nên uống nhiều nước. Tuy nhiên người nào đã có bệnh sạn thận và đường tiểu thì nên cẩn thận và phải tham khảo ý kiến của bác sĩ trong khi dùng  thuốc. Sinh tố D rất cần thiết  cho sự hấp thụ calcium qua ruột. Ở những vùng có nắng quanh năm thì có thể không cần đến sinh tố D nếu người ta thường xuyên ra nắng, vì nắng cho tia tử ngoại chiếu vào da giúp tổng hợp sinh tố D trong da. Khi người ta bị bệnh loãng xương nên dùng  sinh tố D từ 400 đến 1000 đơn vị (units) mỗi ngày. Sinh tố D và Calcium  rất hữu ích để đề phòng bệnh loãng xương và nghiên cứu  cho thấy dùng hai chất này đã giảm tỷ lệ bệnh gẫy xương do loãng xương  rất nhiều.

7. Kết luận:

Bệnh loãng xương là một bệnh rất phổ biến, nhất là phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh, nhưng lại là một tình trạng có thể tránh được phần nào nếu biết cách gìn giữ bằng cách ăn uống đầy đủ calcium, dùng  thuốc bổ calcium, sinh tố D, và vận động thể dục thể thao thường xuyên. Ðiều quan trọng  là phải thử nghiệm xem mình có bị loãng xương hay không để trị liệu và theo dõi đúng cách. Thuốc trị bệnh loãng xương có nhiều loại khác nhau, mỗi loại thuốc đều có  tác dụng phụ nào đó. Nên liều lượng và cách dùng phải tham khảo với ý kiến của các bác sĩ của mình trước khi dùng, như thế mới được kết quả tối đa. Vì khuôn khổ bài viết có hạn, nên chúng tôi không nêu những thức ăn nào có nồng độ calcium cao thấp, xin quý vị độc giả có thể hỏi thăm bác sĩ gia đình của mình  về các loại đồ ăn thức uống  nào cho nhiều calcium.

Theo Sống mạnh

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống