Home » Tài liệu » Bài dự thi tìm hiểu 80 năm ngày truyền thống ngành tổ chức xây dựng Đảng

1.”Những mốc lịch sử của Ngành Xây dựng Đảng kể từ khi thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đến nay”?

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu “một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử của cách mạng Việt Nam”, là dấu ấn lịch sử đối với sự hình thành và phát triển công tác tổ chức của Đảng. Từ những ngày đầu mới thành lập, Đảng ta đã nhận thức: công tác tổ chức, xây dựng Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, là một bộ phận chủ yếu hợp thành và có tính chất quyết định thắng lợi trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.
Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất họp từ ngày 14/10/1930 đến cuối tháng 10/1930 tại Hương Cảng – Trung Quốc, Trung ương đã cử ra các Bộ, trong đó có Bộ Tổ chức kiêm Giao thông (tiền thân của Ban Tổ chức Trung ương Đảng). Việc hình thành Bộ Tổ chức kiêm Giao thông đánh dấu sự chuyển biến mới trong công tác tổ chức của Đảng. Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã quyết định lấy ngày 14/10 hàng năm là ngày truyền thống của ngành tổ chức xây dựng Đảng và cơ quan tổ chức cấp ủy các cấp.

Khi mới thành lập, năm 1930, toàn Đảng có 310 đảng viên và đến tháng 8/1945, Đảng vừa tròn 15 tuổi với 5.000 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa, lập ra Nhà nước công nông đầu tiên tại Đông Nam châu Á. Chín năm trường kỳ kháng chiến, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, củng cố, phát triển tổ chức cơ sở Đảng, đội ngũ đảng viên, góp phần động viên, tập hợp sức mạnh của cả dân tộc làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ. Năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt, miền Bắc đi lên xây dựng CNXH, làm hậu phương vững chắc cho miền Nam tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.


Công tác tổ chức ở miền Bắc lúc này tập trung vào kiện toàn tổ chức các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể; thực hiện “Bốn tốt” ở các chi, Đảng bộ cơ sở gắn với cuộc vận động “Ba xây, ba chống”; đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ xuất thân từ công, nông, học sinh miền Nam tập kết. Ở miền Nam, công tác tổ chức tập trung xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên để lãnh đạo và đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, công tác tổ chức tập trung vào xây dựng, củng cố hệ thống chính trị thống nhất trong cả nước; điều động hàng vạn cán bộ lãnh đạo, quản lý, chuyên môn cho miền Nam.

Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, niềm tin của nhân dân suy giảm. Ngành tổ chức xây dựng Đảng đã cùng toàn Đảng tiến hành công cuộc đổi mới, đổi mới về tổ chức và cán bộ, tạo cơ sở cho việc tiến hành đổi mới toàn diện, từng bước khắc phục khủng hoảng kinh tế – xã hội, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị. Trong thời kỳ đổi mới, công tác tổ chức xây dựng Đảng bám sát thực tiễn, thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy mạnh kiện toàn, sắp xếp tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị; thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ CNH-HĐH đất nước.

Trải qua 79 năm, công tác tổ chức đã góp phần to lớn, quan trọng vào thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, góp phần xây dựng Đảng thực sự là một chính đảng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, hết lòng, hết sức, tận tụy phục vụ nhân dân. Hệ thống tổ chức không ngừng được củng cố và đổi mới; đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức của Đảng được giáo dục, trưởng thành, không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc.


Trong suốt chặng đường lịch sử vẻ vang của ngành, chúng ta thấm nhuần sâu sắc ý nghĩa và những bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác tổ chức xây dựng Đảng. Đó là, phải giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tăng cường tính tiên phong của Đảng là yêu cầu cơ bản, có tính nguyên tắc đối với công tác xây dựng Đảng về chính trị và tổ chức.


Công tác xây dựng Đảng về tổ chức phải kết hợp chặt chẽ với các mặt công tác xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng; nhận thức và thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình, chăm lo xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng; nâng cao chất lượng công tác cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực lãnh đạo và hoạt động thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng; bảo đảm tính kế thừa và phát triển; củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; bồi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước và truyền thống cách mạng, quyền làm chủ và lợi ích thiết thực của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Bên cạnh đó, thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố các cơ quan và đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức thật sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, của công tác xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị.


2.Những bài học kinh nghiệm chủ yếu về công tác Tổ chức xây dựng Đảng trong 80 năm qua của Đảng cộng sản Việt Nam ?


Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã thắng lợi vẻ vang. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã xoá bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc và phát triển đất nước theo con đường của chủ nghĩa xã hội.


Bài học quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng ta trong Cách mạng tháng Tám là tạo nên sự thống nhất nhận thức và hành động của toàn Đảng và toàn dân, động viên và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở một đường lối chính trị đúng đắn và tinh thần tự lực, tự cường, độc lập, tự chủ và sáng tạo. Sau Cách mạng tháng Tám, dân tộc Việt Nam phải tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược kéo dài 30 năm mới giành được độc lập hoàn toàn và thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, kết thúc một trong hai chiến lược cách mạng mà Cương lĩnh của Đảng năm 1930 đề ra và Cách mạng tháng Tám là một thắng lợi vĩ đại.


Từ thành quả và kinh nghiệm thực tiễn của hơn 20 năm tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc (1954-1975), thực tiễn của hơn 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã hoạch định đường lối và khởi xướng công cuộc đổi mới ở nước ta. Đường lối đổi mới của Đại hội VI (12- 1986) là sự đổi mới căn bản, toàn diện nhưng trước hết hướng vào đổi mới chủ trương, chính sách kinh tế. Đại hội VI cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới nội dung lãnh đạo và phong cách làm việc của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong các nội đung đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, Đại hội VI đặt lên hàng đầu, coi đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân là nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng.


Năm 1945, nước ta có hơn 20 triệu dân, Đảng Cộng sản với gần 5000 đảng viên. Bằng đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn và năng lực tổ chức thực tiễn tuyệt vời, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám. Ngày nay, nước ta với hơn 80 triệu dân, Đảng có hơn 2 triệu đảng viên, với đường lối đổi mới đúng đắn và sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn điện, có hiệu quả đã và đang đưa sự nghiệp đổi mới phát triển và giành được những thành tựu ngày càng to lớn.


Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) (1-2004) đã kiểm điểm nửa nhiệm kỳ thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, ý chí tự lực tự cường của Cách mạng tháng Tám và của các thời kỳ cách mạng trước đây, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo thắng lợi sự nghiệp đổi mới trong những năm đầu của thế kỷ XXI. Cùng với nhiệm vụ tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hoàn thiện Nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tăng cường quốc phòng an ninh, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững sự ổn định chính trị, gần ba năm qua, Đảng và Nhà nước đã tập trung lãnh đạo nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, đạt được những kết quả quan trọng: nền kinh tế đã vượt qua giai đoạn suy giảm tốc độ tăng trưởng, đạt mức tăng trưởng khá cao; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số lĩnh vực và sản phẩm có chuyển biến; thể chế kinh tế tiếp tục được đổi mới, đang tiếp tục hình thành và phát triển các loại thị trường. Thị trường hàng hoá sôi động và phát triển với tốc độ nhanh; thị trường lao động có bước phát triển; thị trường tài chính-tiền tệ đạt được một số kết quả bước đầu…


3.Để xây dựng đội ngũ cán bộ có đức, tài góp phần xây dựng Đảng,công tác cán bộ cần được đổi mới như thế nào?

Cán bộ là người công tác, có chức vụ trong một cơ quan của Đảng, Nhà nước hoặc đoàn thể. Do đó, người cán bộ, nhất là các cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân càng phải có những phẩm chất và năng lực tốt đẹp ở mức độ cao. Họ cần phải có đầy đủ tài năng và đạo đức. Đức và tài thống nhất, trong đó đức là gốc. Trong giai đoạn hiện nay, cần xây dựng cán bộ đáp ứng theo tiêu chuẩn :


– Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân. Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật, thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
– Gương mẫu trong thực hiện đạo đức cách mạng và lối sống: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, không cơ hội. Có trình độ hiểu biết cao về lí luận chính trị, văn hoá, chuyên môn. Có kiến thức về khoa học lãnh đạo và quản lí, có năng lực hoạt động thực tiễn. Có sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được giao.
Để những tư tưởng cao đẹp đó trở thành hiện thực, đương nhiên cần sự tự giác tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể phải tăng cường hơn nữa công tác giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và quản lí, kiểm tra quá trình đó. Đảng và Nhà nước cũng cần dựa vào nhân dân trong quá trình quản lí, kiểm tra, giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉnh đốn đảng là công việc thường xuyên, nhưng phải đặc biệt chú ý khi hoàn thành từng chặng đường, từng nhiệm vụ và buớc sang một chặng đường, nhiệm vụ mới. Chỉnh đốn đảng là nhằm bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp, dân tộc, là tổ chức tiền phong chiến đấu vì lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc; không phải là một tổ chức làm quan, phát tài, sinh ra quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán. Đảng phải trong sạch, phải loại bỏ mọi phần tử cơ hội, thoái hoá; làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn giữ vững đạo đức cách mạng. Và Bác nhấn mạnh: chỉnh đốn đảng là công việc rất hệ trọng, liên quan đến toàn bộ xã hội. Vì vậy, phải làm từng bước, phải có trọng tâm; chỉnh huấn về mặt tư tưởng phải gắn với chỉnh đốn về tổ chức; chỉnh huấn cán bộ cao cấp là mấu chốt của chỉnh huấn đảng; Trung ương phải tập trung làm trước và trực tiếp chỉ đạo; chỉnh đốn đảng không phải là ”chỉnh” và “đốn”, mà làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình.


Trong mối quan hệ giữa xây dựng và chỉnh đốn đảng, Bác yêu cầu phải trên cơ sở xây dựng mà chỉnh đốn, chỉnh đốn để nhằm xây dựng đảng vững mạnh hơn, trong sạch hơn. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nội dung chỉnh đốn đảng là: học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chấn chỉnh tổ chức. Tức là, Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; phải tuân thủ và vận dụng linh hoạt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng; xây dựng và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Về sự cần thiết phải xây dựng và chỉnh đốn đảng, Bác đưa ra luận điểm: ”Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân… Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”.


Tuân theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn đảng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đó là nhiệm vụ then chốt, là cội nguồn thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta. Tình hình nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ có sự thay đổi, song những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng đảng vẫn là những giáo huấn quan trọng đối với các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Việc học tập, quán triệt và vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cuộc sống là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.


4. Tiêu chuẩn người cán bộ làm công tác tổ chức

Công tác tổ chức, cán bộ giữ vị trí trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng. Đội ngũ cán bộ tổ chức, cán bộ là chỗ dựa tin cậy của cấp uỷ đảng, trực tiếp tham mưu cho các cấp uỷ đảng về tổ chức bộ máy và xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ.


Bởi vậy, để nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới nhất thiết phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ tổ chức xây dựng Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã nhấn mạnh: “Việc bố trí và sử dụng cán bộ đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường. Đề bạt cán bộ phải đúng lúc, đúng người, đúng việc”. Bố trí đúng người, đúng việc, đúng sở trường là tìm được cán bộ đúng tiêu chuẩn, có phẩm chất và năng lực đáp ứng cương vị công tác được giao xứng đáng với tài năng của họ. Bố trí, bổ nhiệm, phân công cán bộ còn phải đúng chỗ, đúng nơi công tác. Nhiều khi cán bộ không phát huy được năng lực, không gây được uy tín lại có nguyên nhân từ vị trí, môi trường công tác chưa phù hợp. Bố trí cán bộ còn đòi hỏi phải đúng lúc, khi cán bộ đang độ sung sức, phát triển phù hợp với chức danh đảm nhiệm, lúc cán bộ có khả năng làm việc, khả năng cống hiến tốt nhất. Hết sức tránh bố trí khi cán bộ đã bắt đầu chững lại, có dấu hiệu “xuống dốc”, không đảm đương được nhiệm vụ ở nơi này sang nhận nhiệm vụ tương đương hoặc cao hơn ở nơi khác.


Người làm công tác tổ chức cán bộ ngoài những tiêu chuẩn cán bộ theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII, cần nhấn mạnh vào một số điểm sau:


Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách, luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững bản chất cách mạng và thực hiện tốt vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế; có quan điểm, chính kiến rõ ràng, không mơ hồ, lẫn lộn trước những biến đổi xã hội; có tính quyết đoán đối với công việc; có bản lĩnh chống tham nhũng và bản thân không tham nhũng, không nhận hối lộ; có ý chí khắc phục khó khăn, đứng vững trước những cám dỗ, sức ép trong công việc, bảo vệ cái đúng, bảo vệ được cán bộ tốt; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và mạnh dạn đổi mới, không trì trệ, bảo thủ.


Hai là, trung thực, khách quan, công tâm, công bằng, dân chủ, không thiên tư, thiên vị. Người cán bộ tổ chức, cán bộ không báo cáo, phản ánh tình hình sai sự thật, không lựa chiều theo lối “dĩ hoà vi quý”. Khi nhận xét, đánh giá cán bộ, người cán bộ tổ chức không được nói khác những điều mình biết, mình nghĩ và cho là đúng. Những nhận xét, đánh giá về cán bộ phải luôn dựa trên những căn cứ pháp lý, theo tiêu chuẩn cán bộ của Đảng, Nhà nước và căn cứ vào việc làm, hiệu quả công tác. Người cán bộ tổ chức làm việc phải công tâm, công khai, công bằng, dân chủ, không phân biệt thân sơ, sang hèn, không địa phương cục bộ, không giấu giếm, bao che hay thổi phồng khuyết điểm, ưu điểm; không xen tình cảm riêng tư, động cơ cá nhân “Yêu nên tốt, ghét nên xấu” mà phải xem xét con người với đúng bản chất, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể một cách biện chứng.


Ba là, nhân ái, bao dung và gần gũi với mọi người, giải quyết công việc trên cơ sở có lý, có tình. Lý là luôn dựa vào những quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước làm thước đo, làm căn cứ để giải quyết mọi công việc. Tình là giải quyết công việc dựa trên cơ sở tình cảm giai cấp, giữa những người đồng chí với nhau, luôn có lòng nhân ái, vị tha, bao dung, không hẹp hòi, thành kiến. Lý không làm mất tình và tình không làm mờ lý. Người cán bộ tổ chức phải có khả năng thuyết phục, quy tụ được mọi người, là trung tâm của sự đoàn kết trong cơ quan, đơn vị.


Bốn là, phải luôn luôn tỉnh táo, sáng suốt, biết phân biệt người tốt, kẻ xấu; phải trái phân minh, không khuất tất, mờ ám. Nếu không tỉnh táo, sáng suốt phân biệt rõ phải – trái, đúng – sai, vàng – thau, tốt – xấu… thì không những xa cách cán bộ tốt, mà còn để cho bọn cơ hội chui vào hàng ngũ lãnh đạo hoặc không loại bỏ được những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng. Muốn vậy, người cán bộ tổ chức phải có sự nhạy cảm nghề nghiệp, có tư duy độc lập, khả năng phân tích, tổng hợp, có vốn sống và kinh nghiệm ứng xử phong phú, tinh tế; kiên trì rèn rũa đức tính thận trọng, tỉ mỉ, chính xác. Phải có tâm và có tài. “Tâm” ở người cán bộ tổ chức chính là đạo đức cách mạng “chí công, vô tư”, ít lòng ham muốn tiền bạc và danh lợi, toan tính cá nhân thiệt hơn. “Tài” ở người cán bộ tổ chức chính là trí tuệ, tầm nhìn xa trông rộng, toàn diện và cụ thể, chu đáo, chọn được người tài, sắp xếp đúng người, đúng việc.


Năm là, có phương pháp làm việc khoa học. Người cán bộ tổ chức phải có tác phong sâu sát, không làm việc theo kiểu bàn giấy, phải đi sâu điều tra, khảo sát, phân tích một cách khoa học mọi vấn đề liên quan đến công tác tổ chức, cán bộ. Phải có nhiều phương án để xây dựng bộ máy và nhân sự một cách tích cực, chủ động, chính xác. Thẩm tra, xác minh, tìm hiểu kỹ cán bộ trước khi đề bạt, bổ nhiệm và trong quá trình quản lý, sử dụng. Phải tránh cách làm việc quan liêu, chú trọng vào các thủ tục hành chính, hồ sơ mà ít tiếp xúc, tìm hiểu cặn kẽ hoàn cảnh, điều kiện làm việc, khả năng, nguyện vọng và tâm tư tình cảm của cán bộ. Tránh nghe thông tin một chiều, không chú ý lắng nghe và tiếp thu dư luận quần chúng đánh giá về cán bộ. Phải có thói quen phân tích, so sánh, kiểm tra các thông tin nhận được để tránh nhận xét, đánh giá một cách chủ quan, giản đơn, không phù hợp với thực tế dẫn tới bỏ sót người tốt, để lọt kẻ cơ hội, bố trí, sử dụng không đúng người, vận dụng tiêu chuẩn cán bộ một cách chủ quan, tùy tiện, lúc này, với người này thì cứng nhắc, với người khác lại châm chước, xuê xoa.


Sáu là, có trình độ, kiến thức về khoa học tổ chức, nắm vững nguyên tắc, đồng thời có kinh nghiệm, kỹ năng, thực hiện các quy trình công tác cán bộ. Công tác tổ chức, cán bộ là một khoa học và là một nghệ thuật ứng xử đối với con người, đòi hỏi người cán bộ tổ chức phải được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ công tác tổ chức, những kiến thức về tâm lý học, kỹ năng hiểu biết, đánh giá, sử dụng con người, kiến thức quản lý nhà nước.


Bảy là, biết người và dùng người đúng chỗ. Phải có cách xem xét cán bộ đúng đắn, quyết không nên chấp nhất mà phải biến hoá. Sự biến hóa không phải là một sự tuỳ tiện, vô nguyên tắc, do lòng yêu, ghét của mình, mà phải dựa trên cơ sở khoa học, hiểu biết con người trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Khéo dùng cán bộ là phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ, làm cho cán bộ vui vẻ, thoải mái, yên tâm làm tốt mọi công việc, cống hiến được nhiều nhất cho sự nghiệp chung. Tìm người tài, hiểu được người tài đã khó, dám dùng, biết dùng người tài còn khó hơn nhiều, vì người tài thường có cá tính. Vì vậy, người cán bộ tổ chức phải rộng lượng, bao dung và cũng phải là người có tài dùng người. Phải biết xem xét, xử lý đúng mối quan hệ giữa tài và tật, biết làm cho cái tài được phát huy tối đa và hạn chế thấp nhất cái tật trong cán bộ.


Không ngừng tu dưỡng về đạo đức và lối sống, yêu cái thiện, ghét cái ác; phải “dĩ công vi thượng” luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; trung thực và tận tụy với công việc chung; nói đi đôi với làm, không nói nhiều, làm ít, nói một đằng, làm một nẻo. Bởi hơn bất cứ nghề nghiệp nào, công tác tổ chức, cán bộ là một nghề khó khăn, phức tạp vì đối tượng tác động tới chính là con người, mỗi người có hoàn cảnh gia đình, môi trường giáo dục, văn hoá khác nhau với các mối quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp. Phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, coi đó “như cơm ăn, nước uống và rửa mặt hằng ngày”. Làm công tác tổ chức là công việc liên quan trực tiếp tới những lợi ích của một tập thể, của mỗi cá nhân và do vậy dễ va chạm, khó tránh khỏi mắc khuyết điểm, sai lầm. Hơn ai hết, những người cán bộ tổ chức phải thực sự tự phê bình và phê bình thẳng thắn, thân ái và xây dựng. Phê bình là để mọi người học lẫn nhau và giúp nhau sửa chữa. Có phương pháp phê bình đúng, cụ thể, thiết thực, thân ái, phải xuất phát từ tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, thật sự khách quan, không nghi kỵ, định kiến, cố chấp hoặc sử dụng phê bình như những thủ đoạn để làm mất uy tín của nhau. Thông qua tự phê bình và tiếp thu phê bình thường xuyên từ trên xuống, từ cán bộ và nhân dân sẽ giúp cho người cán bộ tổ chức ngày càng bớt đi khuyết điểm, ưu điểm tăng dần để không ngừng tiến bộ.

http://Thuviengiadinh.com (Sưu tầm)

No comments yet... Be the first to leave a reply!

Kỹ năng cuộc sống