Home » Tủ thuốc » Thuốc trừ gió lạnh

Thuốc trừ gió lạnh phần lớn vị cay tính ôn, chất cay có thể trừ gió, tính ôn có thể khử lạnh, cho nên chủ yếu có công hiệu trừ gió lạnh khử tà từ bề ngoài cơ thể. Chủ yếu chữa trị các chứng do cảm gió lạnh gây nên như: Phát sốt sợ lạnh, không ra mồ hôi hoặc ra mồ hôi không thông suốt, đau đầu, đau người, ngạt mũi, sổ mũi, không khát nước, rêu lưỡi mỏng mầu trắng, mạch nổi và mạch gấp v.v. Một số thuốc trừ gió lạnh lần lượt có cả công hiệu trừ gió, trị ngứa, giảm đau, chữa ho và trị hen xuyễn, lợi nước tiểu, tiêu sưng tấy, trị viêm loét mụn nhọt v.v, đồng thời có thể trị ngứa ngáy do sởi gió gây nên, phong thấp, tê thấp, hen xuyễn cũng như các chứng thủy thũng và mụn nhọt xảy ra lúc đầu kèm theo chứng cảm gió lạnh.

Ma Hoàng: Vị cay, hơi đắng, tính ôn, quy kinh lạc phổi và bàng quang, gồm ba công hiệu chữa trị chủ yếu: Một là toát mồ hôi giải biểu, thích hợp chữa trị các chứng cảm gió lạnh, không ra mồ hôi, trường hợp này thường phối chế với Quế Chi. Hai là tuyên phổi trị hen xuyễn, thích hợp chữa trị chứng bị ho, hen xuyễn bởi khí phổi ùn tắc gây nên, trường hợp này thường phối chế với Hạnh Nhân. Ba là lợi nước tiêu sưng tấy, thích hợp chữa trị chứng thủy thũng.

Cách dùng và liều lượng: Dùng Ma Hoàng sắc nước uống, mỗi lần từ 2-9 gam. Trường hợp toát mồ hôi giải biểu nên dùng Ma Hoàng sống, chữa ho trị hen xuyễn phần lớn dùng Ma Hoàng sao.

Điều cần phải lưu ý là: Ma Hoàng có công hiệu mạnh về toát mồ hôi và tuyên phổi, những người cơ thể suy nhược tự ra mồ hôi, âm hư ra mồ hôi trộm, phổi hư, thận hư, hen xuyễn đều nên thận trọng khi sử dụng.

Quế Chi: Vị cay, vị cam, tính ôn, quy kinh lạc tim, phổi và bàng quang, gồm ba công hiệu chữa trị chủ yếu. Một là toát mồ hôi làm dịu chứng đau bắp cơ do cảm gió lạnh gây nên. Trường hợp chứng thực không ra mồ hôi thường dùng chung với Ma Hoàng, chứng hư ra mồ hôi thì phối chế với Bạch Thược. Hai là ôn thông kinh lạc và mạch máu, thích hợp chữa trị chứng đau do hàn tụ huyết ứ gây nên. Ba là trợ dương tiêu khí, thích hợp chữa trị các chứng tim đập nhanh, đờm loãng, tích thủy, thường hay dùng chung với Phục Linh, Trư Linh, Trạch Tả và Bạch Thuật.

Cách dùng và liều lượng: Dùng Quế Chi sắc nước uống, mỗi lần từ 3-9 gam.

Điều cần phải lưu ý là: Quế Chi vị cay, tính ôn, trợ nhiệt, thương âm, động huyết, những người cảm gió phát sốt, âm hư hỏa vượng, máu nóng, phụ nữ có thai, lượng kinh nguyệt quá nhiều đều không nên dùng Quế Chi.

Ma Hoàng và Quế Chi đều vị cay, tính ôn, quy kinh lạc phổi và bàng quang, hai vị thuốc này đều có công hiệu toát mồ hôi để đạt mục đích giải biểu, có thể chữa trị các chứng như cảm gió lạnh, sợ lạnh, phát sốt, đau đầu, đau người, không ra mồ hôi, mạch nổi và mạch gấp v.v, hai vị thuốc này thường xuyên dùng chung với nhau .

Điều hơi khác là, Ma Hoàng vị cay, vị đắng, tính tán, tuyên tiết, ôn thông, chủ yếu tuyên phổi, mở ra kẽ hở giữa nếp nhăn da với bắp cơ dưới da, để đạt mục đích thông khí, toát mồ hôi và giải biểu, chủ yếu thích hợp chữa trị các chứng cảm gió lạnh, không toát mồ hôi. Bên cạnh đó, Ma Hoàng còn có công hiệu nổi bật về tuyên phổi, trị hen xuyễn, lợi thủy giảm sưng, cho nên thường dùng trong chữa ho, trị hen xuyễn bởi khí phổi không thông gây nên, là vị thuốc quan trọng chữa trị chứng ho, hen xuyễn do khí phổi ùn tắc gây nên. Ngoài ra, vì Ma Hoàng có công hiệu khử hàn thông tắc, cho nên cũng có thể chữa trị các chứng cảm gió lạnh, âm khí nặng, đờm đặc v.v.

Quế Chi quy kinh lạc tim, vị cay, vị cam, tính ôn dịu, có công hiệu nổi bật về kích thích tuần hoàn, giữ dương, toát mồ hôi, làm dịu chứng đau bắp cơ, công hiệu thúc đẩy ra mồ hôi của Quế Chi dịu hơn Ma Hoàng, cho nên bất cứ là trường hợp ra mồ hôi hay là không có mồ hôi khi cảm gió lạnh đều có thể dùng Quế Chi .

Trong khi đó, Quế Chi lại có thể thông kinh lạc và mạch máu một cách êm dịu, trợ dương tiêu khí, vì thế cũng thường dùng để chữa trị các chứng đau do hàn tụ huyết ứ gây nên, ví dụ như dương khí ngực suy yếu, tim mạch ùn tắc, nhức ngực, đau tim, trung vị hư hàn, lạnh bụng, đau bụng, phụ nữ kinh nguyệt không đều, tắc kinh, đau bụng khi hành kinh, đau bụng sau khi sinh nở, đau bả vai, chóng mặt, hồi hộp, bị ho do nước và thấp khí ngừng trệ bên trong cơ thể gây nên, khí bàng quang không thông hành, thủy thũng, nước tiểu không thông, tim dương suy nhược, mạch máu không thông dẫn đến tim đập nhanh, tắc mạch v.v.

Tía Tô: Vị cay, tính ôn, quy kinh lạc phổi và tỳ, gồm ba công hiệu chữa trị chủ yếu: Một là giải biểu tán hàn, thích hợp chữa trị chứng cảm gió lạnh. Trường hợp cảm gió lạnh kèm theo chứng tắc khí, thường dùng chung với Phụ Hương, Trần Bì, trường hợp kèm theo chứng đờm nhiều, thường phối chế với Hạnh Nhân và Quất Ngạnh tức cuống cam quýt. Hai là hành khí khoan trung, thích hợp chữa trị tỳ, vị tắc khí, tức ngực, buồn nôn. Ba là giải độc cá và cua, thích hợp chữa trị chứng đau bụng, bị nôn, ỉa chảy bởi ngộ độc sau khi ăn cá hoặc ăn cua.

Cách dùng và liều lượng: Dùng Tía Tô sắc nước uống, mỗi lần từ 5-9 gam, không nên sắc trong thời gian quá lâu.

Gừng tươi: Vị cay, tính ôn, quy kinh lạc phổi, tỳ và dạ dày, gồm bốn công hiệu chữa trị chủ yếu. Một là giải biểu tán hàn, thích hợp chữa trị chứng cảm gió lạnh. Hai là ôn trung trị nôn, thích hợp chữa trị chứng nôn bởi vị hàn gây nên, trường hợp này thường dùng chung với Bán Hạ. Ba là ôn phổi trị ho, thích hợp chữa trị chứng ho bởi phổi hàn gây nên. Bốn là giải độc, thích hợp chữa trị chứng ngộ độc Bán Hạ sống, Nam Tinh sống cũng như ngộ độc cá, cua v.v.


Cách dùng và liều lượng: Dùng Gừng tươi sắc nước uống, mỗi lần từ 3-9 gam, hoặc giã nước uống.

Điều cần phải lưu ý là: Gừng tươi trợ hỏa thương âm, cho nên những người nóng nhiệt, âm hư, nội nhiệt kiêng dùng .

http://Thuviengiadinh.com (Theo Cri)

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống