Home » Kinh nghiệm » Bé phát triển như thế nào

Người bố đã tạo ra cơ thể cho trẻ nhỏ, nhưng chính người mẹ mới giúp cho cơ thể đó trở nên một con người.

Hành trình vào cuộc sống

Khi còn  trong bụng mẹ, ban đầu thai nhi chỉ là một cái trứng nhỏ của người mẹ đã kết hợp với tinh trùng của người cha, sau một cuộc tranh đua quyết liệt, từ 500 triệu tinh trùng khi bắt đầu đổ bộ ở âm đạo cho đến khi tiến được vào đến vòi dẫn trứng Fallopian của người mẹ, chỉ còn lại khoảng 100 con, và trong số đó chỉ có 10 dũng sĩ là còn đủ sức để tiến hành cuộc xâm nhập vào vỏ trứng. Cuối cùng, chỉ có một con ( hoặc 2 trong trường hợp sinh đôi)  có thể xâm nhập vào tương bào trong cùng của trứng. Ngay khi đó, trứng sẽ tiết ra một loại hóa chất, thanh toán sạch các con tinh trùng còn bám trên vỏ trứng… Như vậy, việc hình thành một mầm sống không phải là điều đơn giản, đó là điều mà chúng ta phải trân trọng.

Sau khi đã lọt vào trong trứng thì những chuỗi ADN (mã di truyền) của tinh trùng là sự góp phần của người bố trong việc quyết định thai nhi sẽ là gái hay trai. Những đặc tính khác chứa trong mã di truyền là chiều cao, màu da, mắt, lông, tóc và những đặc điểm riêng của nét mặt. Điều này cho thấy, chất lượng và số lượng của tinh trùng nếu yếu kém cũng là một trong những lý do quan trọng gây ra sự hiếm muộn hoặc những vấn đề về tâm lý đứa trẻ sau này.

Khoảng 3 ngày sau khi thụ tinh, trứng sẽ di chuyển từ từ xuống tử cung, đây là giai đoạn nguy hiểm nhất trong quá trình thụ thai. Sau khi đã lọt vào trong tử cung, trứng sẽ tìm cách bám chặt vào lớp lót ở phía trên của tử cung và ở đây, trứng dần dần phân chia thành nhiều tế bào. 8 ngày sau thụ tinh, phôi có khoảng 200 tế bào và tiết ra một chất nhầy để tuyên bố sự hiện diện của nó trong tử cung: Một con người mới đã xuất hiện trên cõi đời.

Có khá nhiều trường hợp mang thai ngoài tử cung với tỷ lệ cứ 70 người mang thai thì có một người có thai ngoài tử cung. Tình trạng nhiễm trùng đường sinh dục được xem là một trong những nguyên nhân. Ở những quốc gia kém phát triển thì việc mang thai ngoài tử cung thường dẫn đến những cái chết cho nhiều phụ nữ trẻ vì không được giải phẫu kịp thời.

Chỉ trong một thời gian ngắn bằng nguồn dinh dưỡng của người mẹ, bào thai đã phát triển với một tốc độ phi thường, từ một sinh vật dài khoảng 2 mm sau 3 tuần lễ mang thai, chỉ trong vòng hơn 8 tháng đã hình thành một em bé nặng trên 2kg.

Khi đến tuần lễ thứ 12, phôi phát triển thành thai nhi, tình trạng thai nghén đã đi vào ổn định, những thay đổi trong Hocmon giảm nhiều, tình trạng nôn ói cũng bớt đi, nguy cơ sẩy thai giảm thiểu và vai trò làm mẹ đã trở nên hiện thực.

Thai nhi bây giờ đã cân nặng được 13gram, chưa kể các cơ quan phụ xung quanh với hàng triệu tế bào đã được lên chương trình chính xác cho từng nhiệm vụ chuyên biệt sau này. Đến đây, trong niềm vui được làm mẹ, người  phụ nữ cần được thăm khám để kịp thời phát hiện ra những vấn đề về sức khỏe. Các bệnh gan, thận, tim có thể có những ảnh hưởng nhất định trên thai nhi, những vấn đề về di truyền cũng cần được lưu ý. Đặc biệt là vấn đề tuổi tác, mặc dù trên lý thuyết thì người phụ nữ đến 50 tuổi vẫn có thể sinh con, nhưng khi một người mẹ trên 35 tuổi thì những rủi ro về nhiễm sắc thể có thể đưa đến nguy cơ gia tăng những khiếm khuyết của thai nhi, nhất là với hội chứng Down. Một tình trạng khuyết tật ảnh hưởng nặng đến trí tuệ của đứa trẻ sau này, mà sau khi ra đời thì việc phục hồi trí năng để trở thành một trẻ bình thường gần như là điều không thể.

Thử nghiệm đơn giản để chẩn đoán hội chứng này cho thai nhi là chọc dò màng ối qua bụng để trích xuất một mẫu dịch nước ối và kiểm tra nhiễm sắc thể trong các tế bào thai nhi.

Một trong những yếu tố để đánh giá sự phát triển của bào thai là sự vận động, những vận động của bào thai thường xẩy ra rất sớm và đôi khi gây ra những cơn đau cho bà mẹ vì lâu lâu sẽ bị em bé “đạp” cho vài cú, và khi đó mẹ chỉ biết ôm bụng và xuống nước dỗ dành. Chúng ta đừng nghĩ rằng đây là chuyện làm cho vui, vì sự vuốt ve của mẹ và cả tư tưởng yêu thương mà mẹ dành cho con, sẽ giúp cho em bé sẽ thoải mái và nằm yên hơn. Còn ngược lại, những khó chịu, bực bội hay khi bà mẹ trở nên giận dữ vì một lý do nào đó, sẽ khiến cho em bé bất an hơn,“quậy” nhiều hơn và có thể để lại những tổn thương tâm lý sau khi ra đời.

Khi đã đủ thời gian trong bụng mẹ, thai nhi sẽ gửi đến người mẹ những tín hiệu cho biết việc muốn ra đời của mình. Chính những dấu hiệu này (các cơn đau âm ỷ hay đột ngột)  cùng với những lo lắng về sự đau đớn mà mình sẽ phải đối diện khi sinh (đau, bị tai biến khi sinh, bị băng huyết…) và sự hồi hộp không biết  đứa bé có giống như mình mong ước hay không, khiến cho nhiều người mẹ rất lo sợ, trong một cuộc điều tra trên 54 thai phụ, có đến 42% cho biết là rất sợ, 20% nói là sẽ không dám sinh con nữa, có bà còn thề: “Cho 10 cây vàng cũng không dám sinh nữa”. Do đó, việc nâng đỡ tâm lý cho người mẹ từ khi có thai, và nhất là khi chuẩn bị sinh nở là rất cần thiết. 72% thai phụ mong có người thân ở bên cạnh (48% mong là người chồng) khi sinh con. Điều này trong quá trình nghiên cứu người ta nhận thấy trong hầu hết các quốc gia (150 nền văn hóa khác nhau) đều chấp nhận và khuyến khích có bà mẹ, người thân hay bạn cùng phái có mặt ở bên cạnh thai phụ trong quá trình chuyển dạ. Tại các nước châu Âu, từ hơn 10 năm nay các ông chồng đã được phép có mặt ở bên vợ trong phòng sinh.

Những hỗ trợ tinh thần đó rất quan trọng, nó giúp cho sự chuyển dạ ngắn hơn, làm giảm bớt sự đau đớn và giảm số trẻ sơ sinh phải đưa vào phòng cấp cứu. Tuy nhiên, sau khi đã “vượt cạn” một cách an toàn, thì đa số sản phụ lại rơi vào một trạng thái u buồn sau sinh (Post partum blues) điều đó là bình thường nếu nó diễn ra trong một thời gian ngắn (từ 2-48giờ) và rồi tình yêu dành cho đứa con sẽ nhanh chóng thay thế, nhưng nếu nó kéo dài do những nguyên nhân từ thai nhi (bệnh tật, sinh non, có dị tật) hay đó là một đứa con không mong muốn (do mẹ bị lạm dụng, bỏ rơi hay ly thân) thì sẽ có những tác động xấu đến quan hệ mẹ con và ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ sau này.

Sau đó, nếu mọi chuyện bình thường thì khi nhận ra được đứa con của mình, người mẹ sẽ chuyển từ trạng thái buồn bã qua cảm giác vui mừng, khiến cho người mẹ sẽ vượt qua được sự mệt mỏi, đau đớn và nhất là tạo nên sự gắn bó với con, cả hai thuộc về nhau, có sản phụ nói:” Tôi ôm chặt con vào lòng, như sợ người ta sẽ lấy mất…tôi thấy mình và con có mối liên hệ rất rõ ràng…”

Sự gắn bó đó khiến mẹ quen dần với những đặc điểm của con, và con cũng dần dần bén hơi mẹ, thích mùi vị sữa mẹ, nhận ra hơi hám, tiếng nói, nhịp bước, khuôn mặt của người mẹ, và điều này đóng vai trò quan trọng cho sự thúc đẩy tiến trình phát triển của trẻ qua các phản ứng và vận động của cơ thể.

Các vận động của cơ thể có vai trò rất lớn trong quá trình phát triển tâm lý của trẻ. Trong những tháng cuối cùng trong bụng mẹ và kéo dài suốt năm đầu, những vận động  của trẻ chủ yếu là do sự chỉ đạo của tủy sống, thân não, thể lưới, vùng đồi thị, vùng dưới đồi và hệ viền của hệ thống thần kinh. Các vận động này chủ yếu là các phản xạ sinh lý nhằm để thông tin cho người mẹ về những nhu cầu của mình. Trong giai đoạn sơ sinh, bé sẽ quơ tay, đạp chân và la khóc để đòi ăn hay do bị nóng, lạnh hoặc  đau đớn.  Mối quan hệ đặc biệt giữa mẹ và con khiến cho người mẹ sẽ cảm nhận ngay được tiếng khóc của con mình ngay cả khi đang ngủ, trong khi những tiếng động khác, có khi lớn hơn vẫn không làm bà thức giấc. Với đôi chút kinh nghiệm, một người mẹ có thể biết được lúc nào bé khóc vì đói, hay vì lạnh để có những đáp ứng thích hợp. Bà đã học được ý nghĩa của những phản ứng của trẻ để thiết lập được mối tương giao chặt chẽ giữa mẹ và con. Mối tương giao này sẽ tạo nên cho trẻ cảm giác “an toàn” giúp trẻ  phát triển hài hòa về tâm sinh lý.

Chúng ta thường nghĩ rằng, trẻ sơ sinh là một sinh vật thụ động, cho gì ăn nấy, đặt đâu nằm đấy và chủ yếu là chỉ có những phản ứng mang tính sinh lý, đói thì khóc, lạnh cũng khóc, còn no thì ngủ khì. Nhưng thực ra, ngay từ khi lọt lòng mẹ, trẻ sơ sinh đã là một chủ thể có những khả năng rõ rệt về giác quan, có thể chủ động trong sự phát triển cũng như trong việc tạo ra mối quan hệ với bà mẹ. Hơn thế nữa, trẻ còn có khả năng khắc phục những hoàn cảnh khó khăn và thích nghi với môi trường xung quanh.

Trong quá trình phát triển, những tác động từ bên ngoài sẽ tạo ra cảm giác nơi trẻ, có nhiều loại cảm giác khác nhau. Từ trong nội tạng, đặc biệt là ở các bộ phận tiêu hóa xuất hiện những cảm giác gọi là nội cảm (intéro-ceptif), để phân biệt với những cảm giác xuất phát từ những sự tiếp xúc với môi trường bên ngoài thông qua các giác quan như mắt, tai, mũi…gọi là ngoại cảm (extérocetif), có nhiều người gọi ngoại cảm là khả năng cảm nhận đặc biệt của một số người trong việc tìm kiếm người mất tích hay dò tìm mạch nước… ta nên gọi đó là linh cảm (prémonition) thì đúng hơn. Ngoài ra, ở trẻ còn có một khả năng gọi là tự cảm  với nhiều cảm giác hỗn hợp, những phản ứng của trẻ là những phản ứng mơ hồ về những vận động của cơ thể nhưng đó vẫn là những vận động có tính chủ động, tích cực và đáp ứng thích hợp với những tác động từ bên ngoài. Đây là thời kỳ hòa mình với đồ vật và người tiếp xúc với trẻ, là giai đoạn kế tiếp của thời kỳ cộng sinh (symbiose) ở trong bụng mẹ. (proprioceptif), do những cảm nhận xuất phát từ những cơ khớp và tiền đình về những tư thế vận động của toàn thân và của từng bộ phận trên cơ thể. Trong giai đoạn sơ sinh thì nội cảm và tự cảm chiếm ưu thế, nhưng vẫn chưa có sự phân định rõ ràng

Các khả năng cảm nhận và vận động của trẻ đều liên quan đến tình trạng tỉnh thức của bé, khác với người lớn trẻ sơ sinh chưa có một nhịp điệu rõ rệt giữa thức và ngủ, mà là một chuỗi các trạng thái nối tiếp nhau:

Trạng thái ngủ sâu (1): Trẻ thở đều, không cử động ngoại trừ một vài chuyển động bất thần ở ngón tay, môi và mí mắt.

Trạng thái ngủ nông (2): Ngủ với sự chuyển động nhanh ở mắt, hơi thở nhanh và không đều, có những cử động cơ thể chủ yếu là ở mặt.

Trái thái ngủ lơ mơ (3): Mắt nhắm hay hé mở, nhìn lơ mơ, tay chân thỉnh thoảng nhúc nhích.

Trạng thái tỉnh thức thụ động (4): Trẻ mở mắt, yên lặng và bắt đầu chú ý xung quanh

Trạng thái tỉnh thức tích cực (5): Trẻ thức và hoạt động tích cực, ngọ nguậy không yên, đây là giai đoạn mà trẻ tiếp nhận tốt nhất sự chăm sóc của người mẹ.

Trạng thái tỉnh thức náo động (6): Nếu không nhận được sự quan tâm, trẻ có thể kêu khóc, vùng vẫy, mặt mày nhăn nhó…

Như vậy trẻ có 3 giai đoạn ngủ và 3 giai đoạn thức tỉnh, người mẹ cần nhận biết và chăm sóc đúng vào những trạng thái thích hợp từ khi trẻ tỉnh thức thụ động(4) đến khi bắt đầu chuyển sang tình trạng náo động (5) Các trạng thái này có những thời điểm xuất hiện và kết thúc khác nhau tùy từng trẻ, nên sự chăm sóc cũng cần mang tính cá biệt và phải dựa theo kinh nghiệm của người mẹ cũng như  sự đáp ứng của trẻ.

Chính khả năng đáp ứng của trẻ là cơ sở để cho người mẹ tạo ra những điều kiện thuận lợi, giúp trẻ tham gia một cách tích cực trong việc xây dựng năng lực bản thân. Chúng ta không nên bỏ qua những đáp ứng của trẻ và cũng không nên săn sóc thái quá, mà hãy để cho trẻ tự vận động trong một số trường hợp. Điều này  sẽ giúp trẻ phát triển tốt hơn. Những hiểu biết về tâm lý của trẻ sơ sinh sẽ giúp cho người mẹ không quá lo âu về trách nhiệm của mình, có sự mạnh dạn hơn trong việc trao đổi và thiết lập mối quan hệ với trẻ, từ đó dần dần sẽ đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng của đứa con.

Trong trường hợp trẻ đã có một số khiếm khuyết trong quá trình phát triển, những hiểu biết về tâm lý của trẻ sẽ giúp người mẹ tìm ra những giải pháp thích ứng, giúp trẻ vượt qua những trở ngại do sự hạn chế về khả năng của mình.

CvTL Lê Khanh (  trích trong: Giáo dục trẻ có  nhu cầu đặc biệt)

tamlytreem.page.tl

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống