Home » Tài liệu » Hướng Dẫn Chương Trình giáo dục mầm non Mẫu Giáo Nhỡ ( Phần VI)

PHẦN SÁU

SỰ THAM GIA, PHỐI HỢP CỦA GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG VỚI TRƯỜNG MẦM NON TRONG CHĂM SÓC – GIÁO DỤC TRẺ

Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em được chia sẻ trách nhiệm giữa gia đình, các nhà giáo dục và cộng đồng. Trường mầm non chai sẻ trách  nhiệm với gia đình và cộng đồng để thúc đẩy và tạo điều kiện tối ưu cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ em.

I – SỰ PHỐI HỢP GIỮA TRƯỜNG MẦM NON VỚI GIA ĐÌNH

1. Nội dung phối hợp giữa trường mầm non với gia đình

Để góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non, nhà trường và nhóm/ lớp cần tạo điều kiện để gia đình có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác. Có thể nêu một số nội dung phối hợp sau đây :

1.1. Phối hợp thực hiện chương trình chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ

– Tham gia tổ chức khám sức khỏe, theo dõi sức khỏe của trẻ theo định.

– Giáo viên và cha mẹ cùng chia sẻ, trao đổi kiến thức chăm sóc sức khỏe cho trẻ.

– Phòng chống suy dinh dưỡng và béo phì cho trẻ, có kế hoạch và biện pháp chăm sóc đối với trẻ suy dinh dưỡng và trẻ có khiếm khuyết.

– Đóng góp tiền ăn, các hiện vật theo yêu cầu của nhà trường.

1.2. Phối hợp thực hiện chương trình giáo dục trẻ

– Tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường, của nhóm/ lớp.

– Cha mẹ tham gia vào các hoạt động thực hiện các nội dung giáo dục trẻ phù hợp với chương trình, cụ thể là :

+ Tạo điều kiện giúp trẻ được tự do tìm tòi khám phá trong mội trường an toàn theo khả năng và sở thích của mình để trở thành đứa trẻ tò mò, sáng tạo; tự tin và luôn được hạnh phúc vì mọi người xung quanh yêu thương, gần gũi trẻ.

+ Chú ý lôi cuốn các thành viên trong gia đình, đặc biệt các thành viên là nam giới : ông, bố, anh, chú, bác tham gia vào việc chăm sóc và dạy trẻ.

+ Coi trọng giáo dục giới tính cho trẻ.

Coi trọng việc phát hiện, can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật. Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, vấn đề phát hiện sớm sự phát triển không bình thường là cực kì quan trọng. Bởi vì chính nhờ có sự phát hiện sớm mà nhiều khuyết tật của trẻ có thể được bù đắp và thích nghi, có khi tiến tới bình thường nếu được sự giúp đỡ kịp thời và đúng đắn.

Nhà trường cần cung cấp và hoặc giới thiệu cho các bậc cha mẹ trẻ biết các mốc phát triển bình thường của trẻ, và những vấn đề cần lưu ý trong sự phát triển của trẻ để có thể phát hiện và can thiệp sớm.

– Phối hợp với nhà trường trong việc tổ chức ngày lễ, ngày hội, tổ chức ngày sinh nhật cho trẻ,…

– Tạo môi trường an toàn về tình cảm cho trẻ : Đối với trẻ, lần đầu tiên đến lớp mẫu giáo thì đó là một sự khó khăn lớn đối với trẻ cũng như đối với bà mẹ. Bởi vì ở nhà mẹ con gắn bó nhau gần như suốt ngày, còn khi đến trường, đứa trẻ phải vào một môi trường hòan tòan mới. Vì vậy, giáo viên cần tư vấn cho bố mẹ, các thành viên của gia đình biết cách chuẩn bị cho trẻ tiếp nhận sự thay đổi đó để tránh cho trẻ bị stress. Ở lớp, cô giáo cần tạo môi trường làm sao cho trẻ cảm thấy lớp cũng như ở nhà, khuyên các bà mẹ không nên để lộ sự lo âu, quá lưu luyến khi tạm biệt trẻ ở trường,…Lúc về nhà, bố mẹ nên lắng nghe những câu chuyện của trẻ về trường lớp, các bạn hoặc hỏi han trẻ về những gì đã xảy ra ở lớp, cố gắng động viên và khuyến khích trẻ để tạo cho trẻ cảm giác tự tin khi đến lớp. Gia đình cũng cần thiết phải trao đổi với giáo viên những đặc điểm riêng của con mình, ví dụ như thói quen ăn uống, sức khỏe, cá tính…để giáo viên có biện pháp chăm sóc – giáo dục phù hợp.

1.3. Phối hợp kiểm tra đánh giá công tác chăm sóc – giáo dục trẻ của trường/ lớp mầm non

– Tham gia cùng với ban giáo hiệu nhà trường kiểm tra đánh giá chất lượng chăm sóc – giáo dục :

+ Theo dõi để phát hiện những tiến bộ, thay đổi, những biểu hiện bất thường…của trẻ diễn ra hằng ngày, trao đổi kịp thời để giáo viên có sự điều chỉnh trong nội dung và phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ.

+ Tham gia đóng góp ý kiến với nhà trường về chương trình và phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ. Đề xuất nhà trường hướng dẫn các bậc cha mẹ thực hiện việc chăm sóc – giáo dục trẻ ở gia đình có hiệu quả hơn.

– Đóng góp ý kiến về các mặt khác nhau như : môi trường trường học, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi của nhóm/ lớp…Thái độ, tác phong, hành vi ứng xử,… của giáo viên và nhân viên trong trường với trẻ và phụ huynh.

1.4. Tham gia xây dựng cơ sở vật chất

– Tham gia lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh, làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ.

– Đóng góp xây dựng, cải tạo trường/ nhóm, lớp, công trình vệ sinh,…theo quy định và theo thỏa thuận.

– Đóng góp những hiện vật cho nhóm/ lớp hoặc trường mầm non như : bàn, ghế, thang leo, cầu trượt, các vật liệu cho trẻ thực hành…

  1. 2. Hình thức phối hợp của nhà trường với gia đình

– Qua bảng thông báo hoặc qua góc “tuyên truyền cho cha mẹ” của nhà trường hoặc tại mỗi nhóm lớp : thông tin tuyên truyền tới phụ huynh các kiến thức chăm sóc – giáo dục trẻ hoặc thông báo về nội dung hoạt động , các yêu cầu của nàh trường đối với gia đình, hoặc nhữung nội dung mà gia đình cần phối hợp với cô giáo trong việc thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.

– Trao đổi thường xuyên, hằng ngày trong các giờ đón, trả trẻ.

– Tổ chức họp phụ huynh định kì ( 3 lần/1 năm) để thông báo cho gia đình những công việc, thảo luận về các hình thức phối hợp giữa gia đình và nhà trường ( họp đầu năm) hoặc kết hợp phổ biến kiến thức chăm sóc – giáo dục trẻ cho cha mẹ.

– Tổ chức những buổi sinh hoạt, phổ biến kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ theo chuyên đề đặc biệt hoặc khi có dịch bệnh.

– Thông qua các đợt kiểm tra sức khỏe của trẻ.

– Thông qua các hội thi, hoạt động văn nghệ.

– Cán bộ, giáo viên đến thăm trẻ tại nhà.

– Hòm thư cha mẹ.

– Phụ huynh tham quan hoạt động của trường mầm non.

– Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng ( đài truyền hình, truyền thanh,.. ).

  1. 3. Một số công việc giáo viên cần làm để thu hút sự tham gia, phối hợp của cha mẹ

Để tạo sự tin tưởng và thu hút sự tham gia của phụ huynh vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ của lớp và của nhà trường, giáo viên cần phải :

– Lắng nghe ý kiến của cha mẹ trẻ, chủ động xây dựng mối quan hệ tốt với phụ huynh. Sẵn sàng tư vấn và giúp đỡ các kiến thức chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường bằng nhiều hình thức khác nhau như : Họp phụ huynh, bảng thông báo, góc trao đổi với phụ huynh… Ví dụ : Trước ngày tiếp nhận trẻ vào trường, cần có những hướng dẫn cho bố mẹ, giới thiệu những hoạt động trong ngày ở trường của giáo viên và của trẻ.

– Nếu trẻ lần đầu tiên đến lớp, cô giáo cần trao đổi cụ thể về chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường, nắm bắt những thông tin, đặc điểm của trẻ, cho bố mẹ làm quen trẻ với lớp, với các bạn và cô giáo. Thời gian đầu có thể cho bố mẹ vào lớp chơi cùng trẻ, đón trẻ về sớm, có thể cho trẻ mang theo đến lớp những đồ chơi ưu thích mà trẻ thường chơi ở nhà để tránh sự hụt hẫng ban đầu.

– Liên lạc thường xuyên với gia đình để tìm hiểu sinh hoạt của trẻ ở gia đình, thông tin cho cha mẹ trẻ biết về tình hình của trẻ ở lớp, những thay đổi của trẻ nếu có để kịp thời có biện pháp tác động chăm sóc – giáo dục phù hợp.

– Cần thống nhất với các bậc cha mẹ về nội quy, các hình thức và biện pháp phối hợp giữa phụ huynh và nhà trường trong từng giai đoạn và cả năm học.

– Trong quá trình phối hợp với các bậc cha mẹ, giáo viên cần căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình để có hình thức phối hợp phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất.

– Trong khi lập kế hoạch của chủ đề, kế hoạch tuần, giáo viên cần phải đưa nội dung phối hợp với gia đình vào kế hoạch, cần nêu những yêu cầu cụ thể về vấn đề cần phối hợp với gia đình để thực hiện chủ đề đó. Ví dụ : Từ ngày ….đến ngày…..cần phụ huynh đóng góp vật liệu : giấy báo cũ, bìa, cây, hạt,…; ở nhà, phụ huynh đọc cho trẻ  nghe thơ, truyện về gia đình, cô giáo,…; Phụ huynh tạo điều kiện cho trẻ củng cố kĩ năng rửa tay, đánh răng, rửa mặt,…Những yêu cầu này giáo viên nên thông báo cho phụ huynh trong giờ đón, trả trẻ và ở góc “tuyên truyền cho cha mẹ”. Sau một thời gian đưa ra yêu cầu đối với phụ huynh, giáo viên có thể đưa ra một số thông tin : thông báo danh sách những phụ huynh đã thực hiện yêu cầu, hoặc nhắc lại yêu cầu với một số phụ huynh. Khi đánh giá sau chủ đề, giáo viên phải có phần nhận xét về công tác phối hợp với gia đình phục vụ cho việc thực hiện chủ đề ( những gì đã thực hiện được, còn tồn tại gì, có gì cần rút kinh nghiệm, hướng giải quyết ).

  1. 4. Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong vấn đề chăm sóc – giáo dục trẻ khuyết tật

– Nhà trường, giáo viên cần cung cấp hoặc giới thiệu cho các bậc cha mẹ biết các mốc phát triển bình thường của trẻ và những vấn đề cần lưu ý trong sự phát triển của trẻ để có thể phát hiện và can thiệp sớm khi thấy trẻ có những biểu hiện không bình thường.

– Đối với những gia đình có trẻ khuyết tật cần nói rõ để các bậc cha mẹ hiểu rằng : Cha mẹ không nên che giấu khuyết tật của con mình mà nên mạnh dạn và thẳng thắn trao đổi với giáo viên về những hạn chế của trẻ. Gia đình nên cho trẻ đến học lớp mẫu giáo hòa nhập để tạo cơ hội cho trẻ được giao tiếp với những người xung quanh. Bố mẹ nên cùng giáo viên giúp đỡ trẻ khắc phục những thói quen không tốt, trong những trường hợp cần thiết, có thể cùng giáo viên tìm đến tư vấn của các nhà chuyên môn để được giúp đỡ. Cần giải thích để phụ huynh biết rằng : Nguy cơ lớn nhất của khuyết tật xảy ra ở tuổi tiền học đường là nó có thể dẫn đến sự ngưng trệ quá trình phát triển bình thường, do trở ngại gây ra đối với khả năng thích nghi của trẻ khuyết tât và sự hạn chế trầm trọng trẻ tiến tới sự thành thục và độc lập. Đa số trẻ khuyết tật có khả năng thích nghi hoặc có thể được phục hồi hoặc bù trừ nếu được phát hiện sớm và có biện pháp xử lí thích hợp.

Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non phụ thuộc nhiều vào sự tham gia đóng góp của gia đình trẻ. Vì vậy, trong quá trình giáo dục, nhà trường và giáo viên cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình bằng nhiều nội dung, hình thức phong phú để tạo điều kiện cho công tác chăm sóc – giáo dục trẻ có hiệu quả.

II – SỰ PHỐI HỢP CỦA TRƯỜNG MẦM NON VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG CHĂM SÓC – GIÁO DỤC TRẺ

Quá trình chăm sóc – giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non mang đặc tính xã hội hóa cao. Để thực hiện có hiệu quả quyền được chăm sóc – giáo dục trẻ em ở lứa tuổi này, phải cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình và đặc biệt là với cộng đồng xã hội.

  1. Nội dung phối hợp với các ban nghành đoàn thể

1.1. Tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương

Các nhà quản lí giáo dục mầm non phải chủ động tham mưu kịp thời với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương về kế hoạch hoạt động của nhà trường để các cấp lãnh đạo đưa vào chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương hằng năm. Cụ thể các nội dung cần tham mưu :

– Tăng cường cơ sở vật chất cho trường mầm non ( trường sở, thiết bị, đồ dùng, đồ chơi…).

– Chỉ tiêu huy động trẻ trong độ tuổi đến lớp.

– Hỗ trợ đời sống giáo viên, đặc biệt giáo viên ngoài biên chế.

– Quy hoạch, cấp đất cho trường mầm non đáp ứng nhu cầu chăm sóc – giáo dục trẻ.

1.2. Phối hợp với Hội phụ nữ

– Nâng cao nhận thức và năng lực của phụ nữ, của nhân dân để họ tham gia tích cực vào việc tổ chức, quản lí thực hiện các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ, huy động các gia đình đưa trẻ trong độ tuổi đến lớp.

– Huy động sự tham gia của các tầng lớp phụ nữ vào các hoạt động lập kế hoạch xây dựng, đóng góp bảo vệ các công trình phúc lợi, các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ

– Các cơ sở giáo dục mầm non phối hợp với đội ngũ tuyên truyền viên của Hội Liên Hiệp phụ nữ để trang bị cho hội viên phụ nữ những kiến thức nuôi dạy con theo khoa học. Ví dụ như các nội dung : Cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng, cách chế biến bữa ăn đủ dinh dưỡng cho trẻ từ thực phẩm sẵn có của gia đình, địa phương; tiêm chủng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; theo dõi biểu đồ tăng trưởng để phát hiện trẻ còi xương, suy dinh dưỡng hoặc béo phì; đảm bảo an tòan về thể chất và tâm lí cho trẻ,…

– Các cơ sở giáo dục mầm non cùng với Hội phụ nữ thực hiện các dự án như giáo dục dinh dưỡng, VAC cho các đối tượng được hưởng là bà mẹ có con trước tuổi đến trường, có con suy dinh dưỡng.

– Phối hợp tổ chức các hội thi “ Kiến thức mẹ, sức khỏe con”, “ Mẹ duyên dáng – con khỏe ngoan” để động viên đông đảo các tầng lớp phụ nữ học tập trao dồi kiến thức và nuôi dạy con nên người.

– Vận động cha mẹ đóng góp xây dựng trường lớp, chi trả lương cho cô, vận động các ban nghành, các tổ chức kinh tế,…đầu tư cơ sở vật chất thiết bị cho giáo dục mầm non.

1.3. Phối hợp với trung tâm y tế cùng chăm lo sức khỏe của trẻ

– Tạo môi trường sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh an toàn.

– Khám sức khỏe định kì cho trẻ.

– Hướng dẫn các bậc cha mẹ phòng chống một số bệnh thường gặp ở trẻ em : các bệnh về hô hấp, còi xương, suy dinh dưỡng, tiêm chủng đúng lịch đủ mũi…

1.4. Phối hợp với ban Dân số – Gia đình và trẻ em

Có chương trình hành động vì trẻ em, phát động tháng hành động vì trẻ emđể bảo vệ và thực hiện Quyền trẻ em.

1.5. Phối hợp với Đoàn thanh niên :

Phát động phong trào làm đồ chơi, đồ dùng học tập cho trẻ, đóng góp công sức lao động xây dựng cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục mầm non. Phổ biến kiến thức chăm sóc – giáo dục trẻ

1.6. Phối hợp với Hội nông dân và các tổ chức khác :

Cùng với Hội Nông dân tham mưu với chính quyền địa phương tạo điều kiện cấp đất có mặt bằng phù hợp với nhu cầu của trường mầm non, có đất làm VAC để bổ sung chất dinh dưỡng trong bữa ăn hằng ngày cho trẻ, tạo môi trường xanh, sạch, đẹp.

Ngoài ra, các cơ sở giáo dục mầm non có thể kết hợp với Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Hội Chữ thập đỏ,… để tạo thành một lực lượng hùng hậu, rộng khắp, ủng hộ tích cực cho sự nghiệp phát triển giáo dục mầm non của địa phương.

  1. Hình thức phối hợp lao động

– Thông qua các cuộc họp, hội nghị mà cán bộ giáo viên trường mầm non được tham dự.

– Góc tuyên truyền cho cha mẹ ở trường mầm non.

– Qua các buổi họp phụ huynh của  nhà trường.

– Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng : đài phát thanh, truyền hình, sách báo, tranh…

– Qua các buổi phổ biến kiến thức của Hội Phụ nữ.

– Qua các buổi họp của hội nông dân, thôn, xóm.

– Tổ chức các hội thi.

– Thành lập các câu lạc bộ tư vấn về chă, sóc – giáo dục trẻ thơ.

Mầm non

Thẻ:, , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống