Home » Phong tục » Lễ cưới với truyền thống cưới xin của người Tày – Nùng tại Cao Bằng

(Thuviengiadinh.com) – Đối với những người dân tộc Tày – Nùng tại Cao Bằng, trong việc hôn nhân không chỉ đơn giản là sự kết duyên của đôi lứa mà còn là nét đẹp truyền thống đáng được gìn giữ. Đó là nét đẹp của cộng đồng, của bản sắc dân tộc quý báu.

dam cuoi nguoi dan toc

Ảnh minh họa (internet)

Đã từ lâu trong việc kết hôn đôi lứa của người Tày – Nùng tại Cao Bằng đều do hai bên tự tìm hiểu lẫn nhau. Thế nhưng việc “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” dường như vẫn được coi trọng hơn. Giờ đây khi đất nước phát triển hơn thì mọi hủ tục đều được loại bỏ và chỉ giữ lại những nét đẹp truyền thống từ xa xưa của người dân.

Nét đẹp trước ngày cưới

Trước khi hai người chính thức trở thành vợ chồng thì việc đầu tiên cần làm của bên nhà trai đó chính là lấy thông tin về giờ, ngày, tháng và năm sinh của cô gái và cần biết lộc mệnh của cô gái đó ra sao. Nếu bên nhà gái đồng ý cho kết hôn thì sẽ viết thông tin đó của cô gái lên trên một tờ giấy màu hồng hoặc đỏ rồi gửi lại cho bên nhà trai, việc xem cặp đôi đó có hợp nhau hay không sẽ do nhà trai đi xem duyên của đôi trai gái đó. Nếu mọi việc đều tốt đẹp thì nhà trai sẽ có lễ “dạm ngõ” đến với nhà gái. Lễ vật để mang sang bên nhà cô gái thường có những lễ sau: Gà trống thiến, thịt lợn và rượu nếp. Cả hai bên gia đình bàn bạc và cùng đồng ý cho đôi bạn trẻ kết hôn, lúc này mới bắt đầu lễ “ăn hỏi”. Về phần lễ vật cần những điều kiện sau:

– 1 mâm xôi đầy

– 1 con gà trống thiến

– Vài chục cặp bánh giày

– Rượu nếp

Cùng với ngày ăn hỏi đó, cả hai bên gia đình sẽ cùng nhau bàn bạc và đưa ra quyết định về lễ vật cưới, ngày cưới đẹp nhất cho đôi bạn trẻ (Người dân ở đây còn gọi là thủ tục “thách cưới”. Thường người dân dân tộc Tày – Nùng có các lễ vật thách cưới như sau:

– Tiền dẫn cưới (tiền thách cưới)

– Một con lợn (Tùy yêu cầu của gia đình và phải là lợn sống mang đến)

– Bánh giày

– Bánh tét

– Gà trống thiến

– Gánh xôi

– Đường phèn và trầu cau là điều không thể thiếu.

– Ngoài ra trong việc trả ơn mẹ đã có công nuôi dưỡng cô gái thì chàng trai phải mang vải chưa nhuộm (rằm khấu) , được dệt bằng tay mang tặng cho mẹ vợ tương lai.

Trong ngày lễ ăn hỏi, cả chàng trai và cô gái đều không phải đi tránh mặt, không được phép ở nhà để hai bên gia đình bàn chuyện cưới hỏi. Nếu hai gia đình đều đồng thuận cho phép đôi trai gái lên vợ thành chồng của nhau thì sẽ tiến hành mời bà con họ hàng đến chung vui và ra mắt. Khách mời phải nhận được lời mời trước 7 ngày. Nhà trai cần đưa đủ lễ cho nhà gái mới được tổ chức kết hôn và đón cô dâu về.

Nét đẹp trong ngày cưới

Quà mừng của những người đến dự dám cưới là: Gạo, rượu, gà và có cả tiền mặt (tiền mặt được ghi sổ để sau này sẽ phải “trả nợ” cho họ). Lễ cưới tiến hành trong 2 ngày, ngày đầu tiên được gọi là áp phiên, ngày thứ hai là ngày hôn lễ. Đúng như ngày và giờ mà hai bên đã thống nhất, chú rể có mặt tại nhà trai và đem theo các lễ vật: Vải rằm khấu, tiền lì xì được cho vào trong bao lì xì, xôi, gà để cho các anh, chị, em của cô dâu.

Đồ ăn ở đây có khoảng hơn 10 món và được đựng bằng bát con. Trong đó món khẩu nhục, xôi hoặc bánh giày là không thể thiếu.

Quy trình trong đám cưới được diễn ra tại nhà gái với các bước như sau:

1, Đón dâu rể mới

2, Rào kha (rửa chân)

3, Khảu tu (mời vào nhà) nhà gái đón tiếp nhà trai

4, Trải giường chiếu

5, An tọa

6, Mời thuốc, nước, trầu

7, Báo tổ

8, Trình sính lễ như đã thỏa thuận

9, Chú rể dâng vải cho mẹ vợ

10, Bái lạy gia tiên (lễ bàn thờ)

11, Lễ nhận rể mới

12, Xin đón dâu

13, Lễ trình diện, nhận con dâu

14, Lễ nộp con dâu

15, Mừng rương hòm, chăn màn

16, Mừng phù dâu, phù rể

18, Mời ăn uống

  1. Hẹn hò

Một đại diện cho nhà trai sẽ hát bằng tiếng Tày – Nùng để xin dâu, nhà gái cũng sẽ cử 1 đại diện hát đối đáp lại khiêm tốn với ý nghĩa rằng “cô dâu có lớn nhưng chưa có khôn, gia đình chưa dạy bảo được hết nên mong nhà trai sẽ dưỡng dục thêm…để có thể làm tốt bổn phận làm dâu, làm vợ”.

Kết thúc phần nghi lễ bên nhà gái, cô dâu sẽ theo chú rể và họ nhà trai về nhà chồng. Các đôi nam thanh nữ tú sẽ hát giao duyên với nhau với các điệu hát truyền thống. Đám cưới của người dân tộc Tày – Nùng tại tỉnh Cao Bằng là nét đẹp văn hóa cần được giữ gìn và bảo tồn. Nét đẹp ấy chính là sự tổng hòa của văn hóa dân tộc và truyền thống dân gian bao đời nay về đám cưới. Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa cưới hỏi của dân tộc Tày – Nùng tại Cao Bằng là một trong những nhiệm vụ quan trọng không chỉ của riêng cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa mà cả báo chí cũng như người dân cần phát huy và bảo tồn những truyền thống tốt đẹp đó.

Việt Tiệp

Nguồn: Thuviengiadinh.com

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống