Home » Kinh nghiệm » Hậu quả do thói quen cắn môi và cách khắc phục

Những thói quen liên quan đến hoạt động của môi và các cấu trúc xung quanh được gọi là thói quen ở môi. Các thói quen này có thể gặp ở cả trẻ em và người lớn, bao gồm mút môi, cắn môi và liếm môi. Ở từng lứa tuổi, các thói quen này xuất hiện khác nhau và ảnh hưởng đến răng hàm cũng rất khác nhau.

Liếm môi và cắn môi

Cắn môi và liếm môi là một thói quen thường gặp ở cả người lớn và trẻ em. Thói quen này thường xảy ra lúc căng thẳng hoặc lo lắng và thậm chí không nhận biết được là mình đang cắn hay liếm môi. Trong hầu hết các trường hợp, hành động này là vô hại, tuy nhiên, một số người làm thường xuyên tới mức gây ra các tổn thương, thường thấy là môi khô, bong tróc và đau, có thể hình thành các vết loét và bội nhiễm. Hay gặp bệnh nhân cắn và liếm môi dưới hơn là môi trên, vì vậy tổn thương ở môi dưới thường nặng nề hơn. Mức độ các triệu chứng có thể từ rất nhẹ tới rất nặng. Những trường hợp bệnh nhân làm tổn thương môi trầm trọng thường là do có các vấn đề tâm lý. Cắn môi đột ngột cũng có thể là nguyên nhân gây ra các vết loét còn có tên gọi theo dân gian là nhiệt.

Cần có các biện pháp động viên và khen thưởng để trẻ quyết tâm từ bỏ các thói quen xấu

Làm thế nào khi mắc thói quen cắn môi?

Một số người có thể tự ngừng thói quen này khi họ nhận thức được nó và không cần điều trị gì, môi sẽ tự hồi phục khi thói quen chấm dứt. Với những người không thể tự từ bỏ thói quen một cách dễ dàng, nha sĩ có thể sử dụng các khí cụ hỗ trợ như lip bumper để bảo vệ môi. Ngoài ra, kem dưỡng môi giữ ẩm và kem steroid tại chỗ bôi khi môi bị viêm nhiễm có tác dụng hỗ trợ tổn thương mau hồi phục. Một số trường hợp thuốc an thần là cần thiết để ổn định tình trạng toàn thân.

Mút môi có thể gây lệch khớp cắn

Mút môi có thể là nguyên nhân tiên phát gây nên lệch lạc khớp cắn hoặc cũng có thể là thứ phát do vẩu chìa hàm trên hoặc bất đối xứng theo chiều trước sau. Thói quen mút môi có thể gây nên những sai lạc vĩnh viễn ở khớp cắn nếu trẻ duy trì thói quen này với mức độ trung bình nhưng liên tục và kéo dài. Trẻ có thể mút môi trên hoặc mút môi dưới gây ra những triệu chứng lâm sàng khác nhau, tuy nhiên thường gặp là trẻ mút môi dưới. Những thay đổi này xuất hiện ở cả răng sữa và răng vĩnh viễn.

Trẻ mút môi dưới có môi dưới nằm gọn giữa các răng cửa trên và dưới, in dấu răng cửa hàm trên lên môi dưới, tăng trương lực cơ vùng cằm. Thói quen này khó thay đổi và tạo ra những tổn thương hình bán nguyệt ở môi dưới. Tổn thương nứt nẻ và dễ bị bội nhiễm như chốc lở. Có thể gặp cắn hở vùng cửa (nhưng mức độ ít hơn rất nhiều so với trường hợp mút ngón tay). Răng cửa hàm trên ngả môi, răng cửa hàm dưới ngả lưỡi và mọc chen chúc, độ cắn chìa lớn; kém phát triển xương hàm dưới làm khuôn mặt lõm.

Trẻ có thói quen mút hoặc cắn môi trên thường kết hợp với đẩy hàm dưới ra trước gây nên khớp cắn ngược.

Để chẩn đoán thói quen mút môi cần thăm khám lâm sàng và hỏi bố mẹ, đặc biệt người chăm sóc trẻ. Trẻ thường mút môi lúc trẻ vô ý thức như trong lúc ngủ, khi tập trung học bài, nghe giảng hay xem phim, đọc truyện… Do vậy nha sĩ cần phải rất tinh tế khi quan sát trẻ. Ngay từ lúc trẻ ngồi đợi đến lượt khám hay lúc trẻ ngồi chơi, chúng ta cần quan sát trẻ đến nhìn thấy động tác mút môi của trẻ. Thời gian mút môi cũng như tần suất mút môi giúp cho nha sĩ tiên lượng việc tái giáo dục lại động tác của môi dễ hay khó.

Để bỏ thói quen mút môi

Luyện tập để bỏ thói quen hoặc can thiệp bằng khí cụ: lip bumper. Để điều trị có hiệu quả cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nha sĩ. Nha sĩ cần phải giải thích rõ cho trẻ và gia đình hiểu hậu quả của việc mút môi, vai trò của một bộ răng khỏe, đẹp để bản thân trẻ ý thức được rằng cần phải bỏ thói quen này. Nếu trẻ ý thức được và chấp nhận luyện tập cũng như chấp nhận đeo các khí cụ can thiệp thì việc điều trị sẽ có kết quả tốt, nếu không sẽ không đạt được kết quả như mong muốn. Nhiều trường hợp các cháu không hợp tác, ở nhà không chịu đeo các khí cụ, tự ý tháo bỏ hoặc cất giấu, nếu bố mẹ không để ý thì không phát hiện được. Do vậy gia đình cần phải quan tâm đến trẻ để kiểm soát cũng như động viên trẻ tự giác đeo hàm và không tiếp tục cắn môi. Nha sĩ cũng như bố mẹ cần có các biện pháp động viên và khen thưởng để trẻ quyết tâm từ bỏ các thói quen xấu.

ThS.  Võ Trương Như Ngọc

SK&ĐS

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống