Hướng dẫn chương trình giáo dục mẫu giáo bé (Phần IV)

11:06

PHẦN BỐN

HƯỚNG DẪN LẬP KẾ HOẠCH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC

A – XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC NĂM HỌC

I – NHỮNG CĂN CỨ XÂY DỰNG GIÁO DỤC

Ban giám hiệu chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch năm học dựa trên các căn cứ sau :

-     Mục tiêu và nội dung chương trình giáo dục mẫu giáo đã quy định trong Chương trình giáo dục mầm non Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

-     Thời gian quy định trong năm học

-     Điều kiện cơ sở vật chất và các nguồn lực khác của địa phương và trường mầm non.

-     Nhu cầu và trình độ phát triển thực tế của trẻ trong lớp mẫu giáo.

II – CÁCH THỨC XÂY DỰNG KÉ HOẠCH GIÁO DỤC

Trong năm học, những nội dung quy định trong 5 lĩnh vực giáo dục của chương trình được cung cấp cho trẻ dưới hình thức các chủ đề. Từ chủ đề lớn, khi thực hiện giáo viên có thể phát triển, chia thành các chủ đề nhỏ, hình thành mảng lưới liên kết các nội dung và các hoạt động giáo dục lại với nhau.

Khi xây dựng và thực hiện chủ đề, giáo viên cần lưu ý một số chủ đề cần thỏa mãn 4 yêu cầu sau :

  1. Cần tính đến nhu cầu, hứng thú của trẻ và những kiến thức bắt nguồn từ thực tế cuộc sống gần gũi với trẻ;
  2. Cần được thể hiện trong các hoạt động của trường;
  3. Cần được thể hiện ở sự lựa chọn và cung cấp các đồ dùng học liệu ở các khu vực chơi trong lớp;
  4. Cần được tiến hành tối thiểu trong một tuần, đảm bảo có sự lặp lại và mở  rộng các cơ hội học cho trẻ các độ tuổi khác nhau (mẫu giáo bé, nhỏ, lớn).

Trước tiên, Ban giám hiệu nhà trường xây dựng kế hoạch chung cho cả năm học, trong đó dự kiến các chủ đề, phân phối quỹ thời gian cho từng chủ đề cho từng khối lớp (lứa tuổi) và phổ biến hướng dẫn tổ chức thực hiện cho giáo viên trong trường.

Dựa vào kế hoạch năm học, giáo viên xây dựng kế hoạch cụ thể hàng tháng và hàng tuần cho lớp mình, bao gồm xác định trên chủ đề cho tháng đó, xác định mục tiêu cần đạt được nên trẻ cho chủ đề sẽ học, lựa chọn các hoạt động, sắp xếp lịch tuần, chuẩn bị đồ dùng dạy học và tiến hành tổ chức các hoạt động giáo dục hằng ngày theo kế hoạch dự định

Gợi ý các chủ đề trong năm học

Tháng Chủ đề Số tuần
9 Trường Mầm non; Tết Trung thu 2 – 3 tuần
9 – 10 Bản thân 4 – 5 tuần
10 – 11 Gia đình 4 – 5 tuần
12 – 1 Các nghề phổ biến; Ngày 20-11, ngày 22-12 4 – 5 tuần
1 – 2 Thế giới động vật 4 – 5 tuần
2 Thé giới thực vật 4 – 5 tuần
3 Phương tiện và luật giao thông 3 – 4 tuần
4 Các hiện tượng tự nhiên 2 tuần
5 Quê hương – Đất nước – Bác Hồ; Tết 1 – 6 1 – 2 tuần

-     Số chủ đề và số tuần dự kiến cho thực hiện chủ đề có thể thay đổi linh hoạt tùy theo hứng thú, nhu cầu, khả năng của trẻ và điều kiện triển khai của từng lớp cụ thể. Chủ đề ngày lễ hội có thể thực hiện trong khoảng 3 – 5 ngày

-     Giáo viên thực hiện các bước phát triển chủ đề nhánh, bao gồm chọn chủ đề cụ thể, xác định mục tiêu giáo dục của chủ đề, xây dựng mạng nội dung, xây dựng mạng hoạt động của chủ đề và lên kế hoạch cụ thể hàng tuần cho phù hợp với trẻ và điều kiện thực tế của lớp.

Việc xác định rõ mục tiêu, nội dung và các hoạt động giáo dục khi lập kế hoạch sẽ giúp giáo viên chủ động hơn khi triển khai chủ đề.

B – CÁCH THỨC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ

I – XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ

  1. 1. Xác định mục tiêu giáo dục

Xây dựng chủ đề và phát triển các chủ đề nên giao cho giáo viên của từng lớp chịu trách nhiệm và sau đó thông qua Ban giám hiệu.

Ngay khi chủ đề đã được chọn, giáo viên cần xác định mục tiêu giáo dục của chủ đề hoặc nói cách khác là những kết quả mong muốn mà trẻ có thể đạt được sau khi học về chủ đề đó. Mục tiêu đề ra của chủ đề cần bám sát mục tiêu của từng lĩnh vực giáo dục, các tiêu chí cần cụ thể, có thể đo đạc được, vừa sức, phù hợp với độ tuổi, nhằm giúp trẻ từng bước đạt được mục tiêu giáo dục mầm non ở cuối tuổi mẫu giáo.

Chú ý : Khi viết mục tiêu hoặc mục đích mong muốn trẻ đạt được bao giờ cũng bắt đầu bằng động từ như : có thể, có khả năng, biết, nhận biết, yêu thích…

Ví dụ : Xác định mục tiêu cho chủ đề “Bản thân”

Chúng ta biết rằng trẻ em ngay từ khi mới sinh ra đã luôn tò mò, muốn tìm hiểu khám phá bản thân mình và những trò chơi hoặc hoạt động khám phá bản thân luôn hấp dẫn trẻ. Vì vậy trước hết giáo viên cần tìm hiểu để nắm được vốn kinh nghiệm đã có của trẻ liên quan đến chủ đề (thông qua trò chuyện, hỏi trẻ), từ đó xác định mục tiêu của chủ đề nhằm đạt được những gì ở trẻ về mặt phát triển thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mĩ. Sau đó xác định những nội dung chính (các chủ đề nhánh) và các họat động để trẻ trãi nghiệm tìm hiểu khám phá về bản thân. Việc xác định trước mục tiêu cũng như nội dung và các hoạt động nhằm giúp giáo viên chủ động khi triển khai chủ đề. Tuy nhiên trong quá trình tiến hành, giáo viên cần linh hoạt, thường xuyên xem xét và điều chỉnh kế hoạch giáo án cho phù hợp với nhu cầu hiểu biết và trình độ phát triển của trẻ trong lớp mình, cũng như điều kiện cơ sở vật chất ở địa phương. Dưới đây là một số gợi ý cụ thể:

Mục tiêu giáo dục của chủ đề Bản thân là kết quả mong muốn trẻ có thể đạt được sau khi học xong chủ đề này. Khi trao đổi nhóm, giáo viên có thể liệt kê ra các mục tiêu, sau đó lựa chọn các mục tiêu phù hợp. Cách diễn đạt như sau:

Sau khi học xong chủ đề này trẻ có thể:

* Về thể chất

– Thực hiện được một số vận động cơ bản theo yêu cầu (đi, chạy, nhảy, leo trèo…)

– Biết cách sử dụng một số đồ dùng trong sinh hoạt hàng ngày (đánh răng, rửa mặt, rửa tay, cầm thìa, xúc cơm, cài mở cúc áo, đi giầy dép).

– Biết ích lợi của việc giữ gìn vệ sinh thân thể, tay chân, răng miệng quần áo sạch.

– Biết ích lợi của việc ăn uống đủ chất, vệ sinh trong ăn uống, giấc ngủ đối với sức khỏe của bản thân.

- Có ứng xử phù hợp khi thời tiết thay đổi (mặc quần áo ấm khi trời lạnh, đội mũ khi đi ra nắng,…)

* Về ngôn ngữ

– Biết sử dụng các từ câu hỏi đơn giản để kể về bản thân, về sở thích của mình.

– Biết lắng nghe và trả lời lịch sự, lễ phép với mọi người.

– Biết bộc lộ những suy nghĩ cảm nhận của mình với mọi người qua cử chỉ, điệu bộ và lời nói.

* Về nhận thức

– Có một số hiểu biết về bản thân, “đặc điểm giới tính, sở thích riêng

– Nhận biết và gọi tên các bộ phận cơ thể, chức năng của chúng và cách giữ gìn vệ sinh thân thể.

– Nhận biết 5 giác quan, chức năng và một số điều sơ đẳng về chăm sóc, vệ sinh các giác quan. Sử dụng các giác quan để nhận biết, phân biệt các đồ dùng, đồ chơi, sự vật, hiện tượng quen thuộc.

– Có một số hiểu biết về các loại thực phẩm khác nhau và ích lợi của thực phẩm, dinh dưỡng đối với sức khỏe của bản thân.

* Về tình cảm – xã hội

– Biết tiếp nhận và cảm nhận tình cảm, cảm xúc khác nhau của bản thân và của người khác.

– Thích giúp đỡ những người thân gần gũi.

– Biết làm theo các yêu cầu đơn giản của người lớn và quy định chung của gia đình và trường lớp.

– Biết cách ứng xử với bạn bè và người lớn một cách phù hợp.

* Về thẩm mĩ

– Thể hiện kĩ năng phối hợp tay – mắt trong hoạt động nghệ thuật như tạo hình.

– Yêu thích cái đẹp, có khả năng cảm nhận cái đẹp của bản thân qua một số tác phẩm tạo hình, thơ, truyện.

– Thích tham gia các hoạt động hát, múa và thuộc một số bài hát về chủ đề bản thân.

  1. 2. Xây dựng mạng nội dung

Giáo viên có thể sử dụng sơ đồ mạng để thiết kế mạng chủ đề (bao gồm mạng nội dung và mạng hoạt động). Căn cứ vào mục tiêu giáo dục, giáo viên xác định nội dung học cụ thể cho từng chủ đề nhánh.

-     Mạng nội dung chứa đựng những nội dung chính trong 5 lĩnh vực của Chương trình có liên quan đến chủ đề, qua đó giáo viên mong muốn cung cấp những kiến thức (khái niệm, thông tin) kĩ năng, thái độ cho trẻ.

-     Mạng nội dung giúp cho giáo viên biết trình tự thực hiện trước sau; từ nội dung, kiến thức, kĩ năng đơn giản, gần gũi rồi mở rộng, nâng cao dần; từ những điều trẻ đã biết đến chưa biết và biết trọn vẹn hơn; từ tổng thể đến chi tiết, phù hợp với độ tuổi và sự hiểu biết của trẻ theo nguyên tắc đồng tâm phát triển. Từ chủ đề chính, giáo viên có thể phân chia thành các chủ đề nhánh. Mỗi chủ đề nhánh có thể thực hiện trong thời gian 1 – 2 tuần.

Chú ý : Khi biểu đạt nội dung thường bắt đầu bằng các danh từ.

Ví dụ : Mạng nội dung chủ đề Bản thân :

-         Họ và tên, tuổi, ngày sinh nhật, đặc điểm riêng về : hình dáng, khả năng, sở thích (ăn uống, trang phục, bạn bè, những hoạt động,…)

-         Quan hệ, tình cảm với người thân, những cảm xúc thể hiện sự yêu/ghét.

-         Đồ dùng cá nhân , đồ chơi của tôi.

BẢN THÂN
Tôi cần gì để lớn lên, khỏe mạnh
Tôi là ai
Cơ thể của    tôi

– Các bộ phận cơ thể : đầu, thân mình, hai chân, hai tay (tên gọi, vị trí, chức năng).

– Năm giác quan : thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác (tên gọi, vị trí, chức năng).

– Chăm sóc, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ cơ thể.

– Chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng.

– An toàn.

– Yêu thương.

– Sống trong môi trường trong sạch

Từ những nội dung trên, trẻ có thể học được rất nhiều khái niệm, kiến thức, kĩ năng sơ đẳng cần thiết, như :

– Cơ thể con người gồm có các bộ phận : đầu, thân, mình, tay, chân.

– Mắt, tai, mũi, lưỡi, da là năm giác quan của cơ thể.

– Tình cảm thể hiện trên sắc mặt : vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi…

– Khi vui mọi người thường cười, khi buồn mọi người thường khóc.

– Rau, quả, thịt, cá, trứng, sữa, bánh mì, cơm, dầu mỡ là những thực phẩm giúp cơ thể khỏe mạnh.

– Tắm rửa, gội đầu, đáng răng, rửa mặt, rửa tay là những cách giữ vệ sinh thân thể.

– Gương, lược, bàn chải, thuốc đánh răng, khăn mặt, xà phòng là những dụng cụ để giữ vệ sinh thân thể.

– Khi ra đường cần tuân theo luật lệ giao thông. Đèn xanh, đỏ và các biển báo giao thông giúp chúng ta phòng ngừa tai nạn giao thông.

– Không đến gần hoặc đi theo người lạ.

– Cần tránh xa những nơi nguy hiểm như hố nước, lửa, hố vôi, bụi rậm…

Các khái niệm, kiến thức trên sẽ tiếp tục được mở rộng và sâu sắc dần đối với trẻ 4 tuổi và 5 tuổi. Như vậy các kiến thức đến với trẻ luôn mang tính tích hợp, đồng tâm, phát triển.

  1. 3. Xây dựng mạng hoạt động

– Xây dựng “Mạng hoạt động” là đưa ra hàng loạt các hoạt động giáo dục mà giáo viên dự kiến cho trẻ trải nghiệm hằng ngày, hằng tuần dưới hình thức “học mà chơi, chơi mà học” để tìm hiểu, khám phá các nội dung của chủ đề, từ đó trẻ tiếp thu được các kĩ năng, kinh nghiệm cần thiết cho sự phát triển toàn diện.

– Mạng hoạt động gợi cho giáo viên cách thức tiếp cận dạy và học tích hợp trong giáo dục mầm non – đó là cách thức phối hợp một cách tự nhiên những hoạt động cho trẻ trải nghiệm như hoạt động : khám phá khoa học tự nhiên–xã hội, vận động, nghe kể chuyện, kể chuyện sáng tạo, đọc thơ, làm quen với đọc viết, làm quen với toán và các hoạt động tạo hình, âm nhạc như vẽ, nặn, gấp giấy, cắt, xé dán, hát, vận động theo nhạc, các loại trò chơi : trò chơi đóng vai xây dựng, lắp ghép,…; những công việc tự phục vụ vừa sức, giúp phát triển đồng thời các mặt ngôn ngữ, thể lực, nhận thức, tình cảm, xã hội và thẩm mĩ ở trẻ. Cách tiếp cận này cho phép giáo viên có thể điều chỉnh giáo án một cách linh hoạt hơn để có thể đưa các tình huống tự nhiên vào kế hoạch hằng ngày nhằm đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ và làm cho không khí lớp học thêm sinh động.

Khi lựa chọn các hoạt động cho chủ đề Bản thân, giáo viên dựa vào các hoạt động gợi ý của từng lĩnh vực nội dung trong sách hướng dẫn này hoặc các sách tham khảo khác, và sưu tầm bổ sung các hoạt động phù hợp ở địa phương. Nhờ sơ đồ mạng, giáo viên sẽ dễ dàng nhìn thấy sự liên kết giữa các nội dung giáo dục và các hoạt động, sự đan xen giữa các lĩnh vực phát triển trẻ, như vậy khi tiến hành sẽ ít bị động và hiệu quả giáo dục tăng lên.

Ví dụ : Mạng hoạt động của chủ đề Bản thân

  • Làm quen với Toán

Trò chơi : Nhận biết một và nhiều; tách nhóm bạn theo giới tính, theo 1-2 đặc điểm cho trước; thực hành nhận biết tay phải/trái, đối với cơ thể bé; trò chơi đếm; đo chiều cao và làm biểu đồ chiều cao; thực hành so sánh ai cao ai thấp ai bé hơn; cân ai nặng ai nhẹ.

  • Khám phá khoa học : Trò chơi khám phá nhận biết các giác quan, chức năng của chúng; tổ chức ngày sinh nhật. Nhận biết đồ dùng, đồ chơi; trò chơi học tập “tìm bạn”, trò chơi rèn luyện giác quan;

– Trò chơi Nhận đúng tên, Đồ dùng của bé, Nhớ tên, Giúp cô tìm bạn.

  • Khám phá xã hội : Tìm hiểu thông tin về bản thân, về những người thân của bé, những gì bé thích/không thích; Tìm hiểu về các bộ phận cơ thể.
  • Tạo hình : Di màu : chân dung của bé/bạn trai/gái, nét mặt vui/buồn, bé tập thể dục, các loại hoa quả thực phẩm bé thích, khuôn mặt của bé; chấm màu áo hoa; vẽ tóc cho bé; vẽ đường về nhà bé, tô màu, vẽ vòng tay, quả bóng của bé. Nặn hình người; làm con rối trai/gái; nặn đồ chơi, đồ dùng tư trang, làm búp bê; xé dải băng; dán những hình ảnh biểu thị những gì bé thích, bé không thích, những gì cần cho cơ thể, những hình ảnh biểu thị hoạt động của chân, tay và chức năng các giác quan. Chơi xếp hình (Tôi tập thể dục, xếp nhà, bạn của tôi…)
  • Âm nhạc : Hát Cháu đi mẫu giáo, Đi học về, Tay thơm, tay ngoan, Xòe bàn tay, đếm ngón tay, hãy xoay nào…; các bài hát về các giác quan; Vận động theo nhạc, vỗ tay hoặc gõ phách; trò chơi âm nhạc; nghe hát : Ru con, Con mèo ra bờ sông và dân ca…

 

BẢN THÂN
Phát triển nhận thức
Phát triển ngôn ngữ
Phát triển tình cảm – xã hội
Phát triển thẩm mĩ
Phát triển thể chất

– Trò chuyện và kể về ngày sinh nhật của bé.

– Nghe đọc, kể lại chuyện : Mỗi người một việc, Câu chuyện của tay phải tay trái, Món quà đặc biệt, Gấu con đau răng, Thỏ trắng biết lỗi. Kể chuyện qua tranh về giữ gìn vệ sinh, sức khỏe…

– Đọc thơ về đề tài : Các giác quan, xử trí khi ốm đau, ứng xử lễ phép : Đôi mắt của em, Cái lưỡi, Tay ngoan, Bạn của bé…

- Trò chơi đóng kịch: Gấu con đau răng.

– Mô tả, kể lại một buổi tham quan công viên hoặc vườn bách thú;

– Làm truyện tranh về các giác quan; về những gì bé thích, môi trường xanh-sạch-đẹp,

về các thức ăn cần cho cơ thể.

– Trò chuyện về ích lợi của việc luyện tập, ăn đủ chất và giữ gìn vệ sinh đối với sức khỏe.

– Nhận biết các nhóm thực phẩm cần cho cơ thể và ích lợi của chúng qua tranh.

– Trò chuyện qua tranh về một số biểu hiện khi ốm đau, một số nơi nguy hiểm cho bản thân.

– Thực hành giữ gìn vệ sinh cơ thể : cách rửa tay, lau mặt, đánh răng.

– Các bài tập phát triển chung.

– Tập phối hợp vận động chân tay; đi theo đường hẹp; bật về phía trước; đi, chạy thay đổi tốc độ theo hiệu lệnh, lăn bóng, bò theo đường thẳng. Vận động tĩnh; xúc cơm.

- Trò chơi vận động : Gieo hạt, Tạo dáng,Máy bay, Bắt bóng, Về đúng nhà, Mèo đuổi chuột, và các hoạt động ngoài trời.

Chuyền bóng.

– Tìm hiểu những trạng thái cảm xúc qua tranh, và thực hành biểu lộ cảm xúc qua trò chơi đóng vai (mẹ – con, phòng khám răng, cửa hàng thực phẩm/siêu thị đồ chơi,…)

– Trò chuyện tìm hiểu những người chăm sóc bé.

– Xây dựng công viên cây xanh/vườn hoa.

– Trò chơi : “Xếp vào đúng chỗ” (giữ gìn, cất dọn đồ dùng đồ chơi gọn gàng ngăn nắp sau khi chơi).

– Thực hành tự mặc áo và cởi áo, chải đầu, tự đi giày, dép.

  1. 4. Xây dựng kế hoạch tuần

Kế hoạch tuần được lập trên cơ sở bố trí các hoạt động giáo dục vào thời gian biểu hằng ngày. Trong một ngày, giáo viên nên chọn một số hoạt động gần gũi, bổ trợ cho nhau, tạo cơ hội cho trẻ được lựa chọn tham gia những hoạt động khác nhau như : khám phá khoa học về tự nhiên – xã hội, hoặc đọc thơ, kể chuyện, làm quen các biểu tượng toán, vẽ, nặn, hát, vận động, các loại trò chơi khác nhau xoay quanh đề tài chính của ngày hôm đó. Khi xây dựng kế hoạch tuần, giáo viên dựa vào yêu cầu, nội dung cụ thể của chủ đề nhánh để xây dựng kế hoạch tuần cho phù hợp.

Ví dụ kế hoạch tuần : Chủ đề nhánh “Tôi là ai”

Yêu cầu : Trẻ có thể

– Nhận biết một số đặc điểm của bản thân : họ và tên, tuổi, ngày sinh nhật, giới tính, hình dáng bên ngoài, sở thích, những đồ dùng đồ chơi của bản thân và có những người thân.

– Biết thể hiện sự nhận biết về bản thân qua lời nói và qua các sản phẩm tạo hình.

– Biết phối hợp vận động tay chân, đi thẳng người và phối hợp mắt-tay.

– Thực hiện được một số công việc tự phục vụ bản thân.

– Có một số hành vi tốt trong khi chơi, ăn uống, vệ sinh và giao tiếp lễ phép với những người xung quanh.

Kế hoạch tuần 1

Hoạt động Thứ Hai Thứ Ba Thứ Tư Thứ Năm Thứ Sáu
Đón trẻ  

Khi đón trẻ vào lớp, giáo viên nhắc trẻ xếp giày dép, đồ dùng vào nới quy định, tìm đúng tên của mình; trao đổi nhanh với cha mẹ trẻ về chủ đề của tuần.

Hoạt động học có chủ định Khi trẻ đã ổn định vào lớp, giáo viên dành một ít thời gian giới thiệu cho cả lớp biết nội dung và các hoạt động chính trong ngày, nhằm khơi gợi trí tưởng tượng và háo hức học tập ở trẻ.
- Di màu:“Bé trai bé gái” 

+ Trò chuyện về đặc điểm giới tính.

+ Di màu và liên hệ bản thân.

- Trò chơi: “Về đúng nhà” nhà của bạn trai/gái.

- Khám phá về bản thân: Trò chuyện về một số đặc điểm: họ, tên tuổi, giới tính, ngày sinh nhật, sở thích riêng, những người thân của bé. 

- Trò chơi:

+ Ai cao hơn, thấp hơn

+ Giúp cô tìm bạn.

- Hát: Cháu đi mẫu giáo 

- Nghe hát Ru con.

- Xem tranh và trò chuyện về những cảm xúc của bé

- Trò chơi : Đoán tên bạn

- Kể chuyện: Món quà đặc biệt. 

- Trò chơi: chọn tranh: “Bé vui hay buồn” và trò chuyện về tình cảm của bé với mẹ.

-  Làm ảnh tặng mẹ (di màu Bé vui vẻ).

- Vận động: “Đi theo đường hẹp về nhà” và ném bóng 

+Bài tập PT chung: tập theo bài hát Ồ sao bé không lắc

+Tập VĐ: Đi theo đường hẹp và ném bóng

+Đếm xem nhà nào nhiều bóng

Chơi, hoạt động ở các góc. - Góc đóng vai : Chơi “Mẹ-con”, “Phòng khám nha khoa”, “Cửa hàng ăn uống”/“Cửa hàng bách hóa”. 

- Góc tạo hình : Di màu, dán : chơi “Làm ảnh tặng bạn thân” (di màu bé trai, bé gái); nặn : đồ dùng của Bé, những thứ Bé thích; Làm rối từ nguyên liệu khác nhau “Cửa hàng làm đồ chơi búp bê”.

- Góc âm nhạc : Hát lại hoặc biểu diễn các bài hát đã biết thuộc chủ đề; chơi với các dụng cụ âm nhạc và phân biệt các âm thanh khác nhau.

- Góc khoa học/thiên nhiên : Khám phá khoa học, làm biểu đồ chiều cao, cân nặng; phân nhóm và đếm nhóm bạn trai, bạn gái nhóm nào nhiều hơn; chơi trò chơi “Chiếc túi kì lạ”.

- Góc sách : Làm sách tranh truyện về một số đặc điểm, hình dáng bề ngoài của bản thân; xem sách tranh truyện liên quan chủ đề.

- Góc xây dựng/xếp hình : Xếp hình “Bé tập thể dục”; xây nhà, xây công viên; ghép hình bé và bạn; xếp đường về nhà bé.

Hoạt động ngoài trời - Vẽ phấn trên sân hình bạn trai/gái 

- Chơi đuổi bóng/Trò chơi “Chim bay cò bay”.

- Chơi với đồ chơi, thiết bị ngoài trời.

- Chơi với cát, nước: in dấu bàn tay, bàn chân và ướm thử…

- Chơi vận động “Chó sói xấu tính”. 

- Chơi với đồ chơi, thiết bị ngoài trời.

- Hát Bạn có biết tên tôi/Lắng nghe các âm thanh khác nhau ở sân chơi…

- Quan sát thời tiết/Chơi vận động “Mèo và chim sẻ”. 

- Chơi theo ý thích/làm đồ chơi với vật liệu thiên nhiên.

- Quan sát sân trường/nghe kể chuyện… 

- Chơi dung dăng dung dẻ.

- Chơi với dụng cụ chơi ngoài trời.

- Quan sát thời tiết. 

- Chơi vận động.

- Chơi vói đồ chơi, thiết bị ngoài trời.

- Trò chơi:“Giúp cô tìm bạn”.

Hoạt động chiều : Chơi và hoạt động theo ý thích - Chơi, hoạt động theo ý thích ở các góc tự chọn. 

- Trò chơi: “Thẻ tên của tôi” và trò chuyện về những người thân của trẻ trong gia đình…

- Vận động nhẹ 

- Nghe đọc chuyện/chơi “Giúp cô tìm bạn”.

- Chơi theo ý thích.

- Chơi theo ý thích ở các góc. 

- Vận động nhẹ.

- Ôn lại bài hát, bài đồng dao: “Đi cầu đi quán”.

- Vận động nhẹ; chơi “Đổi đồ chơi cho bạn”. 

- Chơi theo ý thích ở các góc/đo chiều cao, cân nặng làm biểu đồ…

- Vận động nhẹ. 

- Xếp đồ chơi gọn gàng/Biểu diễn văn nghệ.

- Nhận xét, nêu gương bé ngoan cuối tuần.

Trả trẻ - Dặn dò trẻ những việc cho ngày hôm sau (ví dụ : mang ảnh của trẻ đến lớp để dán ở lớp giới thiệu với các bạn). 

- Trao đổi với phụ huynh về những tiến bộ của trẻ.

Tài liệu này chỉ đưa ra một ví dụ về cách lập kế hoạch một chủ đề. Trên cơ sở đó, cùng với sự hỗ trợ của các tài liệu nguồn như Hướng dẫn thực hiện đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trẻ, Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố và các tài liệu tham khảo khác, giáo viên có thể tiếp tục lên kế hoạch cho các chủ đề khác.

II – GỢI Ý TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHỦ ĐỀ BẢN THÂN

  1. 1. Thời gian

– Chủ đề Bản thân nên triển khai vào đầu năm học và kéo dài trong khoảng 4-5 tuần. Một số kiến thức và kĩ năng còn tiếp tục được củng cố và mở rộng trong các chủ đề tiếp theo của độ tuổi và ở các lớp trên.

  1. 2. Chuẩn bị học liệu

– Ghi âm (nếu có điều kiện) hoặc sưu tầm băng đĩa có ghi giọng nói của trẻ, của cô, một số âm thanh môi trường xung quanh (tiếng nước chảy, gió, mưa, tiếng chó, mèo…)

– Có một vài tờ giấy khổ to, hoặc tận dụng bìa lịch, báo cũ,…để trẻ vẽ, cắt dán chân dung bé trai và bé gái.

– Các tranh ảnh lấy từ trong sách báo cũ về trẻ, người, về các loại hoa quả, các hiện tượng, sự việc liên quan đến chủ đề.

– Lựa chọn một số trò chơi, bài hát, câu chuyện…liên quan đến chủ đề.

– Làm thẻ tên và kí hiệu cho từng trẻ.

– Chuẩn bị bút, màu, đất nặn, giấy vẽ, bột màu.

– Có gương soi to và lược để trẻ có thể tự soi và chải đầu.

– Có một số đồ dùng cũ của bố mẹ (quần áo, giày dép, tất, mũ, lọ nước hoa, lọ nước gội đầu, gương nhỏ, lược, vỏ hộp phấn trang điểm,…) cũng như một số bìa, hộp cát-tông, hộp bánh.

  1. 3. Tổ chức thực hiện

a) Giới thiệu chủ đề

– Giáo viên chuẩn bị và treo những bức tranh hoặc ảnh to của bé trai và bé gái trên trường lớp học.

– Giáo viên trò chuyện với trẻ về những bức tranh, ảnh đó. Đưa ra các câu hỏi và khuyến khích trẻ đặt các câu hỏi để hướng trẻ vào chủ đề một cách tự nhiên. Ví dụ : “Bạn trong tranh/ảnh tên là gì?”, “Có ai biết bạn này không?”, “Chúng ta cùng làm quen với bạn nào!”…

b) Khám phá chủ đề

Thông qua việc triển khai các hoạt động của kế hoạch tuần, giáo viên chú ý :

– Cho trẻ soi gương, quan sát các bức tranh to về cơ thể của bé, kích thích tính tò mò của trẻ : “Chúng ta đã biết gì về bản thân mình, về cơ thể mình?”

– Trò chuyện đàm thoại để trẻ kể và giới thiệu về mình.

– Tạo tình huống qua các trò chơi để trẻ được trải nghiệm, khám phá chức năng của các giác quan như cho trẻ ngửi, nếm các mùi, vị khác nhau; Nghe những âm thanh phát ra từ các đồ vật khác nhau và tự nhận xét, phán đoán.

– Cho trẻ thực hành rửa tay, rửa mặt, cảm nhận sự sạch sẽ của cơ thể…

– Cho trẻ tham gia các hoạt động tạo sản phẩm theo mục đích của chủ đề (in hình bản thân trên giấy to, cắt dán các giác quan trên hình vẽ khuôn mặt, làm đồ chơi, làm biểu đồ so sánh chiều cao, cân nặng).

– Tổ chức hát múa, trò chơi vận động…

* Trong giờ đón trẻ

– Tùy tình hình cụ thể, giáo viên có thể nhắc trẻ tự làm các việc như cất giày dép, tìm đúng tên mình ở nơi cất túi đồ dùng riêng, hoặc giúp trẻ nhận biết họ tên, giới tính của mình, của bạn qua điểm danh, qua cách giáo viên mô tả một số nét nổi bật của bạn, chẳng hạn, “đố biết bạn có cái nơ đỏ tên là gì?”.

Việc thực hiện những hoạt động này với trẻ phải rất tự nhiên, nhẹ nhàng như một trò chơi và mỗi ngày có thể thực hiện một ít, với một vài trẻ.

* Hoạt độn ngoài trời

Giáo viên nên tổ chức các hoạt động phù hợp với mục đích của chủ đề nhánh. Ví dụ :

– Với nội dung “Tìm hiểu và khám phá các giác quan vị giác, khứu giác”, thì nội dung hoạt động ngoài trời có thể là : Cho trẻ ngửi, phân biệt, so sánh một hai ba loại hoa, lá, quả…có trong vườn. Tổ chức tham quan nhà bếp để trẻ ngửi mùi, nếm vị thức ăn…

– Nếu cho trẻ “Tìm hiểu và khám phá về các giác quan thị giác, xúc giác” thì nội dung hoạt động ngoài trời có thể là :

+    Quan sát một vài hiện tượng thiên nhiên : ánh nắng rực rỡ, gay gắt, yếu ớt…Gió thổi khẽ, mạnh, ào ào…lá rơi nhẹ nhàng…Trẻ nhặt lá cắm lọ hoặc chơi đồ hàng…

+    Cho trẻ chơi với cát, nước, sỏi…

+    Chơi các trò chơi tập thể như : “Nghe tiếng hát đoán tên bạn”, “Cái túi kì lạ”, “Ai ném trúng đích”…

– Với mục đích “Tìm hiểu khám phá giác quan nghe”, có thể cho trẻ nghe phân biệt, và nhắc lại tiếng chim hót, tiếng xe, tiếng ồn, tiếng nhạc, tiếng rao bán hàng…

– Có thể cho trẻ thu thập các loại lá khác nhau và xếp hình bé trai, bé gái.

– Ở thời điểm hoạt động ngoài trời, giáo viên nên cô gắng tạo ra các cơ hội để trẻ trò chuyện, kể lại những gì trẻ nhìn, thấy, nghe thấy, cảm thấy ở sân trường…

– Giáo viên phải tạo ra những hoạt động để trẻ có thể sử dụng được nhiều giác quan khác nhau trong việc quan sát, khám phá một hiện tượng, sự vật nào đó.

* Hoạt động học có chủ định

Khi thực hiện hoạt động học, giáo viên cần biết cách phối hợp nhẹ nhàng, tránh gò bó. Giáo viên cần tích hợp nội dung trọng tâm của chủ đề với 1, 2 nội dung khác có tính chất bổ trợ, nhằm phát triển nhiều mặt cho trẻ.

– Giáo viên nên đưa kiến thức mới đan xen với các kiến thức trẻ đã biết, tránh tình trạng chỉ toàn cung cấp kiến thức mới khiến trẻ căng thẳng, hoặc chỉ ôn luyện kiến thức cũ làm trẻ chóng nhàm chán.

– Giáo viên cần kết hợp nhiều phương pháp giáo dục sao cho trẻ được hoạt động tích cực, được trải nghiệm, được nói, giao tiếp. Khuyến khích trẻ trả lời các câu hỏi “ai?”, “cái gì?”, “tại sao?”, “làm như thế nào?”…Kích thích sự tò mò khám phá, tạo cơ hội để trẻ tự tìm hiểu, so sánh khi lĩnh hội một kiến thức nào đó.

* Chơi, hoạt động ở các góc

– Tùy theo nội dung trọng tâm của chủ đề trong ngày, cũng như những nội dung, kĩ năng cần ôn luyện mà giáo viên có thể triển khai các góc chơi hoặc thay đổi các góc hoạt động của các ngày trong tuần một cách linh hoạt, phù hợp.

– Giáo viên có thể sử dụng góc để hướng dẫn một kĩ năng mới giúp trẻ ôn luyện lại kĩ năng cũ hoặc tổ chức, chuẩn bị học liệu để trẻ tự hoạt động, khám phá theo chủ đề.

– Giáo viên cần lưu ý, sắp xếp, gợi ý, điều chỉnh sao cho tránh tình trạng có quá nhiều trẻ, hoặc trẻ chơi quá lâu trong một góc…

– Các góc cụ thể :

+    Góc chơi đóng vai : Chơi đóng vai : Mẹ con, phòng khám nha khoa/khám mắt; cửa hàng thực phẩm/bách hóa/cửa hàng ăn uống/cửa hàng đồ chơi…

+    Góc xây dựng : Chơi xây dựng : xây dựng công viên cây xanh/vườn hoa/, nhà của bé. Xếp hình : Bé tập thể dục, bé trai bé gái, bé và bạn, đường về nhà bé…

+ Góc âm nhạc : Cho trẻ nghe để phát hiện và phân biệt âm thanh của các vật liệu khác nhau như gỗ, kim loại, nhựa, giấy…Trẻ tự chơi với các nhạc cụ hoặc các dụng cụ phát ra âm thanh, chơi với các nốt nhạc…; ôn luyện các bài hát đã học của chủ đề.

+    Góc tạo hình : Trẻ có thể tô màu, cắt dán, vẽ, nặn,…“Ảnh của bé”, “Các giác quan của bé”, “Cơ thể của bé”, cắt dán : “Bé tập thể dục” – tô màu “quần áo của bé”…, cắt dán “Những thức ăn bé thích”, “Những việc bé giúp mẹ”, “Những người bé yêu thích”, “Bé còn thiếu những gì”…Vẽ, tô màu, nặn, dán, xé lá, quả, hoa : “Quả ngọt”, “Quả chua”…

+    Góc sách truyện :  Cho trẻ tìm tranh, dán theo nội dung câu chuyện về cách chăm sóc và bảo vệ các giác quan. Đọc cho trẻ nghe những chuyện liên quan đến chủ đề. Hướng dẫn trẻ cách xem, cách đọc và giở sách. Cho trẻ kể lại truyện theo tranh. Hướng dẫn trẻ tự làm sách tranh kể về mình (trong đó bao gồm các tranh bé vẽ về mình, về những người bé yêu quý, những thứ bé thích…). Trẻ có thể mang đến quần áo, ảnh của mình từ nhỏ đến bây giờ để cho các bạn cùng xem và trao đổi về các đồ dùng và các bức ảnh này.

+    Góc khoa học, thiên nhiên : Ở đó trẻ có thể trồng cây, chăm sóc cây, hoa, tìm hiểu phân loại các hiện tượng sự vật theo màu, mùi hương, kích thước, hình dáng…theo vị chua, ngọt bằng các giác quan…Lập biểu đồ chiều cao. Thực hiện các khám phá khoa học như “Đoán xem hai cốc nước có gì khác nhau”, trò chơi “Tìm đúng chỗ”, “Chiếc túi kì lạ”…

* Hoạt động buổi chiều

Có thể tiến hành dưới hình thức nhóm nhỏ hoặc cả lớp (học lại các bài hát, điệu múa; chơi các trò chơi luyện giác quan; hướng dẫn trẻ cách chăm sóc giữ gìn tay chân, mắt, mũi như rửa tay, cách ngồi xem sách…).

c) Đóng chủ đề

Chuẩn bị sang một nhánh chủ đề hoặc một chủ đề mới, giáo viên có thể giúp trẻ nhớ lại những điều đã được học và khám phá về bản thân, ví dụ :

– Đàm thoại, gợi cho trẻ nhớ lại những nội dung cốt lõi đã được học, được trải nghiệm tìm hiểu về cơ thể và bản thân.

– Cho trẻ biểu diễn văn nghệ, đóng kịch, hát những bài hát có liên quan đến chủ đề.

– Giới thiệu chủ đề mới bằng cách cùng trẻ trưng bày những hình ảnh về “Gia đình của tôi” ở lớp và cùng trẻ cất bớt một số sản phẩm chủ đề Bản thân để trẻ biết rằng sắp sửa học chủ đề mới.

  1. 4. Đánh giá

Giáo viên ghi chép nhật kí hằng ngày thông qua những quan sát trẻ trong khi hoạt động hoặc các sản phẩm của trẻ.

– Đặt câu hỏi để biết trẻ hiểu biết đến đâu, bằng cách nào, trẻ có khó khăn gì, trẻ cần sự giúp đỡ gì…

– Giáo viên cần có những điều chỉnh gì về mục tiêu, yêu cầu, kế hoạch đã đề ra, hoặc về nội dung, phương pháp tiến hành hoạt động.

Một số điểm cần lưu ý khi xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục:

  • Khi xây dựng kế hoạch giáo viên cần dự đoán các khả năng thực hiện và tính đến các yếu tố sau :

– Khối lượng thời gian trẻ cần có để tiến hành các hoạt động.

– Các hoạt động cần phù hợp và mang tính liên tục, liên kết với nhau.

– Yêu cầu đa dạng hoạt động và thay đổi không để trẻ ngồi một chỗ quá lâu.

– Xen kẽ một số hoạt động gây ra tiếng ồn và các hoạt động khác tương đối yên tĩnh.

– Sử dụng một số hoạt động hữu ích để quản lí lớp và đưa lớp lại gần nhau như các thủ thuật hay trò chơi.

– Chú ý lồng ghép đan xen các nội dung và hoạt động một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, tránh ôm đồm, quá sức của trẻ.

  • Trong quá trình thực hiện kế hoạch, giáo viên càn linh hoạt, thường xuyên xem xét và điều chỉnh kế hoạch hoặc giáo án cho phù hợp với nhu cầu, trình độ phát triển của trẻ lớp mình, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất ở địa phương :

Vận dụng các hình thức tập thể cả lớp, nhóm nhỏ và cá nhân một cách linh hoạt tùy thuộc vào nội dung giáo dục cơ thể. Ví dụ, khi giảng dạy một nội dung mới hoặc khi giáo viên muốn trẻ phản hồi lại những điều đã học thì sử dụng hình thức tập trung cả lớp; ngược lại trong luyện tập thao tác, củng cố kĩ năng thì hình thức hoạt động theo nhóm hoặc cá nhân là thích hợp hơn. Cũng có nội dung hoạt động đòi hỏi kết hợp 2 hình thức : cả lớp trước (giáo viên nêu vấn đề khêu gợi); sau đó thì hoạt động tổ nhóm hoặc cá nhân và cuối hoạt động lại tiến hành nhận xét trước cả lớp.

Sử dụng triệt để các điều kiện có lợi của môi trường xung quanh (lớp học, sân trường, cây trồng, vật nuôi, địa điểm tham quan,các hiện tượng thiên nhiên, con người) cho trẻ tiếp xúc, quan sát, tìm hiểu thực tế để mở rộng tầm hiểu biết. Giáo viên dẵn dắt trẻ tham gia sáng tạo ra môi trường và sử dụng môi trường vừa sáng tạo ra để tổ chức các hoạt động dạy học.

Tạo điều kiện cho trẻ tích cực sử dụng nhiều giác quan trong quá trình hoạt động (ví dụ, nhận biết hoa quả từ nhiều góc độ khác nhau : nhìn, sờ, ngửi, nghe, nếm); từ đó giúp trẻ nhận thức rõ ràng hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn và tăng thêm độ nhạy cảm của các giác quan và trình độ nhận biết.

Cung cấp đầy đủ cơ hội hoạt động cho trẻ. Trẻ chỉ có thông qua hoạt động mới phát triển được. Do đó, giáo viên chú ý thay đổi quan niệm truyền thống, chưa vội làm hộ hoặc nói thay trẻ mà trước hết hãy cho trẻ cơ hội quan sát, tìm tòi, động não, động chân tay. Sau khi trẻ đã trải qua độc lập suy nghĩ, giáo viên sẽ giúp trẻ khái quát hóa và tìm câu trả lời. Giáo viên chú ý cung cấp cho trẻ địa điểm, thời gian hoạt động và các phương tiện hoạt động được đầy đủ, thỏa mãn được hứng thú và nhu cầu ham hiểu biết của trẻ.

Chú trọgn quá trình giáo dục. Không nên đơn thuần nghĩ mình làm như thế nào, mà nên xem xét trẻ học như thế nào. Giáo viên tìm hiểu đặc điểm và cách học của trẻ, trên cơ sở đó lại suy nghĩ thêm cách dạy thích hợp. Nên dẫn dắt trẻ nhận biết, phân tích, phán đoán, suy luận; dành thời gian nhất định cho trẻ suy nghĩ, không nên cắt ngang dòng suy nghĩ của trẻ hay vội công bố đáp án hoặc sửa chữa những sai sót của trẻ.

Thúc đẩy sự phát triển của mỗi trẻ trên cơ sở trình độ khác nhau. Hoạt động giáo dục là hoạt động thúc đẩy sự phát triển. Do đó, giáo viên cần biết sự chênh lệch trình độ của mỗi trẻ, tôn trọng sự chênh lệch đó, tìm hiểu và nắm vững sự chênh lệch đó, linh hoạt phân nhóm tổ dạy và làm tốt sự phối hợp với phụ huynh để thúc đẩy sự phát triển của trẻ.

– Trong xây dựng kế hoạch chủ đề luôn lưu ý đến hoạt động chơi – hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này. Giáo viên cần hiểu về giá trị của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển của trẻ nhỏ đồng thời biết cách triển khai chương trình giáo dục lấy vui chơi làm hoạt động chủ đạo.

C – TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO HƯỚNG TÍCH HỢP

I – TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI

Vui chơi là hoạt động chủ đạo, đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của trẻ lứa tuổi mẫu giáo vì khi chơi trẻ phát triển toàn diện.

Trẻ lứa tuổi mẫu giáo Bé thường chơi với đồ chơi, chơi cạnh nhau và bắt đầu hoạt động theo nhóm nhỏ (có cả trẻ trai và trẻ gái). Trong khi chơi trẻ bắt đầu tương tác, cộng tác với nhau. Có những biểu hiện đầu tiên của tình bạn và trẻ thích chơi với một vài trẻ nào đó.

Các loại trò chơi được tổ chức trong thực hiện chương trình Giáo dục Mầm non : Trò chơi đóng vai, trò chơi ghép hình, lắp ghép, xây dựng; trò chơi đóng kịch ; trò chơi học tập; trò chơi vận động; trò chơi dân gian và trò chơi với một số phương tiện công nghệ hiện đại.

  1. 1. Vai trò của giáo viên

Hoạt động vui chơi

Cung cấp nguyên vật liệu

Nguồn nguyên vật liệu đầy đủ, đa dạng, phù hợp với độ tuổi, tạo ra sự thử thách, có tính thẩm mĩ và giàu bản sắc văn hóa địa phương

Thiết kế môi trường

Tổ chức không gian phù hợp (chia thành khu vực/góc), sắp xếp logic, gọn gàng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của trẻ, phân loại và bảo quản tốt nguyên vật liệu.

Giám sát và hỗ trợ

Quan sát, lắng nghe, đưa ra gợi ý, cùng chơi để làm mẫu và chỉ dẫn, khuyến khích, giúp đỡ trẻ khi cần thiết.

  1. 2. Nguyên tắc tổ chức hoạt động vui chơi

– Lấy trẻ làm trung tâm, thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng sự quan tâm và phù hợp với khả năng của từng trẻ.

– Tạo điều kiện cho trẻ phát triển mọi mặt : thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm-xã hội và thẩm mĩ.

– Khai thác kinh nghiệm thực tế của trẻ, tận dụng môi trường sẵn có và cho trẻ thực hành được nhiều nhất.

– Cân đối hài hòa các hoạt động : theo cá nhân và nhóm, trong lớp và ngoài trời, tĩnh và động, hoạt động do trẻ khởi xướng và do giáo viên khởi xướng…

– Linh hoạt theo tình hình địa phương (sự kiện, truyền thống văn hóa).

  1. 3. Hình thức tổ chức hoạt động vui chơi

Có 2 hình thức của hoạt động vui chơi, đó là :

a) Chơi theo ý thích (cá nhân hoặc nhóm, ở các góc hoạt động trong lớp hay   ngoài trời)

– Đây là hình thức trẻ tự khởi xướng, tự do lựa chọn tham gia các hoạt động tùy ý thích, tự định ra cách thức tiến hành và biết kiểm soát quá trình chơi dựa vào kinh nghiệm của trẻ. Nếu lớp có các góc chơi, trẻ sẽ tự động chọn góc, tham gia vào trò chơi mà trẻ thích.

– Giáo viên đóng vai trò quan sát và khuyến khích, mở rộng hoạt động vui chơi của trẻ bằng cách tạo điều kiện cho trẻ chơi (cung cấp đồ dùng-đồ chơi, dành thời gian để trẻ chơi), đặt ra những câu hỏi gợi mở để hướng dẫn trẻ, khen ngợi, động viên trẻ và tiếp cận cá nhân khi cần thiết.

– Hình thức chơi này phát triển khả năng tự lực và tự tin ở trẻ.

b) Chơi theo kế hoạch giáo dục (cá nhân hoặc nhóm, ở trong lớp hay ngoài trời)

– Nội dung chơi dựa trên kế hoạch giáo dục phù hợp chủ đề trong chương trình giáo dục theo độ tuổi.

– Giáo viên căn cứ vào kế hoạch giáo dục tổ chức môi trường hoạt động bố trí không gian, thời gian thích hợp, gợi mở nội dung chơi hướng trẻ tự lựa chọn chỗ chơi, đồ chơi, bạn chơi theo ý thích, đưa ra ý tưởng chơi phù hợp với nội dung giáo dục và chủ đề đang triển khai.

– Hai hình thức chơi nêu trên hướng đến tổ chức thực hiện nội dung giáo dục theo hướng tích hợp và cung cấp cơ hội cho trẻ “chơi mà học”, “chơi mà thực hành”, trẻ tự học được các kĩ năng và kiến thức cần thiết theo hoạch định của chương trình qua chơi, phù hợp với chủ đề.

  1. 4. Hướng dẫn chung về hoạt động vui chơi

Phương pháp hướng dẫn các loại trò chơi cơ bản nói chung không thay đổi, tuy nhiên cần lưu ý đặc điểm từng loại trò chơi và hình thức của hoạt động vui chơi để giúp trẻ chơi một cách có hiệu quả.

Khi tổ chức trò chơi giáo viên cần :

– Đảm bảo tính tự nguyện và hứng thú của trẻ trong việc lựa chọn trò chơi, tham gia vào nhóm chơi, chọn bạn chơi, góc chơi, đồ dùng, đồ chơi,…

– Cung cấp một số hiểu biết, kinh nghiệm cho trẻ gắn với nội dung chủ đề và chủ đề chơi;

– Chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi mang tính gợi mở, phong phú, đa dạng, và sắp xếp bố trí ở trong tầm mắt của trẻ, thuận lợi cho việc mở rộng nội dung chơi, gắn với chủ đề.

– Bố trí các góc thuận tiện, hợp lí, thỉnh thoảng đổi chỗ và thay đổi đồ dùng, đồ chơi để hấp dẫn trẻ.

– Đảm bảo tính phát triển của trò chơi : Mở rộng nội dung chơi, hành động chơi dựa trên hứng thú và kinh nghiệm của trẻ phù hợp với độ tuổi.

– Đảm bảo tính linh hoạt và sáng tạo của trẻ : Giáo viên có thể gợi ý và cho trẻ tự lựa chọn phương tiện, đồ dùng, đồ chơi, đặt tên trò chơi, khơi gợi những kinh nghiệm trẻ đã có, đề xuất ý tưởng chơi phù hợp với hứng thú, phù hợp với điều kiện thực tế của nhóm/lớp. Có đồ chơi và nguyên vật liệu hay đồ dùng chưa hoàn thiện, khuyến khích trẻ làm đồ chơi tiếp tục trong quá trình chơi. Khi trẻ lựa chọn đồ chơi, nội dung chơi,…giáo viên phải tôn trọng sự lựa chọn, và sáng tạo của trẻ và khuyến khích, giúp trẻ thể hiện đúng vai chơi, luật chơi và các mối quan hệ hợp tác, giao tiếp trong nhóm chơi, phát triển nội dung trò chơi phù hợp với mục đích giáo dục và chủ đề.

– Luôn gợi ý trẻ thay đổi vai chơi, không nên để tình trạng trẻ chỉ chơi một vai hay chơi một mình hoặc chơi ở một nhóm nào đó quá lâu trong 1 tuần.

– Phù hợp với chủ đề đang triển khai, lĩnh vực nội dung trong chương trình, kinh nghiệm, hứng thú của trẻ, điều kiện của địa phương, giáo viên lựa chọn các trò chơi trong các tài liệu tham khảo : Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề (trẻ 3-4 tuổi); Tổ chức hoạt động cho trẻ Mầm non theo hướng tích hợp theo các lĩnh vực phát triển;…

– Số lượng góc chơi tùy thuộc vào tình hình cụ thể của lớp, có thể triển khai 3 hay 4 góc, không nhất thiết phải tổ chức cùng một lúc tất cả các góc chơi.

– Giáo viên hướng dẫn trẻ cùng cất dọn đồ dùng, đồ chơi đúng quy định sau khi chơi.

  1. 5. Gợi ý hướng dẫn tổ chức các loại trò chơi

a) Trò chơi đóng vai

– Là loại trò chơi sáng tạo tiêu biểu nhất. Trẻ đóng vai người khác, qua đó, trẻ bắt chước hành động hoặc lời nói, phản ánh ấn tượng, biểu tượng và hiểu biết của trẻ về các hoạt động và các mối quan hệ xã hội.

– Sử dụng đồ vật thay thế. Ví dụ : Một vài mẩu đất nặn có thể trở thành những miếng bánh; chiếc hộp làm ôtô; trẻ có thể xếp ghế thành hàng chơi trò chơi đi máy bay và dùng các mẫu giấy làm tiền, vé;…

– Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo bé thường không nhớ vai chơi của mình. Vì vậy, giáo viên cần quan sát, đóng vai cùng chơi “nhắc nhở” trẻ thực hiện vai chơi đến cùng.

– Trò chơi đóng vai thường chơi buổi sáng, vào thời điểm chơi ở các góc và chiếm vị trí trung tâm.

  • Lựa chọn trò chơi đóng vai

Phù hợp với chủ đề đang triển khai, kinh nghiệm, hứng thú của trẻ, điều kiện của địa phương, giáo viên đưa ra những gợi mở, khuyến khích trẻ tự lựa chọn các trò chơi. Ví dụ : Đối với chủ đề Trường mầm non, giáo viên có thể đưa ra những gợi ý phù hợp kinh nghiệm, hứng thú của trẻ gắn với chủ đề để có thể tự lựa chọn các trò chơi đóng vai, như trò chơi : Cô giáo; Mẹ con; Bác sĩ; Nhà bếp trường mầm non; Cửa hàng hoa quả; ôtô khách (góc đóng vai) và có thể gợi ý mở rộng với các trò chơi khác gắn với chủ đề như trò chơi : Phòng triển lãm tranh của Bé (góc tạo hình); Vườn hoa của trường mầm non (góc xây dựng); Thư viện trường mầm non (góc thư viện), v.v…

  • Hướng dẫn thực hiện

– Giáo viên có thể giới thiệu các góc chơi, khu vực hoạt động, cùng thảo luận, gợi ý trẻ tự chọn trò chơi, chỗ chơi, chọn nhóm chơi. Khi trẻ đã về các nhóm chơi, cô cùng thảo luận với trẻ, đưa ra những gợi ý giúp trẻ tự chọn vai chơi (bạn chơi), thực hiện ý tưởng chơi. Trong quá trình tổ chức cho trẻ chơi, giáo viên cũng có thể cùng chơi với trẻ, đóng vai giống vai của trẻ để làm mẫu, giúp trẻ sử dụng đồ dùng, đồ chơi và thể hiện được vai chơi trong quá trình chơi.

Ví dụ : Chơi “Mẹ con” – đóng vai mẹ thì biết bế con, ru con ngủ, nấu ăn, mặc quần áo cho con, đưa con đi chơi…Nếu qua quan sát, nhận thấy trẻ chưa thể hiện đúng vai chơi, giáo viên có thể cùng đóng vai để hướng dẫn trẻ phản ánh hoạt động của vai mẹ thông qua việc chơi với búp bê một cách phù hợp chứ không nghịch búp bê (quăng, xách, túm tóc, rứt tay chân). Giáo viên khuyến khích, tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nhau, khơi gợi để trẻ tham gia các vai chơi khác nhau.

– Việc nhận xét được thực hiện ngày trong quá trình chơi, giáo viên khen ngợi, động viên kịp thời khi trẻ biết cách chơi với đồ chơi, hành động theo đúng vai, nhận vai và thống nhất với nhau trong nhóm chơi nhỏ.

  • Ví dụ gợi ý tổ chức trò chơi đóng vai “Mẹ con” (góc chơi đóng vai) chủ đề “Gia đình”.

Mục đích

– Trẻ nhận biết và phản ánh được một vài hành động đặc trưng của người mẹ (chăm sóc con cái) : bế con, cho con ăn, ru con ngủ; biết gia đình có bố, mẹ, con cái.

– Trẻ biết chơi với nhau thành nhóm 2-3 trẻ, sử dụng đúng đồ chơi để thể hiện vai chơi, không tranh giành đồ chơi.

Chuẩn bị

– Trò chuyện với trẻ về người mẹ và công việc của mẹ ở nhà.

– Một số búp bê và quần áo búp bê.

– Một vài bộ đồ chơi nấu ăn.

Tiến hành

– Giáo viên gợi ý cho trẻ tự chọn chỗ chơi, chọn nhóm chơi và vai chơi.

– Giáo viên cho trẻ tự lấy đồ chơi và búp bê, cùng nhóm bạn chơi sắp xếp chỗ chơi. Trong quá trình trẻ chơi, giáo viên có thể cùng với trẻ trao đổi để giúp trẻ nhớ các hành động cần thiết, thể hiện đúng vai chơi, giáo viên gợi ý mối quan hệ giao tiếp trong nhóm chơi. Giáo viên cùng đóng vai mẹ, bế búp bê đến cạnh nhóm chơi và nói :“Con của các bác ngoan nhỉ! Con tôi đang khóc đòi ăn. Tôi phải cho nó ăn bột đây!”. Cô giáo lấy bát, thìa và xúc cho búp bê ăn xong, lau mồm rồi ru búp bê ngủ (cô giáo cũng có thể nhờ một trẻ cầm giúp bát bột một lát, hoặc đưa cho cô chiếc khăn lau,…nhằm thu hút sự chú ý của trẻ). Dưới hình thức đó, trẻ bắt chước cô giáo tái tạo hành động đặc trưng nhất của người mẹ trong chăm sóc con cái.

– Để mở rộng nội dung và mối quan hệ của trẻ trong nhóm chơi, giáo viên gợi ý cho các “bà mẹ” trao đổi với nhau về các công việc của mình đối với việc chăm sóc “con” của họ hoặc gợi ý các “bà mẹ” đưa “con” đi khám bệnh, chơi công viên, đưa “con” đến thư viện xem sách truyện,…

– Khi thấy trẻ có những biểu hiện tốt, giáo viên nhận xét ngay : “Bác Hằng cho con ăn khéo quá!”, “Bác Tuyết chùi miệng cho con thật nhẹ nhàng và sạch sẽ”, “Bác Hiền hát ru con rất hay!”…Tùy tình huống cụ thể, cô giáo đưa ra những nhận xét phù hợp.

b) Trò chơi đóng kịch

– Trò chơi đóng kịch là dạng của trò chơi phan vai theo các tác phẩm văn học – Kịch bản phỏng theo câu chuyện và các vai là những nhân vật trong truyện.

– Trong quá trình đóng kịch, trẻ phản ánh tích cách, hành động, quan hệ xã hội của các nhân vật trong các tác phẩm văn học và thể hiện thái độ đối với nhân vật thông qua điệu bộ, giọng nói và hành động.

– Trò chơi đóng kịch được tổ chức như một hoạt động sáng tạo, tự lập của trẻ. Tất cả trẻ lần lượt tham gia. Trò chơi đóng kịch hướng đến hoạt động biểu diễn văn nghệ.

– Trò chơi đóng kịch có thể chơi vào buổi chiều, 1-2 lần/tuần. Đối với trẻ mẫu giáo bé, bước đầu làm quen với loại trò chơi này, giáo viên không nên đòi hỏi nhiều ở trẻ, mà cho trẻ đóng các vai có sự giúp đỡ tích cực của cô giáo, nhưng trẻ được sống cùng tâm trạng, cảm xúc, thể hiện hành vi cử chỉ của nhân vật mà mình đóng, đó mới là điều quan trọng nhất. Dần dần trẻ sẽ thể hiện vai các nhân vật một cách độc lập hơn.

  • Một số trò chơi đóng kịch và lựa chọn

Phụ thuộc nội dung giáo dục, chủ đề đang triển khai, kinh nghiệm của trẻ và nội dung của các câu chuyện mà trẻ đã nắm được, cô giáo có thể gợi ý giúp trẻ lựa chọn những trò chơi đóng kịch phù hợp : “Đôi bạn tốt”, “Có một bầy hươu”, “Bác voi tốt bụng”, “Gấu con bị đau răng”, “Chú vịt xám”, “Mỗi người một việc”, “Nhổ củ cải”, “Cô bé quàng khăn đỏ”, “Chú đỗ con”, “Hoa mào gà”, “Cóc kiện trời”, “Giọt nước tí xíu”, “Bác gấu đen và hai chú thỏ”, “Thỏ con ăn gì?”, “Ba người bạn”,…

Ví dụ : Chủ đề Gia đình –giáo viên có thể tổ chức cho trẻ chơi trò chơi đóng kịch phỏng theo truyện : “Nhổ củ cải”, “Cô bé quàng khăn đỏ”, v.v…

  • Ví dụ gợi ý tổ chức trò chơi đóng kịch phỏng theo truyện “Nhổ củ cải” trong chủ đề Gia đình.

Mục đích : Thể hiện được hành động, lời nói của nhân vật trong truyện.

Chuẩn bị : Cho trẻ nắm được nội dung cốt truyện, xây dựng nội dung kịch bản, trẻ cùng giáo viên chuẩn bị trang phục – bộ râu ông già, khăn chùm đầu cho bà già, mũ rối cho củ cải, chó, mèo, chuột.

Tiến hành

Giáo viên để trẻ tự nhận hoặc phân công các vai : ông già, bà già, cháu gái, chó, mèo, chuột. Mỗi vai phân công một số trẻ đóng.

Giáo viên chuẩn bị lời dẫn chuyện và là người dẫn chuyện, trẻ đóng các vai diễn theo nội dung của kịch bản.

Cho trẻ tập các động tác và câu nói của từng nhân vạt. Chia các vai vào từng nhóm.

Lần lượt từng nhóm chơi đóng kịch.

c) Trò chơi xây dựng, lắp ghép

– Nội dung chơi các công trình xây dựng, sản phẩm của trò chơi lắp ghép thường gắn với chủ đề chơi của trò chơi đóng vai và gắn với chủ đề giáo dục đang triển khai.

– Phản ánh ấn tượng, biểu tượng và hiểu biết của trẻ về thế giới vật chất thông qua hình khối.

– Sử dụng sáng tạo, đa dạng các loại nguyên vật liệu : các hình khối với các kích thước, màu sắc khác nhau, các viên gạch đồ chơi, các khuôn gỗ, các khối nhựa ghép hình, bộ lắp ráp với các màu khác nhau, đồ chơi với cát, nước, đồ chơi có sẵn (ôtô, máy bay…).

– Trẻ có thể sử dụng đồ chơi, đồ dùng trong lớp, các sản phẩm từ những hoạt động của các nhóm chơi khác vào trò chơi xây dựng.

  • Một số trò chơi xây dựng, lắp ghép và lựa chọn

– Tùy thuộc vào chủ đề chơi chung và chủ đề giáo dục đang triển khai và điều kiện cụ thể cô giáo viên có thể gợi ý, khơi gợi hứng thú của trẻ lựa chọn các trò chơi phù hợp : Xếp đường đi, em bé, bạn của bé, bé tập thể dục. Ghép hình các con vật, cây, hoa, quả. Lắp ghép bàn ghế, tủ, giá sách, đồ dùng-đồ chơi, ô tô, tàu hỏa, đường tàu. Xây lóp học, hàng rào, bồn cây, vườn, ngôi nhà của bé, chuồng trại, ga ra ô tô, bến xe, nhà ga, bến cảng, sân bay, ngã tư đường phố, công viên. Chơi xây dựng với cát, nước, v.v…

– Tùy theo chủ đề và điều kiện cụ thể có thể gợi ý trẻ chọn những trò chơi xây dựng, lắp ghép phù hợp. Lắp ghép bàn ghế, tủ, giá sách, đồ dùng-đồ chơi. Xây ngôi nhà của bé, v.v…

– Trò chơi xây dựng, lắp ghép thường cùng tiến hành với trò chơi đóng vai vào buổi sáng ở các góc và chơi theo ý thích vào buổi chiều và chiếm vị trí trung tâm.

  • Hướng dẫn thực hiện

– Cung cấp cho trẻ một số biểu tượng, hình ảnh về các công trình xây dựng, cho trẻ quan sát mẫu lắp ghép và xếp hình với màu sắc, hình dạng khác nhau.

– Giáo viên cho trẻ thao tác với đồ chơi và cùng chơi với trẻ, vừa chơi vừa giải thích cách làm cho trẻ (trình tự xếp, chọn vật liệu theo màu sắc, kích thước…). Sau đó đưa ra một số mẫu, nhưng không áp đặt trẻ làm đúng như mẫu, nhằm phát huy tính sáng tạo của trẻ. Trẻ nào không làm được, giáo viên chỉ bảo tỉ mỉ cho trẻ cách làm. Khi trẻ đã có một số kĩ năng nhất định, giáo viên hướng trẻ vào các chủ đề chơi.

– Phụ thuộc vào chủ đề, cô có thể khơi gợi, kích thích trẻ đưa ra ý tưởng chơi gì? và chơi như thế nào?, chọn vật liệu, màu sắc; trình tự tiến hành cái gì làm trước, cái gì làm sau?

– Từ những công trình đơn lẻ; trẻ có thể phối hợp với nhau thành một công trình chung trong buổi chơi.

Ví dụ : Khi tiến hành triển khai chủ đề Thực vật, trẻ chọn chơi trò chơi “Xây dựng công viên”, trong quá trình tiến hành trò chơi giáo viên gợi mở giúp trẻ nêu lên xây dựng “công viên” thì xây dựng như thế nào : cái gì trước, cái gì sau, công viên sẽ trồng những cây, hoa gì, có các khu vực vui chơi, giải trí nào, gợi ý để trẻ phân công các công việc : một trẻ xây hàng rào, một trẻ xây bồn hoa, một trẻ xây hồ nước, một trẻ xây cầu,…

– Giáo viên có thể phát triển các kĩ năng ngôn ngữ của trẻ bằng cách khuyến khích trẻ nói chuyện với nhau về những gì đang làm, tạo tình huống thích hợp cho trẻ chơi và rèn luyện hành vi ứng xử phù hợp qua vai chơi.

  • Ví dụ gợi ý tổ chức trò chơi “Xây nhà” khi triển khai chủ đề “Gia đình”, “Nghề nghiệp” hoặc “Trường lớp mầm non”.

Mục đích

– Trẻ biết sử dụng các vật liệu khác nhau để xây dựng các kiểu nhà đơn giản.

– Trẻ có thể nói cách xây, kể về sản phẩm của mình bằng các câu đơn giản.

Chuẩn bị

– Các hình vuông, hình tam giác và chữ nhật có màu sắc khác nhau.

– Cho trẻ xem, quan sát tranh về các ngôi nhà khác nhau xây từ hình vuông, tam giác và chữ nhật.

Tiến hành

– Cho trẻ lựa chọn nhóm chơi và lựa chọn vật liệu để xây nhà (hình vuông, tam giác và chữ nhật).

– Trẻ xây nhà theo các hình mẫu mà trẻ thích (cô giáo có thể hỏi trẻ về ý tưởng, giúp trẻ lựa chọn kiểu nhà nếu cần thiết).

– Trẻ tự đặt tên ngôi nhà, khu nhà xây được và nói cách xây hoặc kể về sản phẩm của mình.

d) Trò chơi học tập và trò chơi vận động

Khi lựa chọn trò chơi học tập và trò chơi vận động giáo viên cần :

– Căn cứ vào thực tế của nhóm/lớp, hứng thú, kinh nghiệm đã có và khả năng của trẻ.

–  Căn cứ nội dung chủ đề đang triển khai, mục đích, nộid ung và nhiệm vụ nhận thức trọng tâm của hoạt động học có chủ định.

– Đảm bảo tính tích hợp của nội dung giáo dục và những nội dung cần được tiếp tục củng cố và luyện tập.

– Căn cứ vào các hoạt động mang tính tĩnh và động.

  • Trò chơi học tập

– Rèn luyện và phát triển các giác quan, năng lực trí tuệ của trẻ như nhận xét, so sánh, phân tích, tổng hợp, tư duy ngôn ngữ…

– Hứng thú của trẻ hướng vào đồ chơi. Trẻ thu nhận ấn tượng bằng cách cảm thụ trực tiếp với đồ vật. Trẻ tập trung chú ý vào đặc điểm riêng (hình dáng, màu sắc, kích thước) của sự vật. Tuy nhiên biểu tượng của trẻ về sự vật, hiện tượng còn nghèo nàn.

– Tùy theo chủ đề, mục đích và nội dung giáo dục, hứng thú, kinh nghiệm của trẻ và điều kiện cụ thể của lớp có thể gợi ý trẻ chọn những trò chơi học tập phù hợp để tổ chức. Ví dụ, chủ đề Nghề nghiệp : Cửa hàng quần áo; Đi siêu thị mua sắm. Ai đoán đúng?…

– Trò chơi học tập được sử dụng vào một phần của giờ học và là phương pháp tiến hành hoạt động học có chủ đích, hoặc được tổ chức như một trò chơi mang tính độc lập.

  • Hướng dẫn thực hiện

– Cô giáo chuẩn bị đồ chơi, đồ dùng, học liệu cần thiết đủ cho mỗi trẻ, lựa chọn trò chơi phù hợp với mục đích và nội dung gắn với chủ đề.

– Giáo viên cùng chơi với trẻ để trẻ bắt chước. Giáo viên giải thích ngắn gọn và hướng trò chơi vào nhiệm vụ nhận thức.

– Với trò chơi mới, khó, giáo viên giải thích rõ ràng, ngắn gọn luật chơi, tổ chức cho trẻ chơi nhiều lần để trẻ nắm được luật chơi, yêu cầu trẻ thực hiện đúng luật chơi.

  • Ví dụ gợi ý tổ chức trò chơi “Gia đình ngăn nắp”

Mục đích : Trẻ biết phân nhóm đồ vật, đồ dùng của gia đình theo công dụng và chất liệu.

Chuẩn bị : Đồ chơi, lô tô…

Tiến hành

– Trẻ chơi thành nhóm. Mỗi nhóm là một gia đình.

– Mỗi gia đình chọn một loại đồ dùng theo công dụng nào đó : đồ dùng nấu bếp, đồ ăn, đồ uống,…

– Sau đó, chọn theo chất liệu rồi giới thiệu tên gọi và công dụng của các đồ vật có cùng chất liệu.

– Sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp đồ vật, đồ dùng của gia đình mình.

  • Trò chơi vận động

– Là loại trò chơi sử dụng cơ bắp và toàn bộ cơ thể. Trò chơi vận động phát triển cả vận động thô và tĩnh, cũng như sự kiểm soát các cơ và các kĩ năng phối hợp. Trò chơi vận động giúp trẻ hiểu biết về không gian và hình thành tính tự tin.

– Với lứa tuổi mẫu giáo bé, trò chơi vận động chỉ nhằm rèn luyện động tác cơ bản cho thuần thục. Các trò chơi vận động theo luật có động tác nhẹ nhàng, đơn giản: thể lệ dễ nhớ, dễ theo; có thể chơi ít hoặc nhiều người.

– Trò chơi vận động thường phù hợp với không gian bên ngoài hơn trong phòng.

– Tùy theo chủ đề, nội dung giáo dục, kinh nghiệm và hứng thú của trẻ, các điều kiện cụ thể có thể gợi ý trẻ chọn những trò chơi vận động phù hợp. Ví dụ: Chủ đề Giao thông : Em đi trên đường phố; Thuyền vào bến; Đèn đỏ, đèn xanh; Máy bay.

– Trò chơi vận động thường được tổ chức sau các hoạt động tĩnh, sau khi ngủ dậy và trong thời gian vui chơi ngoài trời và có thể tổ chức như hình thức độc lập. Trò chơi vận động cũng có thể được vận dụng đưa vào như một phần “phương pháp tổ chức hoạt động học có chủ định”. Trò chơi kéo dài không quá 15 phút.

  • Hướng dẫn thực hiện

– Căn cứ vào mục đích, nội dung giáo dục, điều kiện không gian thực tế, nội dung hoạt động trước, sau và thời tiết để tổ chức trò chơi vận động.

– Giáo viên cùng chơi với trẻ (có thể làm trưởng trò), hướng dẫn trẻ thực hiện hành động chơi (giải thích luật chơi, những tín hiệu thay đổi vận động, các hành động chơi) một cách rõ ràng, chậm rãi, kết hợp làm mẫu để trẻ dễ nhận ra và bắt chước.

– Với trò chơi mới, khó, giáo viên cùng chơi (thường sắm vai hoặc làm trưởng trò), khi trẻ đã biết chơi, có thể cho một số trẻ sắm vai chính (trưởng trò).

– Khi hướng dẫn trò chơi trẻ đã biết, giáo viên cần nhắc lại luật chơi, cách chơi. Mỗi lần chơi nên thêm một vài tình tiết, vận động mới hoặc thay đổi hình thức cho trò chơi thêm hấp dẫn nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung hoặc luật của trò chơi để kích thích trẻ hoạt động tích cực và sáng tạo hơn.

– Trong quá trình trẻ chơi, giáo viên động viên kịp thời trẻ thực hiện đúng luật chơi, khuyến khích những trẻ thụ động, chậm chạp tham gia vào trò chơi.

  • Ví dụ gợi ý tổ chức trò chơi “Chó sói xấu tính” (Chủ đề Động vật)

Mục đích : Rèn luyện khả năng phản xạ nhanh theo tín hiệu, phát triển cơ chân, củng cố vận động chạy và củng cố một số hiểu biết về đặc điểm của con vật sống trong rừng.

Chuẩn bị

– Một mũ chó sói. Vẽ một vạch chuẩn quy định nhà của thỏ.

– Luật chơi : Không được chạm vào chó sói. Khi nào sói mở mắt mới được chạy. Sói chỉ được bắt các con thỏ không kịp chạy vào chuồng của mình.

Tiến hành

– Giáo viên đóng vai chó sói, trẻ làm thỏ.

­- “Chó sói” ngồi hoặc đứng ở một góc lớp, cách thỏ 3-5 m. Các chú thỏ nhảy đi chơi : chụ hai chân, vẫy tay trên đầu, tiến về phía sói đang ngủ và nói : “Sói ơi! Ngủ à? Hãy vểnh tai lên mà nghe chúng tôi hát này! Hãy mở mắt ra mà xem chúng tôi chơi này! Dậy đi thôi, mau dậy sói ơi! Sói mở mắt và kêu : “Hừm!” rồi chạy đuổi theo các chú thỏ . Thỏ chạy nhanh về phía nhà mình. Con thỏ nào chạy chậm sẽ bị sói bắt và đổi làm sói. Nếu không bắt được thỏ thì sói lại nhắm mắt chơi tiếp.

– Sau khi trẻ đã biết chơi, giáo viên chọn một trẻ nhanh nhẹn làm sói.

e) Trò chơi dân gian

– Trò chơi dân gian là những trò chơi được sáng tạo, lưu truyền tự nhiên rộng rãi từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang đậm bản sắc văn hóa dân gian. Trò chơi dân gian không chỉ thỏa mãn nhu cầu chơi của trẻ mà còn góp phần hình thành nhân cách của trẻ.

– Trò chơi dân gian phần lớn là những trò chơi có lời đồng dao.

– Đặc điểm cơ bản của trò chơi dân gian là luật chơi của từng trò chơi mang tính ước lệ, tạm thời. Trong quá trình chơi, tùy theo trình độ vốn kinh nghiệm của trẻ , mức độ của từng trò chơi, giáo viên có thể thay đổi luật chơi cho phù hợp, hấp dẫn và hứng thú. Vì vậy, cùng một trò chơi mà mỗi lần chơi có thể chơi theo cách riêng, không nên bắt trẻ rập khuôn theo một kiểu chơi.

– Tùy theo chủ đề, nội dung giáo dục, kinh nghiệm và hứng thú của trẻ và điều kiện cụ thể của lớp, có thể gợi ý trẻ chọn những trò chơi dân gian phù hợp, gắn với nội dung triển khai của chủ đề. Ví dụ, chủ đề Thế giới động vật : Bịt mắt bắt dê, Xỉa cá mè, Chồng đóng chồng đê, Câu ếch…

– Trò chơi dân gian nên chơi ở ngoài trời.

  • Hướng dẫn thực hiện

– Khi hướng dẫn trò chơi dân gian giáo viên cần lưu ý đến nhiệm vụ của trò chơi . Trong các trò chơi có lời đồng dao nhằm kết hợp vui chơi với luyện phát âm cho trẻ, giáo viên phải chú ý cho trẻ phát âm rõ và chính xác. Những lời đồng dao cho xướng âm đồng loạt và nhấn mạnh vào các nhịp (nhịp 2 từ, 3 từ hoặc 4 từ).

– Khi cho trẻ chơi các trò chơi có lời đồng dao, giáo viên đọc đi đọc lại nhiều lần để trẻ thuộc.

– Trong khi chơi không nên bắt trẻ rập khuôn theo một kiểu chơi. Tùy trình độ và khả năng của trẻ, luật chơi, cách chơi, đồ chơi có thể thay đổi làm cho trò chơi thêm hấp dẫn và hứng thú.

– Với những trò chơi lần đầu, giáo viên thường là “trưởng trò” hoặc là “cái” chơi cùng với trẻ, thông qua đó để giải thích luật lệ và hướng dẫn trẻ chơi.

  • Ví dụ gợi ý tổ chức trò chơi “Dung dăng dung dẻ” :

Mục đích : Trẻ biết chơi cùng nhau và phát triển ngôn ngữ, tính nhịp điệu.

Chuẩn bị : Cho trẻ đọc thuộc lời ca.

Tiến hành


Lời 1

Dung dăng dung dẻ

Dắt trẻ đi chơi

Đến ngõ nhà trời

Lạy cậu lạy mợ

Cho cháu về quê

Cho dê đi học

Cho cóc ở nhà

Cho gà bới bếp

Xì xà xì xụp

Ngồi thụp xuống đây.

Lời 2

Dung dăng dung dẻ

Dắt trẻ đi chơi

Đến ngõ nhà trời

Tìm nơi gió mát

Cùng hát véo von

Mời ông trăng tròn

Xuống chơi với bé

Xì xà xì xụp

Ngồi thụp xuống đây.


Trẻ nắm tay nhau thành từng đôi một hoặc thành hàng ngang 4-5 trẻ, vừa đi vừa hát. Khi đọc tiếng  : “dung” thì vung tay về phía trước, tiếng “dăng” thì vung tay về phía sau, tiếp tục như vậy cho đến câu cuối cùng thì ngồi thụp xuống, sau đó đứng dậy.

f) Trò chơi sử dụng phương tiện công nghệ hiện đại

– Giáo viên khai thác và lựa chọn nội dung trò chơi qua phần mềm vi tính dành cho bậc học mầm non, phù hợp với nội dung chủ đề đang triển khai và nội dung trọng tâm của các lĩnh vực giáo dục (Ví dụ : Phần mềm Kidsmart – Ngôi nhà sách của Bailey; Ngôi nhà toán học của Millie…), phát triển ý tưởng từ ngân hàng trò chơi cho trẻ sử dụng.

– Giáo viên gợi ý giúp trẻ sử dụng các lệnh thích hợp để khám phá sự vật, hiện tượng qua các trò chơi mà trẻ lựa chọn.

  1. 6. Đồ dùng – đồ chơi : Lựa chọn đồ dùng đồ chơi theo danh mục thiết bị – đồ dùng – đồ chơi của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Ngoài ra, tùy điều kiện thực tế, giáo viên có thể cùng trẻ làm đồ chơi sử dụng nguyên vật liệu phế phẩm, nguyên vật liệu thiên nhiên…Cô giáo cần lưu ý đến tính an toàn, vệ sinh của các vật liệu.
  2. 7. Gợi ý lập kế hoạch hoạt động vui chơi

a) Hoạt động vui chơi trong chế độ sinh hoạt

Thời điểm đón, trả trẻ : Giáo viên tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi học tập, các trò chơi lắp ghép, chơi với đồ chơi theo ý thích, xem tranh hoặc có thể chơi một số trò chơi dân gian.

Thời gian tổ chức chơi và hoạt động ở các góc : Trong thời gian này có thể tổ chức trò chơi đóng vai, trò chơi lắp ghép, xây dựng (ở góc chơi xây dựng), chơi ở góc tạo hình, âm nhạc, góc khám phá khoa học…

Thời gian hoạt động ngoài trời : Chủ yếu cho trẻ chơi với các trò chơi vận động với các thiết bị chơi ngoài trời, chơi các trò chơi về giao thông đường bộ, các trò chơi dân gian, chơi với nguyên vật liệu thiên nhiên, cát, nước…

Thời gian dành cho các trò chơi vào buổi chiều : Giáo viên nên tổ chức những trò chơi vận động nhằm làm cho trẻ tỉnh táo sau khi ngủ trưa. Sau đó, cho trẻ chơi các trò chơi học tập, hoặc trẻ có thể tham gia vào các hoạt động theo ý thích…Giáo viên cũng có thể tổ chức một số trò chơi nhằm chuẩn bị nội dung sẽ dạy trẻ ngày hôm sau. Nếu cần, giáo viên có thể sử dụng thời gian này để giao tiếp cá nhân, giúp trẻ phát triển phù hợp với đặc điểm riêng, hòa nhập với cả lớp.

b) Có thể lập kế hoạch hoạt động vui chơi

Mục đích – yêu cầu cần nêu : Thông qua tổ chức hoạt động chơi, giáo viên giúp hình thành và củng cố ở trẻ một số hiểu biết , kĩ năng sống và kĩ năng chơi phù hợp với độ tuổi.

Các thời điểm và các trò chơi Không gian Thiết bị, nguyên vật liệu
Các thời điểm có thể chơi: 

- Đón-trả trẻ : Chơi theo ý thích.

- Chơi, hoạt động ở các góc : Trò chơi đóng vai, xây dựng. lắp ghép, chơi với phương tiện công nghệ hiện đại (nêu rõ tên các trò chơi, thời gian).

- Chơi, hoạt động ngòai trời : Trò chơi vận động, Chơi với các thiết bị -đồ chơi ngoài trời, chơi với các vật liệu thiên nhiên, trò chơi dân gian (nêu rõ tên các trò chơi, thời gian).

- Các góc chơi trong lớp (triển khai bao nhiêu góc chơi? Những góc nào?). Ví dụ : chủ đề Gia đình có các góc : góc chơi đóng vai (trò chơi Gia đình của bé), liên kết với các góc chơi khác như : góc xây dựng, góc tạo hình… 

- Khu vực chơi ngoài sân: chỗ chơi với các trò chơi cát-nước, mô hình, chơi dụng cụ (vòng, bóng, xe kéo, xe đạp ba bánh…).

- Thiết bị, đồ chơi ngoài trời ; xích đu, cầu trượt, bập bênh, thùng, các dạng đu quay… 

- Nguyên vật liệu : vật liệu thiên nhiên (nước, cát, hoa, lá, sỏi, đá…), những thứ sưu tầm (phế liệu, đồ dùng gia đình…), những đồ chơi được đem ra từ trong lớp (búp bê, truyện tranh, nhạc cụ…).

Ví dụ gợi ý : Kế hoạch hoạt động chơi Chủ đề Gia đình

Các thời điểm và các trò chơi Không gian Thiết bị và nguyên vật liệu
- Đón-trả trẻ : Trẻ chơi theo ý thích 

- Chơi hoạt động ở các góc :

+ Góc chơi đóng vai :

Gia đình : Mẹ-con, nấu ăn, tìm người nhà.

Bác sĩ : Bác sĩ răng.

+ Góc tạo hình : Vẽ em bé , nặn cái cốc,…

+ Góc xây dựng, lắp ghép: Xây dựng, ngôi nhà của gia đình Bé.

+ Góc khám phá khoa học : Chơi đong nước, chơi trò chơi học tập.

+ Góc âm nhạc : Hát mừng mẹ.

- Chơi, hoạt động ngoài trời :

+ Tổ chức vận động : Giúp mẹ việc nhà, xin lửa.

+ Chơi với các vật liệu thiên nhiên : Dán ngôi nhà của bé bằng lá.

+ Trò chơi dân gian : Kéo cưa lừa xẻ.

- Bố trí khoảng không gian cho các góc chơi khác nhau. 

- Ví dụ : khu vực chơi đóng vai : Góc trong phòng để làm “ngôi nhà” hay “căn phòng”. Bố trí không gian phù hợp cho góc chơi nấu ăn, bán hàng, góc chơi bác sĩ nha khoa.

- Chuẩn bị các khối, hộp to nhỏ khác nhau (có thể làm tủ, giá, bàn, ghế,…) 

- Giường, chăn, gối.

- Búp bê các loại và đồ chơi nấu ăn.

- Các loại thực phẩm, hoa quả…

- Điện thoại, đồ dùng gia đình.

- Đồ dùng, dụng cụ đồ chơi bác sĩ…

II – TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC

Hoạt động học là một trong ba hoạt động cơ bản trong trường, lớp mẫu giáo. Hoạt động học được giáo viên tổ chức, hướng dẫn để thực hiện nội dung giáo dục trong chương tình giáo dục mầm non phù hợp chủ đề nhằm phát triển toàn diện trẻ trên các mặt : Nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm-xã hội và thẩm mĩ.

Xuất phát từ đặc điểm nhận thức và hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo là hoạt động chơi, nên việc học của trẻ ở lứa tuổi này được tổ chức với những hình thức :

Học tự nhiên qua chơi, qua thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.

Học có chủ định dưới sự định hướng và hướng dẫn trực tiếp của giáo viên.

  1. 1. Học tự nhiên qua chơi, qua thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày

Với hình thức này, việc học của trẻ được thực hiện một cách ngẫu nhiên. Trẻ tự tiếp thu kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm sống một cách tự nhiên thông qua việc trẻ tham gia vào chơi, hoạt động ở các khu vực hoạt động, tham gia vào các trò chơi khác nhau ở ngoài trời, dạo chơi, tham gia, tiếp xúc với môi trường tự nhiên, môi trường con người, tham gia vào các lễ hội gần gũi trong trường mầm non và gia đình, các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.

Những điều trẻ tiếp thu được ở hình thức này còn rời rạc, chưa hệ thống và có chỗ chưa chính xác.

– Giáo viên là người tạo cơ hội, tổ chức môi trường, tạo điều kiện phù hợp và thuận lợi, khuyến khích trẻ tích cực tham gia vào hoạt động theo ý thích để nhận thức và phát triển.

– Việc hướng dẫn tổ chức cho trẻ học với hình thức trên được thể hiện trong các phần hướng dẫn : hướng dẫn tổ chức hoạt động vui chơi, tổ chức môi trường hoạt động ở các góc, tổ chức ngày hội, ngày lễ, hoạt động lao động, hướng dẫn tổ chức hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh… của trẻ theo độ tuổi.

  1. 2. Học có chủ định dưới sự định hướng và hướng dẫn trực tiếp của giáo viên

Với hình thức hoạt động này, trẻ học, tiếp thu nội dung, kiến thức, kĩ năng, những hiểu biết dưới sự hướng dẫn và dạy trực tiếp của giáo viên. Nội dung học được cung cấp đến trẻ một cách có mục đích, có hệ thống và được tổ chức theo hướng tích hợp với trình tự đã được dự kiến trong kế hoạch giáo dục, phù hợp với các lĩnh vực nội dung giáo dục, phương pháp dạy học đã quy định trong chương trình. Mục đích tổ chức hoạt động nhằm :

– Cung cấp đến trẻ những nội dung mang tính toàn diện và những kiến thức, kĩ năng mới.

– Giúp trẻ củng cố, hệ thống hóa, chính xác hóa những kiến thức, kĩ năng mà trẻ đã biết , đã tiếp thu ngẫu nhiên trong quá trình chơi, trong khi tham gia vào các hoạt động khác trong ngày.

– Chuẩn bị cho trẻ những yếu tố cần thiết để tham gia vào hoạt động học tập giai đoạn sau này.

a) Hướng dẫn chung

Trong chương trình giáo dục mầm non, hoạt động học là một trong những hoạt động cơ bản thực hiện tổ chức nội dung giáo dục theo hướng tích hợp tác động đến sự phát triển của trẻ một cách toàn diện.

– Hoạt động học quy định trong chế độ sinh hoạt hằng ngày của lớp mẫu giáo bé là hình thức hoạt động học có chủ định : Giáo viên là người trực tiếp hướng dẫn và tổ chức hoạt động học, đặt nhiệm vụ nhận thức cho trẻ thông qua tình huống chơi và giải quyết nhiệm vụ theo quy trình, phương pháp phù hợp với độ tuổi. Trẻ là chủ thể, chủ động tham gia tích cực vào hoạt động để giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới hình thức chơi. Trẻ mẫu giáo bé chủ yếu “học bằng chơi” và học qua thực hành.

– Với hình thức hoạt động này, nội dung học không cung cấp đến trẻ một cách đơn lẻ theo từng “môn” học riêng. Nội dung học được tổ chức, cung cấp đến trẻ theo hướng tích hợp thông qua các lĩnh vực nội dung hoạt động cụ thể như hoạt động : Phát triển vận động; khám phá khoa học tự nhiên – xã hội, làm quen với toán; nghe kể chuyện/đọc thơ/kể chuyện sáng tạo/làm quen với đọc, viết; hoạt động tạo hình (vẽ/ nặn/ xé/ dán/ chắp ghép/ xếp hình); hoạt động âm nhạc thuộc các lĩnh vực nội dung giáo dục trong chương trình (phát triển vận động; phát triển ngôn ngữ; phát triển nhận thức; phát triển tình cảm – xã hội và phát triển thẩm mĩ).

– Nội dung học thường gắn với chủ đề hoặc gắn với sự kiện nào đó gần gũi với trẻ.

Ở lứa tuổi mẫu giáo bé, trên cơ sở mạng hoạt động và hệ thống các khái niệm liên quan đến chủ đề, giáo viên có thể lên lịch hoạt động học trong thời gian biểu (hoạt động học có chủ định) hằng ngày với các lĩnh vực hoạt động cụ thể trên. Nội dung của hoạt động học được tổ chức thực hiện theo hướng tích hợp với sự lồng ghép , đan cài nội dung hoạt động trọng tâm với nội dung của các lĩnh vực hoạt động khác phù hợp, tạo điều kiện cho trẻ khám phá chủ đề với nhiều cách khác nhau. Nhờ đó, trẻ lĩnh hội những hiểu biết, kĩ năng và kinh nghiệm sống liên quan đến chủ đề trong một chỉnh thể và đồng bộ trên các mặt : Thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội và thẩm mĩ.

– Ví dụ : Chủ đề nhánh “Các vật nuôi trong gia đình”.

Cô có thể chọn, sắp xếp trong thời gian biểu hoạt động học theo hướng tích hợp trong một tuần với các lĩnh vực hoạt động trọng tâm khác nhau như :

+ Trò chuyện, thảo luận, khám phá tìm hiểu về một số đặc điểm nổi bật bề ngoài của một số vật nuôi trong gia đình, mối liên quan đến môi trường sống và cách chăm sóc, ích lợi của các con vật nuôi trong gia đình…

+ Đọc thơ “đàn gà con” hoặc kể chuyện về “đôi bạn tốt”/“cả nhà đều làm việc” (sử dụng các từ phù hợp để kể lại chuyện đã được nghe, củng cố một số dấu hiệu, nhận biết một số đặc điểm bề ngoài của một số vật nuôi trong gia đình).

+ Làm quen với toán :“Phân nhóm vật nuôi trong gia đình theo 2 dấu hiệu (đặc điểm nổi bật) và đếm số lượng.

+ Tạo hình : Vẽ “gà mẹ, gà con” (nhận biết đặc điểm bề ngoài và cấu tạo của con gà) thể hiện cảm xúc qua tranh, vẽ con gà, (sự phối hợp về đường nét, hình dạng, màu sắc phù hợp).

+ Hát và vận động minh họa theo bài hát “Đàn vịt con” (thể hiện cảm xúc vui tươi qua giai điệu của bài hát, củng cố một số hiểu biết về các con vật nuôi trong gia đình).

+ Phát triển vận động : Hãy vận động “khéo léo như chú mèo” (tập đi trong đường hẹp và củng cố vận động bò chui, bật tại chỗ).

- Khi tổ chức thực hiện một hoạt động học có chủ đích ở lớp mẫu giáo bé, cô giáo có thể tiến hành vói một nội dung trọng tâm và tích hợp với một hoặc hai nội dung của lĩnh vực hoạt động khác có tính chất củng cố, bổ trợ, phù hợp với nội dung trọng tâm, nhằm tác động đến trẻ một cách toàn diện trên các mặt : thể chất, trí tuệ, tình cảm – xã hội và thẩm mĩ. Mức độ nội dung đưa vào hoạt động thể hiện độ khó vừa đủ , phù hợp với độ tuổi.

- Những nội dung tích hợp, có tính chất bổ trợ cho nội dung trọng tâm thường là những kiến thức , kĩ năng, kĩnh nghiệm mà trẻ đã có, đã biết. Những nội dung này cần được tiếp tục củng cố luyện tập và hỗ trợ cho việc nắm bắt nội dung trọng

tâm một cách thuận lợi dưới nhữnghình thức hoạh động khác.

– Khi tiến hành học có chủ định, tùy theo từng trường hợp cụ thể, một số nội dung trong cùng một lĩnh vực giáo dục có thể tích hợp với nhau. Ví dụ :Trong lĩnh vực phát triển nhận thức, nội dung của hoạt động khám phá về tự nhiên có thể tích hợp với một số nội dung làm quen với toán hoặc tìm hiểu về mặt xã hội.

Hay nội dung của hoạt động trọng tâm của lĩnh vực hoạt động này có thể tích hợp với nội dung của lĩnh vực hoạt động khác có liên quan, bổ trợ làm sâu sắc thêm nội dung trọng tâm. Ví dụ : Những nội dung của lĩnh vực hoạt động phát triển nhận thức có thể tích hợp phù hợp với một số nội dung của hoạt động phát triển ngôn ngữ, hoạt động tạo hình, hoạt động âm nhạc v.v…tạo điều kiện cho trẻ tiếp thu nội dung bằng nhiều cách khác nhau.

– Với trẻ lớp mẫu giáo bé, không nên tích hợp quá nhiều lĩnh vực nội dung hoặc đưa quá nhiều kiến thức mới vào cùng một lúc. Ngược lại, cũng không nên chỉ tổ chức quá thiên về ôn luyện những kiến thức, kĩ năng cũ làm cho hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần, đơn điệu, gây nhàm chán và làm trẻ mệt mỏi.

Trong quá trình tổ chức hoạt động học có chủ định của trẻ, cô cần chú ý sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trên cơ sở :

– Tạo cơ hội cho trẻ phát huy tính tích cực hoạt động để nhận thức : nên chú ý tổ chức cho trẻ trải nghiệm, sử dụng các giác quan, phán đoán, trao đổi và nêu ý kiến riêng…

– Hệ thống các câu hỏi đưa ra cần mang tính gợi mở nhằm kích thích trẻ suy nghĩ và bày tỏ ý tưởng của mình. Cô nên lưu ý đến những trẻ cần sự quan tâm đặc biệt để đưa ra câu hỏi phù hợp với khả năng của trẻ.

– Tạo nhiều cơ hội hơn cho trẻ được làm việc, hoạt động theo nhóm nhỏ và thực hành cá nhân. Không nên làm thay, nói thay trẻ mà hướng dẫn, gợi mở, khuyến khích tất cả trẻ cùng được nói, bày tỏ ý kiến cá nhân và tham gia hoạt động tích cực để giải quyết nhiệm vụ.

– Sau mỗi hoạt động cô cần ghi chép, đánh giá tổng thể về việc học của trẻ, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm và lên kế hoạch điều chỉnh nội dung, phương pháp thích hợp cho hoạt động tiếp theo.

– Trong trường hợp thời gian hoạt động đã kết thúc mà vẫn có trẻ chưa hoàn thành nhiệm vụ, hoặc trẻ vẫn còn hứng thú, cô giáo có thể gợi ý để trẻ tiếp tục hoàn thiện nốt công việc đó vào thời điểm chơi và hoạt động tiếp theo nếu trẻ thích.

b) Gợi ý tiến hành hoạt động và phương pháp tổ chức

  • Tên hoạt động :
  • Mục đích, yêu cầu : Nêu yêu cầu mà trẻ cần nắm được qua hoạt động này.
  • Chuẩn bị : Đồ dùng, đồ chơi, không gian, chỗ ngồi, những kinh nghiệm của trẻ…
  • Các bước tiến hành hoạt động :

-     Tạo động cơ “học” phù hợp thông qua tình huống chơi, gây sự chú ý, hứng thú của trẻ vào quá trình hoạt động.

-     Đặt trẻ vào nhiệm vụ nhận thức thông qua chơi.

-     Sử dụng và phối hợp các phương pháp dạy và học hợp lí, phù hợp với đặc trưng của lĩnh vực hoạt động và khả năng của trẻ, trẻ tham gia giải quyết nhiệm vụ nhận thức theo quy trình phù hợp “học bằng chơi”:

  • Tổ chức cho trẻ quan sát đối tượng hoặc trải nghiệm bằng các giác quan, kết hợp với lời giải thích của cô, khuyến khích trẻ phán đoán, tự phát hiện vấn đề, cùng thảo luận, suy nghĩ nêu cách thực hiện và giải quyết nhiệm vụ đặt ra theo ý kiến của mình.
  • Tổ chức cho trẻ thực hành và luyện tập theo cá nhân và theo nhóm. Đối với nội dung tích hợp mang tính chất bổ trợ và củng cố, vận dụng vào những tình huống mới qua hình thức hoạt động khác phù hợp.

– Đánh giá và kết thúc : Thông qua động cơ chơi, cô đưa ra lời gợi ý, khuyến khích trẻ nhận xét, bày tỏ những cảm xúc, thái độ của mình, của bạn trong quá trình hoạt động. Cô khuyến khích và hướng dẫn trẻ quan tâm đến kết quả của hoạt động. Kết thúc có thể hát một bài hát gắn với chủ đề hoặc chơi một trò chơi nhẹ nhàng có nội dung phù hợp để chuyển sang hoạt động khác.

Ví dụ gợi ý về tổ chức hoạt động học có chủ định

Chủ đề nhánh : “Những con vật nuôi trong nhà”. Hoạt động học có chủ định : Làm quen với toán.

– Nội dung trọng tâm : Nhận dạng và gọi tên hình tam giác.

– Nội dung tích hợp : củng cố hiểu biết về vật nuôi trong nhà và củng cố kĩ năng dán của hoạt động tạo hình (dán mái nhà cho cún con và mèo con).

* Tên hoạt động : “Tìm mái nhà là hình tam giác”

Mục đích : Nhận dạng hình tam giác, biết một số từ mô tả đặc điểm hình tam giác (các từ “hình tam giác”, “cạnh”, “góc”, động từ “lăn”), củng cố một số hiểu biết về vật nuôi trong gia đình.

Chuẩn bị

– Tranh ảnh về các con vật nuôi : chó, mèo, gà, vịt và các con rối tay; hình tam giác với các màu khác nhau treo trên tường ở vị trí thích hợp.

– Các hình tam giác, hình vuông, hình tròn bằng nhựa hoặc bằng bìa cát tông với 3 màu khác nhau đủ cho làm việc cá nhân, theo nhóm. Mỗi trẻ 1 tờ giấy khổ A4 có dán (hoặc vẽ) cái nhà thiếu mái.

Tiến hành hoạt độngphương pháp

– Tạo động cơ học qua động cơ chơi : “Tìm mái nhà hình tam giác cho cún con và mèo con”, gây sự chú ý, hứng thú của trẻ vào hoạt động.

–  Nhiệm vụ nhận thức đặt ra cho trẻ : nhận dạng “hình tam giác” và gọi tên hình thông qua nhiệm vụ chơi : “Tìm mái nhà có hình là hình tam giác cho Cún con và Mèo con”.

Trên bảng gắn một ngôi nhà có mái nhà là hình tam giác, cô dùng rối, trò chuyện và dẫn dắt trẻ chú ý vào hoạt động : “Có ai đến thăm lớp mình đây nhỉ? Có ai biết tên các bạn này như thế nào không? Các con (con vật) này được nuôi ở đâu? Hôm nay, Cún con và Mèo con đến chơi với chúng ta và muốn nhờ lớp chúng ta tìm hộ mái nhà của họ bị bay mất sau trận bão (cô vừa nói vừa chỉ vào ngôi nhà thiếu mái nhà (thiếu hình tam giác). Chúng ta có đồng ý giúp tìm hộ mái nhà cho Cún con và Mèo con không?

-     Tiến hành giải quyết nhiệm vụ :

+   Cô gắn ngôi nhà có mái là hình tam giác, hình đủ to để tất cả trẻ có thể nhìn thấy. Cô gợi ý cho trẻ, quan sát thật kĩ mái nhà của Cún con và Mèo con và nói xem mái nhà có hình giống hình nào ở trên bảng của cô và bàn của trẻ? Cho trẻ chọn một hình giống mái nhà giơ lên (trong các hình có trước mặt). Cô hỏi trẻ : “Cháu có biết hình này có tên gọi là gì không?”. Nếu nhiều trẻ chưa biết, cô có thể vừa gắn tiếp hình tam giác bên cạnh “mái nhà” và cung cấp tên gọi của hình : “Đây là hình tam giác”. Mái nhà của Cún con, Mèo con có hình giống hình tam giác. Cô hỏi một vài trẻ để trẻ nhắc lại từ “hình tam giác”.

+    Trẻ nhận biết hình tam giác bằng cách : Cho trẻ sờ và đếm cạnh, gíc của hình tam giác. Cho trẻ chọn hình tam giác theo màu và theo ba nhóm cũng cùng với các màu (xanh, đỏ, vàng), khuyến khích trẻ tự phát hiện và nêu một số đặc điểm giống nhau về bề ngoài của ba nhóm hình tam giác (3 cạnh, 3 góc, khác nhau về màu sắc…). Cô đưa ra các câu hỏi gợi mở để trẻ tự so sánh, phát hiện mái nhà của Mèo con, Cún con có những điểm nào giống hình tam giác. Cho trẻ nhắc lại tên “hình tam giác”.

+    Trẻ quan sát trong môi trường của lớp học và tìm những hình tam giác có trong lớp và gọi tên hình hoặc chơi trò chơi “Cái túi kì lạ” cho trẻ sờ lấy hình tam giác và gọi tên hình, đếm xem có bao nhiêu hình…

+    Tìm mái nhà cho Mèo con và Cún con (có hồ dán, các hình tam giác, các hình tròn, hình vuông đã cắt sẵn bằng giấy màu). Trẻ ngồi vào bàn theo nhóm và làm việc cá nhân : Mỗi trẻ có một tờ giấy đã dán sẵn ngôi nhà thiếu mái. Yêu cầu trẻ tự chọn “tìm” hình tam giác lẫn trong các hình khác (có thể với màu sắc khác nhau) để dán làm mái nhà tặng cho Cún con và Mèo con (khoảng 2-3 phút).

+    Hát bài “Ai yêu chú mèo” hoặc bài “Gà trống, mèo con và cún con”

*    Kết thúc và đánh giá

– Cho trẻ treo sản phẩm của mình để tặng cho Cún con, Mèo con.

– Cô dùng rối tay (Mèo, Cún), thông qua động co chơi “Tìm mái nhà là hình tam giác giúp Cún con và Mèo con”, đưa ra những gợi ý nhận xét và động viên kịp thời (những ngôi nhà đẹp và có mái nhà là hình tam giác).

III – HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG

  1. 1. Hướng dẫn chung

- Hoạt động lao động đối với lứa tuổi mẫu giáo bé được sử dụng như một phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ về các mặt : thể lực, tình cảm, nhận thức, thẩm mĩ, rèn luyện cho trẻ một số phẩm chất, kĩ năng sống phù hợp với tuổi. Đối với trẻ lứa tuổi này tổ chức hình thức lao động tự phục vụ là chủ yếu, bên cạnh đó có thể cho trẻ làm quen dần với lao động trực nhật, còn hình thức lao động tập thể chỉ ở mức độ đơn giản, sơ khai nhất (lao động “bên nhau”).

– Các hình thức lao động có thể được tổ chức lồng ghép tự nhiên trong thời gian thực hiện các chủ đề khác nhau (chủ đề Bản thân, chủ đề Gia đình, chủ đề Trường lớp mầm non, Thế giới thực vật, Thế giới thực vật…) : được tiến hành vào các thời điểm thích hợp : buối sáng trong giờ đón trẻ; khi giáo viên cùng trẻ trò chuyện về hoạt động trong ngày; hoạt động hoặc có chủ định; hoạt động góc; hoạt động ngoài trời; trước và sau các bữa ăn; hoạt động chiều.

– Trong khi lập kế hoạch của chủ đề, kế hoạch tuần, cô cần phải đưa về các hình thức lao động phù hợp. Ví dụ : Đối với trẻ mẫu giáo Bé khi thực hiện các chủ đề Bản thân, Gia đình, Trường lớp mầm non. Cần phải chú trọng tổ chức hình thức lao động tự phục vụ nhằm hình thành ở trẻ một số kĩ năng tự phục vụ, hứng thú trong lao động.

– Khi thực hiện đánh giá sau chủ đề, cô giáo phải có phần nhận xét về các hình thức lao động đã được tổ chức : những gì đã thực hiện được còn tồn tại gì, có gì cần rút kinh nghiệm, hướng giải quyết như thế nào? Cô giáo cũng có thể ghi nhận xét cuối ngày nếu thấy cần, tuy nhiên cần ghi thật cụ thể, ngắn gọn và thiết thực.

– Khi hướng dẫn hoạt động lao động ở lớp mẫu giáo bé, cô giáo cần lưu ý :

+    Thu hút trẻ vào hoạt động bằng các hình thức khác nhau (trò chơi, xem tranh…).

+    Cô vừa làm mẫu từng thao tác theo trình tự của công việc, vừa giải thích bằng lời nói ngắn gọn, dễ hiểu. Sau đó, cô có thể cho 1- 2 trẻ làm lại các thao tác theo cô, các trẻ khác quan sát. Khi cho trẻ thực hành và luyện tập, cô quan sát, gợi ý, giúp đỡ những trẻ chưa thực hiện đúng.

+    Trẻ mẫu giáo bé chưa thể phối hợp nhịp độ hoạt động của mình với hoạt động của các bạn khác, vì thế cô giáo không nên yêu cầu mọi trẻ làm xong cùng một lúc.

+    Kết thúc lao động : Cô giáo nhận xét kết qủa công việc của trẻ, điều quan trọng là chỉ rõ cho trẻ thấy kết quả cụ thể của lao động để gây hứng thú cho trẻ (Ví dụ : Sau khi rửa tay sạch sẽ thơm tho). Đối với trẻ lớp mẫu giáo bé, khi nhận xét, cô giáo cần nhấn mạnh đến ưu điểm. Để khuyến khích động viên trẻ. Tuy nhiên, cô cần nâng cao dần yêu cầu đối với một số kĩ năng thực hiện nhiệm vụ lao động quen thuộc.

  1. 2. Hướng dẫn tổ chức hoạt động lao động tự phục vụ

Ở lứa tuổi mẫu giáo bé, thông qua lao động tự phục vụ có thể :

– Hình thành ở trẻ một số kĩ năng tự phục vụ như :

+    Biết rửa tay, rửa mặt.

+    Biết tự ăn, cầm thìa đúng, xúc cơm và thức ăn gọn gàng không rơi vãi.

+    Biết đi giày dép, mặc quần áo với sự giúp đỡ của người lớn khi cần thiết.

+    Biết sử dụng một số dụng cụ trong sinh hoạt : khăn mặt, ca cốc, bàn chải,…

– Bước đầu rèn luyện cho trẻ tính độc lập và hứng thú đối với lao động.

– Để củng cố kĩ năng tự phục vụ, có thể thực hiện thông qua trò chơi đóng vai thích hợp : Mẹ (hoặc chị) rửa mặt, rửa tay cho con (hoặc em) búp bê (mặc và cởi quần áo cho búp bê; đi giày dép cho búp bê; cho búp bê đi ngủ; cho búp bê ăn…). Có thể sử dụng các bài hát, chuyện cười để làm cho trẻ vui vẻ , thích thú muốn rửa mặt, rửa tay, ăn uống vệ sinh…Ngoài ra, hằng ngày giáo viên có thể cho trẻ quan sát các thao tác của người lớn , của các bạn xung quanh, xem tranh minh họa trong sách, nghe các tác phẩm nghê thuật, xem các vở kịch múa rối.

Trong các thời điểm : hoạt động ngoài trời, vệ sinh trước và sau khi ăn, ngủ…tổ chức cho trẻ thực hành kĩ năng tự phục vụ (đi giày dép, mặc và cởi quần áo, tự xúc ăn bằng thìa, rửa tay bằng xà phòng,…).Đồng thời cần phối hợp với gia đình tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện các kĩ năng tự phục vụ ở nhà.

Gợi ý hướng dẫn hoạt động “Bé tập rửa tay”

Mục đích : Trẻ biết giữ gìn đôi tay sạch sẽ, biết rửa tay, biết dùng nước, xà phòng đúng cách,  tiết kiệm nước.

Chuẩn bị : Một thùng nước có vòi (xô, chậu, gáo, nước), xà phòng, khăn khô, sạch, búp bê.

Thời điểm hướng dẫn : Trong quá trình triển khai chủ đề “Bản thân” :Sau khi chơi, sau khi đi vệ sinh, trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.

Hướng dẫn cả lớp hoặc theo nhóm. Thời gian 20-25 phút.

Tiến hành : Cô dùng tình huống trò chơi để tập trung sự chú ý và tạo hứng thú của trẻ : Cô giáo cho trẻ ngồi gần cô, cô nhìn Búp bê và nói : “Hôm nay em Búp bê đến chơi với lớp ta, nhưng tay em bị bẩn mà không biết rửa tay như thế nào cho sạch, các anh chị lớp ta có muốn giúp em Búp bê không?”, “Chúng ta hãy chỉ cho em cách rửa tay nhé”. Cô giáo làm mẫu cách rửa tay, vừa làm vừa giải thích từng động tác cụ thể : đầu tiên phải xắn tay áo lên để khi rửa nước không té ướt tay áo. Sau đó, mở vòi nước và điều chỉnh để nước chảy vừa phải, đưa tay vào vòi nước, xát xà phòng, xoa và kì cọ hai tay, rửa sạch hai tay, tắt nước, lau khô tay bằng khăn.

Cô giáo hướng dẫn một vài trẻ thực hành từng động tác cụ thể, những trẻ khác xem. Sau đó hỏi cháu nào muốn tự rửa tay cho em búp bê và các bạn xem. Cô giáo khuyến khích để tất cả trẻ lần lượt vào chỗ thực hành rửa tay. Cô giáo quan sát và giúp đỡ trẻ khi cần thiết. Khi tất cả trẻ đã rửa tay xong, cô giáo đề nghị trẻ giơ tay cho Búp bê xem tay sạch sẽ, thơm tho như thế nào; hỏi trẻ về cảm giác thích thú, thỏai mái khi tay sạch, nhắc trẻ phải luôn giữ đôi tay sạch sẽ. Tất cả cùng hát bài “Khám tay” và cùng tiễn em Búp bê ra về.

Hoạt động tiếp theo : Trong các hoạt động triển khai các chủ đề cô giáo dạy trẻ các bài hát, bài thơ có nội dung liên quan (Ví dụ : “Tay thơm, tay ngoan”); cô trò chuyện với trẻ về những công việc hằng ngày cần phảo có đôi bàn tay sạch, như : khi ăn cơm, khi uống nước, khi đọc sách…, giữ gìn vệ sinh tay chân sạch sẽ giúp cho cơ thể khỏe mạnh; tổ chức chơi trò chơi “Tay ai sạch hơn” : chơi từng cặp trong góc chơi, hai trẻ cùng giơ hai bàn tay ra phía trước, cả hai cùng nhận xét xem tay ai sạch hơn thì thắng cuộc. Buổi chiều khi trả trẻ, cô giáo nhắc phụ huynh tạo điều kiện cho trẻ thực hành rửa tay ở nhà trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn, …

  1. 3. Hướng dẫn tổ chức lao động trực nhật

Lao động trực nhật là hình thức lao động nhằm giáo dục trẻ quan tâm đến người khác, hứng thú được cùng cô phục vụ các bạn. Hình thức lao động này đòi hỏi trẻ hoàn thành các nhiệm vụ cùng với sự phân công hợp tác trong nhóm nhỏ nhằm phục vụ mục đích chung. Vì tính chất phức tạp của lao động trực nhật nên chỉ bắt đầu hướng dẫn hình thức này cho trẻ ở cuối lớp bé (trẻ 4 tuổi) và cũng chỉ đặt yêu cầu hình thành ở trẻ một số kĩ năng lao động trực nhật đơn giản : giúp cô bày bàn ăn cho các bạn ngồi cùng bàn (trực nhật bàn ăn); cùng cô chăm sóc cây cối, con vật trong góc thiên nhiên,…

Ví dụ : Gần giờ ăn cô giáo đề nghị 2-3 trẻ sẽ giúp cô chuẩn bị bữa ăn cho các bạn : Giúp cô bày thìa, bát, chia cơm cho bạn,…Cô hướng dẫn dẫn trẻ thực hiện thao tác cụ thể : chia thìa cho từng bạn, bưng bát cơm bằng hai tay, đặt nhẹ nhàng xuống bàn trước mặt bạn,…Cô khuyến khích các cháu, khen ngợi những thao tác đúng, hướng dẫn những trẻ thực hiện chưa đúng. Cuối bữa ăn, cô nêu gương trẻ đã giúp cô phục vụ các bạn khác, cả lớp cùng cảm ơn các bạn. Cô nhắc nhở lần sau các bạn khác sẽ cùng cô chuẩn bị bữa ăn, cả lớp sẽ lần lượt thực hiện nhiệm vụ trực nhật.

Để củng cố kĩ năng lao động trực nhật, trong giờ đi dạo, giờ chơi, giờ hoạt động học có chủ đích …cô giáo có thể cho trẻ quan sát lao động phục vụ bàn ăn của người lớn, của các bạn khác hoặc xem trang ảnh, đọc thơ về loại hình lao động này. Trong lúc trẻ chơi có thể gợi ý trẻ chơi trò chơi sắp bàn ăn cho búp bê, cho gia đình nhà gấu,…Phối hợp cùng phụ huynh tạo điều kiện cho trẻ giúp đỡ người lớn trong công việc sinh hoạt gia đình, rèn luyện kĩ năng cần thiết và phù hợp.

  1. 4. Hướng dẫn tổ chức hoạt động lao động tập thể

Hình thức lao động tập thể được tiến hành vào cuối tuổi mẫu giáo bé, đấy chính là hình thức lao động tập thể đơn giản, sơ khai nhất-hình thức lao động “Bên nhau”, cô giáo tổ chức cho trẻ xếp lại đồ chơi, phơi khăn mặt, xếp lại mũ nón, trang trí nhân ngày lễ tết…

Tổ chức hợp lí hình thức này nhằm bước đầu hình thành hứng thú đối với lao động; tính sạch sẽ, ngăn nắp, chăm chỉ, biết hợp tác với các bạn trong quá trình lao động.

Ví dụ : khi trẻ chơi xong, cô giáo hướng dẫn trẻ cùng nhau thu dọn đồ chơi bằng cách nói với trẻ những việc chúng phải làm. Đặt câu hỏi ngắn giúp trẻ suy nghĩ thông qua việc làm : Các khối gỗ kia cần cất vào hộp; Con có biết cái ô tô kia sẽ cất ở đâu không?; Có còn cái hộp nào để cất những thứ còn lại không?; Nào bây giờ con cùng bạn Hoa khiêng những cái hộp này cất vào góc kia nhé!; Khi tất cả trẻ đã thu dọn đồ chơi xong, cô hỏi trẻ có cảm thấy thích thú khi mọi thứ gọn gàng không?

Để củng cố các kĩ năng, trong các hoạt động khác, cô quan sát nhắc nhở để trẻ luôn giữ gìn sự ngăn nắp, sạch sẽ, hòa thuận khi cùng nhau làm việc,…Phối hợp với phụ huynh nhắc nhở trẻ khi chơi xong phải thu dọn gọn gàng ngăn nắp mọi thứ.

  1. 5. Một số lưu ý khi hướng dẫn trẻ khuyết tật tham gia hoạt động lao động

Đối với trẻ khuyết tật, giáo viên không đặt mục đích hình thành ở trẻ những kĩ năng lao động phức tạp, mà chỉ tạo cơ hội cho trẻ cùng được tham gia, được tự trải nghiệm, nhằm hình thành ở trẻ một số kĩ năng tự phục vụ, tính tự tin, khả năng độc lập (ở mức độ có thể), một số hành vi văn hóa (biết chào mời), lôi cuốn trẻ tham gia vào quá trình lao động càng nhiều càng tốt. Khi phân công lao động chung, giáo viên có thể gợi ý để trẻ khuyết tật tự lựa chọn công việc và nhóm bạn mà trẻ thích, đồng thời giáo viên phải khuyến khích các trẻ khác chú ý giúp đỡ, chỉ dẫn cho trẻ khuyết tật, tuy nhiên không nên đòi hỏi nhiều ở trẻ.

IV – HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC NGÀY HỘI NGÀY LỄ

Tổ chức ngày hội ngày lễ là hình thức giúp trẻ thâm nhập vào cuộc sống xã hội tại những thời điểm có ý nghĩa xã hội nhất để giáo dục truyền thống, đem lại niềm vui sướng cho trẻ, góp phần giáo dục toàn diện cho trẻ về các mặt : thể lực, tình cảm, nhận thức, thẩm mĩ.

  1. 1. Một số ngày hội, ngày lễ thường được tổ chức ở trường mầm non

Tại các trường/lớp mầm non, tùy điều kiện cụ thể của mình, có thể lựa chọn để tổ chức các ngày lễ, ngày hội sau : Ngày hội đến trường (ngày khai trường), Tết trung thu, Tết nguyên đán, Ngày 8-3, Ngày 20-11, Ngày sinh nhật Bác 19-5, Ngày sinh nhật của bé, Ngày 1-6 và lễ ra trường…

- Ngày hội đến trường : Ngày khai trường được coi là “ngày hội đến trường” của Bé, vì vậy nhà trường cần tổ chức long trọng, tạo quang cảnh vui tươi, phấn khởi, làm cho trẻ háo hức, vui sướng tham gia một cách hào hứng tự nhiên.

Tết Trung thu : Là ngày tết dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng. Tết Trung thu tổ chức vào ngày rằm tháng tám. Có thể giới thiệu cho trẻ về thời tiết mùa thu, về trăng, cây cỏ, các loại hoa quả,…Khi tổ chức ngày lễ hội này cần chú ý các hoạt động : bày cỗ, rước đèn, phá cỗ, hát múa dân gian,…

- Ngày hội của các cô giáo (20-11) : Giáo dục truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam, giới thiệu các công việc của các cô giáo, chú ý giáo dục tình cảm mến yêu , biết ơn đối với cô giáo.

Tết nguyên đán : Là tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Cần tổ chức cho trẻ đón xuân, đón Tết, năm mới với tâm trạng vui mừng phấn khởi. Giới thiệu cho trẻ một số phong tục tập quán tốt đẹp trong ngày Tết : chúc Tết bố mẹ, con cái, người thân, thầy cô giáo,…mọi người mặc quần áo đẹp, giáo dục trẻ tình cảm gắn bó gia đình, tình yêu thiên nhiên.

Tổ chức Tết nguyên đán vào ngày cuối cùng trẻ ở trường, trước khi nghỉ Tết.

Ngày Phụ nữ quốc tế (8-3): Tạo được quang cảnh chào mừng, phấn khởi và các hoạt động thiết thực để trẻ nhận biết ngày 8-3 là ngày vui của phụ nữ. Thông qua việc tổ chức ngày lễ, giáo dục sự kính trọng , lòng biết ơn và tình cảm của trẻ với bà, mẹ, cô giáo và tôn trọng các bạn gái.

Kỉ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ (19-5) : Tổ chức lễ kỉ niệm với hình thức sinh động, những tiết mục văn nghệ, nghệ thuật có nội dung thiết thực. Giới thiệu về quê hương của Bác, về thủ đô Hà Nội – nơi Bác đã sống và làm việc. Giáo dục cho trẻ lòng biết ơn và lòng kính yêu Bác Hồ, tình cảm yêu mến thủ đô Hà Nội.

Ngày 1-6, ngày hội của trẻ thiếu nhi và lễ ra trường của các cháu mẫu giáo lớn.

Tổ chức ngày 1-6 với nội dung giáo dục tình đoàn kết với các bạn thiếu nhi quốc tế.

- Ngày sinh nhật của trẻ trong lớp : Phối hợp với gia đình trẻ tổ chức vui vẻ, tùy điều kiện thực tế, bằng những lời chúc tốt đẹp của cô giáo, bạn bè, những món quà đơn giản (có thể các trẻ tự làm), hoa quả, kẹo bánh,…tạo cho trẻ cảm nhận được niềm vui, sự trưởng thành, lớn lên của mình trong ngày sinh nhật.

Những ngày hội, ngày lễ khác (nếu có điều kiện)

+    Ngày 22-12, ngày hội quốc phòng toàn dân.

+    Tết dương lịch.

+    Ngày 30-4, ngày giải phóng Miền Nam, đất nước Việt Nam hòan tòan thống nhất.

+    Ngày 1-5, ngày hội của những người lao động.

- Các ngày hội, ngày lễ truyền thống của địa phương (nếu có).

  1. 2. Lựa chọn nội dung ngày hội, ngày lễ thực hiện các chủ đề

– Thực tế trong khi tiến hành các chủ đề, có thể có những ngày hội, ngày lễ có nội dung phù hợp chủ đề, ngược lại cũng có thể có ngày hội, ngày lễ nhưng nội dung lại không phù hợp hoàn tòan với chủ đề. Vì vậy, tùy thuộc vào kế hoạch phân chia các chủ đề trong năm học của trường/lớp mầm non và thời điểm diễn ra các ngày hội, ngày lễ mà giáo viên linh hoạt, sáng tạo tổ chức ngày hội ngày lễ cho trẻ tham gia hoặc lựa chọn nội dung ngày hội, ngày lễ để giới thiệu khi thực hiện chủ đề, và sử dụng các sản phẩm của trẻ trong quá trình triển khai thực hiện chủ đề để phục vụ cho ngày hội, ngày lễ. Riêng về tổ chức sinh nhật cho trẻ trong lớp : Tùy điều kiện thực tế của lớp, có thể tổ chức sinh nhật cho từng trẻ, cũng có thể tổ chức sinh nhật cùng một ngày cho những trẻ nào trong lớp có ngày sinh gần nhau…

– Khi thực hiện các chủ đề, giáo viên cần chú trọng đến lễ hội của riêng địa phương mình để có thể tổ chức hoặc lựa chọn nội dung phù hợp đưa vào các chủ đề.

Ví dụ : Trường mầm non Phù Đổng thuộc ngoại thành Hà Nội có ngày “Hội Gióng”, ở lớp mẫu giáo bé, cô có thể kể chuyện về Ông Gióng, cho trẻ tham quan Đền Gióng, cùng trẻ trò chuyện về ngày Hội Gióng,…Qua những hoạt động đó trẻ có thể biết về ngày Hội Gióng; trẻ biết ăn mặc đẹp khi đi xem hội…

Ngày 30-4, ngày giải phóng Miền Nam thường được các trường mầm non phía Nam chú ý đưa vào thực hiện chủ đề, tùy theo từng địa phương để lựa chọn nội dung và hình thức phù hợp.

  1. 3. Hướng dẫn tổ chức ngày hội, ngày lễ

Đối với trẻ lớp mẫu giáo Bé, việc tổ chức ngày hội ngày lễ là nhiệm vụ của giáo viên, của người lớn và thường tổ chức theo nhóm, lớp là chính. Cô giáo tạo điều kiện cho trẻ hòa nhập vào không khí vui tươi, phấn khởi, hào hứng trong quá trình chuẩn bị và trải nghiệm những cảm xúc của ngày hội ngày lễ. Trẻ có thể cùng cô chuẩn bị các sản phẩm trang hoàng lớp trước ngày lễ. Một số trẻ có thể tham gia vào quá trình thực hiện ngày lễ hội (đọc thơ, múa phụ họa…) với sự hướng dẫn của cô giáo. Trong suốt quá trình diễn ra lễ hội, cô giáo đặc biệt phải chú ý đến trạng thái của trẻ, tránh tình trạng để trẻ không biết làm gì, không biết xem gì hoặc để trẻ hoạt động quá nhiều, với không khí ồn ào quá lâu làm trẻ mệt mỏi.

a) Chuẩn bị

– Giáo viên lựa chọn các chủ đề phù hợp, lên kế hoạch quý, tháng, tuần.

– Tổ chức tuyên truyền về ngày lễ (trong các buổi họp phụ huynh, trên bảng tin, thông báo cho phụ huynh,…), khuyến khích cha mẹ cùng tham gia tổ chức (trong điều kiện có thể).

– Giáo viên tạo cho trẻ tâm thế chờ đón ngày hội, ngày lễ : trò chuyện với trẻ về ý nghĩa ngày hội ngày lễ, cho trẻ xem tranh về ngày hội, ngày lễ.Cùng trẻ làm các sản phẩm để trang hoàng lớp học : vẽ tranh, treo bóng bay…Cho trẻ tập các tiết mục văn nghệ,…

– Chuẩn bị dàn ý, nội dung chương trình, lời dẫn ngắn gọn phản ánh đúng tinh thần ngày hội ngày lễ (nếu tổ chức tại lớp thì cô giáo phụ trách lớp chuẩn bị ; nếu tổ chức toàn trường thì ban lãnh đạo trường chuẩn bị). Chương trình được sắp xếp hài hòa giữa các tiết mục hát, múa, đọc thơ,…Trang phục của trẻ cần trang nhã, mềm mại, thể hiện vẻ hồn nhiên, thơ ngây.

b) Địa điểm và thời gian tổ chức lễ hội

Tùy điều kiện và nội dung cụ thể mà lựa chọn địa điểm và thời gian tổ chức : Địa điểm có thể ở trong lớp học nhưng cần bố trí hợp lí để trẻ dễ dàng quan sát. Thời gian tổ chức ngày hội ngày lễ có thể vào buổi sáng hoặc buổi chiều, sau giờ ngủ trưa, kéo dài chừng 20-30 phút.

Lưu ý : Nếu có điều kiện và nội dung phù hợp có thể tổ chức cả trường hoặc ghép các lớp, để trẻ ở các độ tuổi trong trường cùng được phối hợp tham gia. Ví dụ : mẫu giáo bé cùng đến tham gia phụ họa với mẫu giáo lớn,…Trong khi tổ chức, cô chú ý điều khiển chương trình sao cho trẻ ở các nhóm lớp có những hoạt động hài hòa phù hợp với sức của trẻ. Không để trẻ dừng lại ở một tư thế quá lâu, như đứng kéo dài, ngồi suốt buổi lễ hoặc nhảy múa liên tục,…Nếu có các nhân vật ở ngoài cùng tham gia thì cần được chuẩn bị trước, cho trẻ biết để trẻ khỏi bị bở ngỡ.

  1. 4. Một số lưu ý khi hướng dẫn trẻ khuyết tật tham gia lễ hội

Đối với trẻ khuyết tật, giáo viên không đặt mục đích hình thành ở trẻ những kĩ năng phức tạp, mà chỉ tạo cơ hội cho trẻ tự trải nghiệm các cảm xúc của ngày lễ, ngày hội, lôi cuốn trẻ tham gia vào quá trình chuẩn bị ngày lễ, ngày hội càng nhiều càng tốt. Khi phân công, giáo viên có thể gợi ý để trẻ khuyết tật tự lựa chọn công việc và nhóm bạn mà trẻ thích, đồng thời giáo viên phải khuyến khích các trẻ khác chú ý giúp đỡ, chỉ dẫn cho trẻ khuyết tật, tuy nhiên không nên đòi hỏi nhiều ở trẻ.

  1. 5. Gợi ý hướng dẫn hoạt động : Ngày sinh nhật của bé

– Mục đích : Tạo không khí vui vẻ trong ngày sinh nhật của trẻ, trẻ cảm nhận được sự trưởng thành, lớn lên của mình trong ngày sinh nhật, giáo dục trẻ biết quan tâm đến các bạn

Chuẩn bị : Trước ngày sinh nhật của trẻ, cô giáo gợi ý bố mẹ (hoặc tự trẻ) đem ảnh của trẻ đến dán vào khu vực góc “cá nhân”; cô tổ chức cho cả lớp làm quà tặng sinh nhật bạn bằng cách : vẽ tranh, nặn đồ vật, hát, đọc thơ tặng bạn; trang trí lớp; tùy điều kiện cụ thể, cô có thể phối hợp với phụ huynh chuẩn bị một bó hoa (loại hoa có ở địa phương hoặc cắt hoa giấy), một ít bánh kẹo, hoa quả,…

- Thời điểm tiến hành : vào buổi sáng hoặc chiều – Sau giờ ngủ trưa. Khoảng 20 – 25 phút.

Sắp xếp, bố trí địa điểm : trải chiếu ngồi vòng tròn hoặc có thể xếp bàn ghế hình vòng cung, ở giữa bày bánh kẹo, hoa quả,…

Vào tiệc sinh nhật : Trước khi tổ chức sinh nhật, cô giáo có thể gợi ý cho cả lớp nói về ngày sinh nhật của bạn (cô hỏi cả lớp có biết vì sao hôm nay lớp mình trang trí đẹp thế không? Hôm nay là ngày sinh nhật của bạn nào nhỉ?…). Mời cả lớp đến góc “cá nhân” xem ảnh của trẻ. Cô cùng cả lớp hát và cùng vận động theo bài “Mừng sinh nhật”. Cô thay mặt lớp tặng hoa (quà), chúc mừng sinh nhật của trẻ, chúc trẻ thêm một tuổi, lớn hơn, chăm ngoan hơn. Cô gợi ý các trẻ khác chúc mừng bạn, tặng bạn những bài hát, bài thơ yêu thích. Cô gợi ý cho trẻ cảm ơn các bạn. Cả lớp cùng vui vẻ liên hoan, bánh kẹo, hoa quả.

Cuối cùng cô hỏi cả lớp có thích được tổ chức sinh nhật vui vẻ ở lớp không? Cô nói rằng cả lớp sẽ lần lượt tổ chức sinh nhật cho từng bạn.

Hoạt động tiếp theo : Cô phối hợp với gia đình tạo điều kiện cho trẻ sống lại cảm xúc của ngày sinh nhật (kể lại sinh nhật được tổ chức như thế nào tại lớp, sự quan tâm của cô và các bạn, cảm xúc của trẻ…); người lớn cùng trẻ chuẩn bị và tổ chức sinh nhật của các thành viên trong gia đình. Trong các giờ chơi, giờ vẽ, nặn,…cô gợi ý trẻ có thể làm các sản phẩm chuẩn bị cho sinh nhật các bạn và người thân.

D – TỔ CHỨC MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG

I – HƯỚNG DẪN CHUNG

  1. 1. Bố trí và tổ chức các khu vực hoạt động của trẻ trong trường lớp mẫu giáo

Tổ chức môi truờng hoạt động của trẻ trong trường, lớp mẫu giáo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển về thể chất, ngôn ngữ, trí tuệ, tình cảm – xã hội, khả năng thẩm mĩ, sáng tạo của trẻ. Trong trường lớp mẫu giáo môi trường hoạt động của trẻ được tổ chức đảm bảo nguyên tắc giúp trẻ “học qua chơi” . Vì vậy, khi bố trí và tổ chức môi trường cho trẻ chơi và hoạt động, giáo viên phải tính đến các yếu tố sau :

-     Không gian thực tế của trường.

-     Mục đích tổ chức các hoạt động.

-     Các yếu tố an toàn cho trẻ.

-     Các nhu cầu của trẻ đặc biệt (nếu có).

-     Sự linh hoạt và dễ thay đổi theo mục đích giáo dục, theo các chủ đề.

a) Các góc chơi (khu vực hoạt động)

Các khu vực hoạt động ( góc chơi) thường là :

-     Góc chơi đóng vai.

-     Góc tạo hình.

-     Góc thư viện (sách, truyện).

-     Góc chơi xây dựng với các hình khối lớn, ghép hình và lắp ráp.

-     Góc khám phá khoa học.

-     Góc âm nhạc (nghệ thuật).

Tùy theo điều kiện của nhóm lớp, giáo viên có thể bố trí 3 đến 4 khu vực cố định, các khu vực hoạt động khác có thể bố trí các giá sát tường, linh hoạt và triển khai thành góc khi cần thiết.

b) Một số yêu cầu chung về bố trí các khu vực hoạt động của trẻ

-     Cần bố trí các khu vực chơi, hoạt động trong lớp và ngoài trời phù hợp, thuận lợi cho cô và trẻ hoạt động, đảm bảo theo các nguyên tắc đã đề ra trong chương trình.

-     Phòng học đảm bảo sáng sủa, sạch sẽ, nhiều không gian mở. Cửa, lối đi ra vào, hiên, sân được bố trí hợp lí. Trong lớp nên có khu vực thuận tiện cho giáo viên đón trẻ, tiếp xúc, gặp gỡ trò chuyện với phụ huynh.

-     Trong phòng, nên bố trí bàn, ghế, tủ, kệ, giá thuận tiện, dễ thu dọn khi cần thiết, dành nhiều không gian cho trẻ hoạt động cá nhân, nhóm nhỏ, cả lớp, và nghỉ trưa, ăn trưa. Các trang thiết bị , các giá, tủ nên bố trí sao cho dễ dàng di chuyển để làm vách ngăn cho các khu hoạt động riêng biệt phù hợp với tính chất của hoạt động động và tĩnh.

-     Nếu phòng, lớp quá nhỏ, có thể để bớt đồ đạc, bàn ghế ra ngoài hiên, tạo nhiều không gian, diện tích cho trẻ hoạt động. Ngoài ra, có thể linh hoạt bố trí thêm các không gian phụ trong lớp hoặc bên ngoài hiên lớp học (nếu có) phù hợp với các góc chơi khi cần thiết tổ chức cho trẻ chơi.

-     Các khu vực (góc) hoạt động cần bố trí thuận lợi cho trẻ được hoạt động theo khả năng, hứng thú, sở thích riêng.

-     Trang trí môi trường, bố trí tranh ảnh trong lớp ở các góc hoạt động cần đảm bảo tính thẩm mĩ, mang tính mở phù hợp với việc triển khai các chủ đề luôn tạo sự mới mẻ, hấp dẫn kích thích trẻ hoạt động.

-     Các góc cần được thể hiện với tên gọi và hình ảnh phù hợp để giúp trẻ nhận biết góc chơi một cách dễ dàng. Tên góc gần gũi với trẻ như : Gia đình của Bé; Bé thích xây dựng; Bé khám phá khoa học;…Tên các góc cần viết to theo đúng quy định mẫu chữ hiện hành, giúp trẻ làm quen với chữ viết.

-     Khu vực vệ sinh cần được bố trí gần vòi nước sạch, vệ sinh sạch sẽ, an toàn thuận tiện cho trẻ tự thực hiện vệ sinh cá nhân.

  1. 2. Quản lí, giám sát và đánh giá trẻ chơi ở các khu vực hoạt động (góc chơi)

Đối với lớp mẫu giáo bé, cô giáo giữ vai trò là người chuẩn bị, tổ chức môi trường, hướng dẫn, theo dõi điều chỉnh hoạt động của trẻ trong các khu vực (góc chơi) hoạt động :

-     Các khu vực hoạt động hay các góc chơi là nơi trẻ có thể cùng chơi và “làm” một việc gì đó một mình hoặc trong một nhóm trẻ ở thời điểm chơi và hoạt động ở các góc (buổi sáng và buổi chiều). Tgời gian không kéo dài quá 40 phút theo quy định của thời gian biểu hằng ngày.

–     Cô khuyến khích trẻ tự do quyết định chọn nơi chơi và chơi với gì, với ai, hoạt động theo khả năng, ý thích, tạo điều kiện cho trẻ luân chuyển các khu vực chơi mà trẻ thích trong các khu vực chơi, giúp cho hoạt động của trẻ trong ngày trở nên linh hoạt hơn.

-     Trong thời gian tổ chức cho trẻ chơi, hoạt động ở các góc, phụ thuộc vào kinh nghiệm của trẻ và yêu cầu triển khai của chủ đề cô có thể tổ chức, triển khai từ 3 đến 4 khu vực (góc chơi) phù hợp. Không nhất thiết triển khai cùng một lúc với tất cả các góc.

-     Phù hợp với nội dung chơi, hoạt động ở các góc gắn với chủ đề, các khu vực chơi cần bố trí không gian phù hợp, khuyến khích trẻ cùng chơi, cùng hoạt động với nhau trong nhóm : các bà mẹ bế con đến thăm nhà nhau, trò chuyện về chăm sóc con cái,…qua trao đổi, đưa ra những gợi ý (ở góc gia đình); hoặc cùng tham gia chăm sóc cây cối, các con vật ở góc thiên nhiên…

-     Cùng nhau xây dựng “công viên” với các hình khối lớn hoặc “làm đồ chơi ở góc tạo hình…”, cô bố trí hợp lí về thời gian, không gian cho các nhóm chơi, hướng dẫn, tạo điều kiện cho mỗi trẻ cùng suy nghĩ, làm một việc gì đó, không bị thúc ép, áp đặt, bắt chước lẫn nhau một cách thụ động ( Ví dụ : nên bố trí cái tủ mới sắm được ở đâu trong “căn phòng của gia đình”; hoặc các nhà “thiết kế thời trang” thảo luận với nhau sẽ thiết kế những mẫu, kiểu trang phục quần áo như thế nào?…) (ở góc tạo hình).

-     Trong quá trình trẻ chơi, hoạt động ở các góc, khu vực chơi đóng vai, chơi xây dựng, lắp ghép, chơi ở góc tạo hình là những khu vực hoạt động trọng tâm. Cô bao quát và chú ý đến nhu cầu, hứng thú của từng cá nhân, của nhóm chơi, gợi ý luân phiên, điều chỉnh số trẻ trong các nhóm chơi trong các khu vực hoạt động (góc chơi) phù hợp.

-     Đối với trẻ lớp mẫu giáo bé, khi trẻ chưa có kinh nghiệm tham gia vào các hoạt động, cô nên theo dõi, quan sát các nhóm chơi trong các khu vực hoạt động, cùng chơi, cùng hoạt động vói trẻ để hướng dẫn khi cần thiết, hướng trẻ đến chủ đề chơi chung,…Cô không nên áp đặt, bắt trẻ chơi theo ý của người lớn hay ý của cô giáo. Đến giữa năm, cuối năm học, hoặc khi trẻ đã có kinh nghiệm chơi cô nên gợi mở, tạo các mối quan hệ qua lại giữa trẻ trong cùng nhóm chơi, nhóm hoạt động, chú ý mở rộng dần mối quan hệ giao tiếp của trẻ với hoặc 2 khu vực hoạt động khác (Ví dụ xưởng “lắp ráp ôtô” sẽ xuất hàng cho “Siêu thị ô tô” hoặc các bác “tài xế” mua xe ô tô, xe máy ở siêu thị ô tô về lái xe trên đường phố…). Cô ghi nhật kí về các hoạt động của trẻ, số lần trẻ chơi trong các khu vực hoạt động để có thể điều chỉnh, luân phiên kịp thời, tránh tình trạng trẻ chơi trong một khu vực hoạt động nào đó quá lâu.

  1. 3. Nguồn cung cấp vật liệu

-     Vận động cha mẹ đóng góp đồ dùng học tập và đồ dùng đã qua sử dụng :

-     Vận động các cửa hàng, nhóm cộng đồng phụ huynh tặng trường, lớp (hộp bìa các tông, vỏ chai lọ nhựa, giấy báo, tạp chí cũ, quần áo, giày dép, điện thoại không dùng nữa, mũ nón, túi, khăn, cà vạt, trang sức giả, hoặc dụng cụ nghề mộc…)

-     Mua ở các trung tâm thiết bị và ở các cửa hàng bách hóa.

-     Cô và trẻ tự tạo và làm.

Những đồ dùng đã qua sử dụng cần được làm vệ sinh sạch sẽ trước khi cho trẻ dùng để chơi.

II – GỢI Ý HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC CÁC KHU VỰC HOẠT ĐỘNG

  1. 1. Khu vực chơi đóng vai

-     Khu vực chơi đóng vai là khu vực hoạt động trọng tâm, vì vậy cần bố trí vị trí, không gian thích hợp, đủ để triển khai các góc nhỏ phù hợp với các vai chơi như : góc “Gia đình”, “Cửa hàng”, “Phòng khám”, “Trường mẫu giáo”,…Các khu vực (góc) chơi cần được tổ chức sao cho tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ tự do tham gia vào các vai chơi, khuyến khích trẻ suy nghĩ, tưởng tượng và thể hiện vai chơi một cách tích cực như : đóng vai làm cha, mẹ – con cái, em bé, cô giáo, bác sĩ, người bán hàng, người mua hàng, chú công nhân, chú công an, chú bộ đội,…

- Trong khu vực này, vị trí các góc như góc chơi đóng vai “Gia đình”, “Phòng khám bác sĩ”, “Cửa hàng”, thường được bố trí tương đối cố định, các góc chơi khác : Trường mầm non, xây dựng công viên, Cửa hàng ăn uống, giải khát,…có thể bố trí linh hoạt với khoảng không gian thích hợp khi cần triển khai. Đối với góc chơi “gia đình”, giáo viên có thể bố trí ở góc này với 1, 2 góc nhỏ (phòng bếp, phòng ngủ). Nơi sinh hoạt của gia đình có các đồ dùng thích hợp như: các kệ, giá thấp, tủ quần áo, khu vực bếp có bàn ăn, tủ lạnh, bếp, dụng cụ nấu ăn,…bộ bàn ghế; phòng ngủ với “giường”, chăn, gối và các con búp bê khác nhau. Cô nên bố trí không gian cho các trò chơi đóng vai khác : “Cửa hàng” hoặc “Phòng khám bác sĩ”…hoặc với chủ đề khác cần bố trí thêm không gian cho góc xây dựng “Trường Mầm non…”, góc xây dựng “Trại chăn nuôi”, “Nông trại…”…phù hợp với địa phương. Cô chú ý bố trí các góc chơi thuận tiện cho việc mở rộng nội dung chơi, tạo cơ hội cho trẻ trong các nhóm có thể đi lại, giao tiếp dễ dàng với các khu vực chơi khác : các bà mẹ đưa con đi xem triển lãm thiết kế thời trang, đi mua sắm, hoặc đưa con đến thư viện, đi xem biểu diễn văn nghệ,…(khu vực hoạt động tạo hình, âm nhạc,…).

-     Khi tổ chức, tiến hành cho trẻ chơi trong khu vực này đồ chơi, đồ dùng cần được đưa ra, bổ sung dần, sắp xếp phù hợp với chủ đề chơi, nội dung chơi, tạo cho trẻ sự mới mẻ, hấp dẫn và kích thích khám phá, tìm tòi.

-     Chuẩn bị, bố trí, sắp xếp, vật liệu ở các góc chơi đóng vai :

+    Trang phục được treo trên giá, mắc áo để dễ sử dụng.

+    Đồ dùng, đồ chơi và vật liệu giúp trẻ có thể làm đồ chơi phục vụ cho trò chơi đóng vai “gia đình” phù hợp với chủ đề.

+    Đồ dùng, thiết bị phục vụ đóng vai các nghề khác nhau như : “Cô giáo”, “Lớp học” cần có bảng, bàn ghế cô giáo và học sinh, sách vở,…

  1. 2. Khu vực hoạt động tạo hình

-     Tạo hình là hoạt động nghệ thuật luôn được trẻ ưa thích. Chơi và hoạt động của trẻ ở góc tạo hình được triển khai phù hợp với thời điểm đã quy định trong thời gian biểu hằng ngày : chơi, hoạt động ở các góc vào thời điểm buổi sáng; chơi, hoạt động theo ý thích ở thời điểm buổi chiều.

-     Thông qua hoạt động này, trẻ được thử nghiệm thể hiện sáng tạo và tiếp nhận những cảm xúc tích cực thông qua việc bố trí, tổ chức môi trường, không gian họat động thích hợp. Phù hợp với không gian của lớp học có thể bố trí cho hoạt động này một góc chơi cố định với 1, 2 bàn, các giá đựng đồ dùng, đồ chơi. Cũng có thể bố trí góc chơi linh hoạt với các giá được kê sát tường có bánh xe di chuyển được. Khi cần thiết có thể tận dụng thêm khoảng không gian thích hợp để bố trí thêm chỗ cho trẻ chơi và làm việc theo nhóm.

-     Bàn, ghế; các giá vẽ, giá đựng, đồ dùng vật liệu nên bố trí mở, thấp, phù hợp để trẻ có thể dễ lấy và sử dụng; các giá, kệ cao hơn nên để các vật liệu đồ dùng chưa cần dùng ngay; cần có giá treo sản phẩm, các kẹp, dây,…Ở góc này cần bố trí các vật liệu do hoạt động đa dạng của trẻ như : màu nước màu, bút lông, sáp màu, bút màu, bút dạ, đất nặn, kéo, hồ dán,…đồ chơi ghép hình, để trẻ thực hiện sáng tạo theo ý thích của mình qua vẽ, tô màu, cắt, dán, đồ chơi ghép hình, để trẻ có chỗ trưng bày sản phẩm theo chủ để. Khuyến khích trẻ, phụ huynh xem các tác phẩm vẽ, nặn, đồ chơi được treo trên tường, trưng bày ở các giá…

-     Hằng ngày, trẻ cần được lựa chọn hoạt động trên tùy theo ý thích, phù hợp với triển khai chủ đề chơi. Cô giáo không nên áp đặt trẻ làm theo ý của mình, gợi ý cho trẻ cách làm, không làm hộ trẻ. Trong quá trình hướng dẫn trẻ hoạt động, cô nên luôn khích lệ, khơi dậy tạo niềm tin, những cảm xúc tích cực qua các sản phẩm mà trẻ đã làm được.

-     Với lớp mẫu giáo Bé, đặt biệt khi trẻ chưa có kinh nghiệm và kĩ năng sử dụng một số phương tiện hoạt động như kéo, bột màu, đất nặn,…cô nên đưa ra những gợi ý cụ thể hoặc cùng chơi để hướng dẫn cho trẻ :

+    Cách cầm bút và vẽ, cách dán; kích thích ý tưởng của trẻ tạo ra sản phẩm; nặn những đồ vặt hoặc người bằng đất nặn (đất sét), vẽ, tô màu, cắt, dán làm đồ chơi phù hợp với chủ đề.

Cách pha màu tạo màu mới; nhận biết được cái gì dán bằng hồ, cái gì cần băng dính;  tái hiện người và đồ vật trong tranh vẽ; phối cảnh…

Thực hành, luyện tập một số kĩ năng mang tính xã hội : trò chuyện trao đổi khi vẽ, nặn…, cùng miêu tả, chia sẻ ý tưởng với các bạn (kể mình làm cái gì), khuyến khích trẻ đưa ra nhận xét, đánh giá sản phẩm của mình, của bạn, cùng thu dọn với bạn khi thực hiện xong; chia sẻ đồ dùng với bạn, rửa tay khi kết thúc,…

-     Tùy theo từng điều kiện cụ thể của địa phương, cô cần chuẩn bị những phương tiện vật liệu cần thiết và đa dạng như :

+    Bột màu, thuốc vẽ nhiều màu (thuốc nước hoặc bột màu loại an toàn), giá vẽ hay bàn, khay đựng màu, đồ dùng vẽ bằng ngón tay : bàn focmica, giấy, thuốc màu, chậu nước, khăn lau.

+    Bút vẽ, giấy A4 hoặc giấy vẽ, giấy khổ rộng, bút chì màu các loại, bút chì mềm, bút lông cán dài, bút sáp, phấn không độc, bảng, khăn lau

+    Đồ dùng để in : các con dấu (bằng cao su, nhựa mềm, khoai, mút, gỗ), giấy, thuốc vẽ nhiều màu.

+    Đồ dùng cắt, dán : kéo, hồ, giấy màu, bìa, hộp phế liệu, vải vụn, vật liệu thiên nhiên (cát, lá cây, vỏ ốc hến, rơm), các loại hạt, rổ đựng đồ cắt.

+    Tranh ảnh, báo, tạp chí cho trẻ tập cắt dán phục vụ theo chủ đề.

+    Đồ dùng để nặn : Đất sét, đất nặn bán sẵn, bàn focmica, bát nước, khăn lau và vật mẫu của cô.

  1. 3. Khu vực sách, truyện (thư viện)

-     Sách, truyện có vai trò quan trọng trong đời sống của trẻ thơ và làm một hoạt động thú vị đối với trẻ. Khu vực này cần có sự yên tĩnh, vì vậy thường được đặt xa những khu vực hoạt động ồn ào, có không gian vừa đủ để bố trí giá sách, bàn và một số ghế, để trẻ ngồi xem sách, truyện tranh và thực hiện các hoạt động phù hợp. Nếu phòng nhỏ có thể thay bàn ghế bằng đệm, gối hay các miếng thảm, chiếu,…

-     Các loại sách được bày trên giá sách ngang tầm mắt để trẻ dễ nhìn, và lấy sử dụng.

-     Khi triển khai chủ đề mới nên cất bớt đi một số truyện cũ và nên sắp xếp, bổ sung thêm một vài đầu sách mới giúp trẻ luôn cảm thấy mới lạ, gây hứng thú đọc sách, xem tranh của trẻ, không nên bày lên giá những sách đã quá cũ và rách.

-     Khuyến khích trưng bày những sản phẩm, sách, bộ sưu tập do trẻ tự làm và của phụ huynh.

-     Cũng có thể đặt cát- xét và các băng ghi truyện kể cho trẻ nghe trong khi chúng lật giở các trang sách.

-     Ở lớp mẫu giáo bé, cô có thể cùng xem với trẻ, chỉ cho trẻ xem theo tranh, hoặc chỉ theo dòng chữ khi đọc truyện tranh, hướng dẫn trẻ cách mở sách, lật từng trang, cách sử dụng sách truyện. Cô và trẻ có thể cùng làm hoặc cắt các tranh để minh họa về những truyện kể đã được nghe hoặc làm sách truyện tranh cho bản thân. Cô khuyến khích trẻ tự kể lại theo truyện; hoặc những từ mới…rèn luyện kĩ năng xã hội. Gợi ý, tạo điều kiện cho trẻ đuợc kể cho các bạn nghe về những sách truyện tranh mà trẻ đã làm, liên hệ câu chuyện với nhũng kinh nghiệm khác,…

-     Sách, truyện ở góc thư viện bao gồm : truyện tranh, bộ sưu tập (các con vật, các loại cây, lá, các loại hạt, các loại hoa, các loại ô tô hay đồ chơi,…), bộ tranh phù hợp với chủ đề đang triển khai để trẻ có thể chơi xem tranh đoán nhận hay mô tả các đồ vật, đồ chơi trong tranh, kể chuyện sáng tạo, làm sách truyện tranh…

  1. 4. Khu vực chơi ghép hình, lắp ráp và xây dựng

-     Hoạt động ghép hình, lắp ráp, xếp hình và chơi xây dựng,…cung cấp cho trẻ nhiều cơ hội phát triển óc tưởng tượng, sáng tạo, phát triển kĩ năng phối hợp giữa mắt – tay, phát triển vận động tinh thần, vận động, các cơ nhỏ; phát triển sự chú ý, ghi nhớ, các kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ…Khu vực này có thể đặt ở chỗ cố định, tùy theo điều kiện phòng, lớp để thuận tiện cho việc mở rộng khu vực chơi khi cần thiết.

-     Bố trí khỏang không gian thích hợp (trải chiếu, thảm, hoặc xếp các bàn lại với nhau, …) để trẻ có chỗ thoải mái, chơi ghép hình, xếp hình với các hình khối to nhỏ khác nhau.

-     Cách bố trí, sắp xếp đồ chơi và vật liệu, hình khối cần tạo điều kiện cho trẻ dễ dàng lựa chọn hoạt động theo ý thích và phát triển óc sáng tạo của trẻ. Cô không nên để đồ dùng, đồ chơi trên giá cao, kín hoặc xếp chồng lên nhau làm khó khăn cho sự lựa chọn của trẻ. Không nên đưa tất cả các thứ ra cho trẻ chơi cùng một lúc.

-     Cô giáo cần bao quát hướng dẫn trẻ chơi lắp ghép, xếp hình, xây dựng các công trình gắn với việc triển khai nội dung của các chủ đề và phù hợp với trẻ độ tuổi mẫu giáo bé.

-     Những vật liệu cần thiết: cần có các bộ đồ chơi ghép hình làm bằng các vật liệu, màu sắc khác nhau: gỗ, nhựa,…lắp ráp các vật dụng, các phương tiện: ô tô, cần cẩu…, bộ ghép hình về các con vật, tranh ảnh hoa, quả, cây, hoa bằng nhựa…; các bản đục lỗ với bộ các bộ đồ sửa chữa; các hình khối bằng gỗ, hộp bìa, lon nước ngọt nhỏ, to, mà sắc khác nhau; biển báo giao thông , các con vật, ô tô, mô tô, xe đạp, máy bay, búp bê,… để chơi xếp hình, xây dựng công trình giao thông: ngã tư đường phố, bến tàu thủy, sân bay… và các công trình xây dựng khác như : công viên, vườn hoa, trường lớp mầm non… Có các loại vật liệu để trẻ chơi xâu hạt, ghép hình theo màu, học đếm và học cộng tác trong nhóm…

  1. 5. Khu vực hoạt động khám phá khoa học và thiên nhiên

-     Trẻ thích thú khám phá, tìm hiểu môi trường xung quanh, đặc biệt thích chăm sóc cây cối, vật nuôi, theo dõi, quan sát, sự lớn lên của chúng và thông qua hoạt động này trẻ học cách tôn trọng, bảo vệ chăm sóc môi trường xung quanh.

-     Tùy theo nội dung của chủ đề và độ tuổi, hướng trẻ lựa chọn chơi ở khu vực nào cho thích. Trong quá trình chơi cô khuyến khích trẻ quan sát, so sánh và tự đưa ra những nhận xét phù hợp.

-     Việc bố trí khu vực hoạt động khám phá khoa học và thiên nhiên tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của trường/lớp. Thông thường trong phòng có thể có các hình bằng nhựa, bìa cứng với các màu sắc khác nhau: hình tròn, tam giác, hình vuông, hình chữ nhật…, lô tô về các con vật, các loại rau quả, các loại phương tiện giao thông để chơi phân loại, đếm, so sánh…

Tùy thuộc vào đièu kiện cụ thể của lớp nên bố trí có chỗ cho trẻ chơi với cát, nước với những đồ chơi thích hợp như: rổ, đĩa bát nhựa, thìa, các loại vỏ chai ốc, các chai lọ, phễu, ca, cốc, bình đựng nước có kích cỡ khác nhau, những đồ vật, đồ chơi có thể nổi, chìm… đồ chơi thổi bong bóng xà phòng, hoặc những đồ dùng để trẻ làm thí nghiệm nhuộm màu nước… các khuôn in, đóng,… để trẻ chơi với cát những quả cân, các loại cân để trẻ thử nghiệm sự thăng bằng, nam châm thử sức hút khác nhau của nam châm.

Trong một góc phòng hoặc ngoài hiên chơi, khu vực thuận lợi bố trí cây cảnh: các loại hạt giống, quả, rau, hoa, có chậu để gieo hạt, có lọ nước cho trẻ quan sát rể cây, các dụng cụ làm vườn ( bình tưới, xẻng, cuốc), có mẫu vật về kiến, bướm, chuồn chuồn, bể cá cảnh để theo dõi sự nảy mầm, quan sát sự thay đổi của chúng và thực hành chăm sóc cây cối và con vật.

  1. 6. Khu vực hoạt động âm nhạc

-     Âm nhạc là một hoạt động vui vẻ, giải trí, và là một hình thức hoạt động có tính nghệ thuật, sáng tạo được trẻ yêu thích và thích hợp với trẻ ở lứa mầm non. Vì vậy, góc âm nhạc được bố trí, tổ chức môi trường hợp lí, thuận tiện sẽ khuyến khích và tạo nhiều cơ hội cho trẻ được hoạt động biểu diễn theo ý thích, thử nghiệm những cảm xúc qua các giai điệu, lời ca của mình và của bạn.

-     Khu vực này cần bố trí khoảng không gian xa các góc khác.

-     Trên giá, kệ, bàn (nếu có điều kiện) nên có cát xét, các băng nhạc có những bài phù hợp với lứa tuổi. Nơi có điều kiện nên có sân khấu, những con rối, mũ chơi các trò chơi âm nhạc thuận tiện cho việc sử dụng của trẻ.

-     Tủ kính treo hoặc mắc áo treo mũ, quần áo, váy, đồ trang phục dân tộc mang tính truyền thống của địa phương, những đồ chơi trang phục có thể chơi đóng kịch rối và biểu diễn văn nghệ. Có thể để ở đây những loại dụng cụ âm nhạc tự tạo (mang tính truyền thống dân tộc và địa phương). Đồ dùng, trang phục phục vụ cho hoạt động hát múa, biểu diễn văn nghệ…cần được bày biện thích hợp thuận lợi, khuyến khích trẻ chơi với những đồ chơi nhạc cụ âm nhạc tự tạo và thử nghiệm âm thanh của chúng.

-     Trong khu vực này, tùy thuộc vào nội dung triển khai của từng chủ đề cô chuẩn bị đồ dùng, hướng dẫn trẻ các âm thanh, băng nhạc khác nhau, tạo điều kiện cho trẻ ôn luyện bài hát vừa học, thưởng thức âm nhậc qua băng đĩa, vận động theo bài hát cùng với các bạn,…và được trải nghiệm những cảm xúc khác nhau : vui tươi, buồn, tức giận, ngạc nhiên,…

III – TỔ CHỨC MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI

Ngoài sân trường có cây xanh, bể cá, các khu vườn rau, vườn hoa cây cảnh, các lối đi lại, có chỗ cho trẻ chơi, với các đồ chơi thiết bị ngoài trời. Môi trường bên ngoài lớp học rất tốt đối với sức khỏe và việc học tập, vui chơi của trẻ. Chơi ngòai trời tạo cho trẻ nhiều cơ hội vận động toàn thân, phát triển kĩ năng vận động,…

Hoạt động ngoài trời rất đa dạng và có thể thực hiện ở các khu vực khác nhau :

-     Khu vực cây bóng mát, góc thiên nhiên, bãi cỏ : Khu vực này cần có ghế cho trẻ ngồi nghỉ, nghe kể chuyện…, các nhà chòi, nhà lợp lá, nhà búp bê, nhà chơi với bóng tạo điều kiện khuyến khích trẻ trò chuyện với nhau, ôn lại những bài hát, điệu múa đã học, chơi các trò chơi vận động,…tạo cảm xúc vui vẻ, thư giãn, thoải mái, tiếp xúc với không khí trong lành, chăm sóc cây cối, con vật…

–     Nên bố trí một góc sân trường các lồng chim, các con vật nuôi mà trẻ yêu thích (thỏ, khỉ, chim, vẹt), các chậu cây cảnh, các chậu có đất để có thể gieo hạt, trồng cây…, một số đồ dùng, đồ chơi, dụng cụ phù hợp với hoạt động ở góc thiên nhiên (cào, xẻng nhỏ, bình tưới nước,…). Ở khu vực này, cô nên khuyến khích luân phiên các nhóm trẻ cùng được tham gia vào các hoạt động chăm sóc ở góc thiên nhiên, tạo cơ hội cho trẻ được thể nghiệm các cảm xúc của mình.

-     Khu vực các thiết bị đồ chơi ngoài trời : Dụng cụ leo trèo: cầu trượt, đu quay, thăng bằng, đường ống để chui qua, thang bằng dây thừng, lốp ô tô dựng đứng để chui qua, bóng, ô tô, xe đạp ba bánh,…có địa hình mấp mô cho trẻ đi, leo trèo. Cô khuyến khích trẻ hợp tác với nhau, thay phiên nhau chơi với các thiết bị. Những hoạt động này khuyến khích phát triển kĩ năng vận động thô của cơ bắp, các tố chất nhanh, mạnh, khéo léo, thăng bằng, phối hợp nhịp nhàng tay mắt, …

-     Khu vực chơi với cát, nước và các vật liệu thiên nhiên : hố cát, bể nước và các vật liệu như xẻng, chai lọ, hộp, ô tô tải, rổ, thìa bát, cân, xà phòng, giấy gấp thuyền, phẩm màu, khuôn, xốp,…ở khu vực này cô cần tạo điều kiện cho trẻ được đong, đo với nước, thể nghiệm vật chìm – nổi, khô – ướt, nặng – nhẹ, …xây lâu đài bằng cát, đào xới, vẽ ngón tay trên cát, in dấu, tạo sản phẩm bằng khuôn,…

Khi chơi ngoài trời giáo viên chỉ nên giới thiệu các khu chơi và ý tưởng chung, sau đó để trẻ tùy ý lựa chọn trò chơi, địa điểm chơi và cách chơi. Cô gợi ý lựa chọn các trò chơi, tổ chức các hoạt động ngoài trời gắn với nội dung triển khai trong ngày và chủ đề. Cô cần bao quát, quan sát trẻ chơi, đảm bảo an toàn cho trẻ.

Các bài viết khác

Chia sẻ:

About admin

Chào các bạn ! Cảm ơn các bạn đã đọc bài viết này, nếu bạn có ý kiến gì có thể để lại comment của mình ở phía dưới. Bạn có bài viết tâm sự, chia sẻ thông tin, bài viết hay...có thể gửi về : info@Thuviengiadinh.com YM: Thuviengiadinh_com

Gửi góp ý

Để tìm kiếm bạn nhớ đánh không dấu

Nhập email của bạn để nhận bài viết mới:

Chăm sóc bởi Google FeedBurner

Liên kết vàng
  • Video Kỹ năng dậy trẻ
  • Kinh nghiệm chăm sóc gia đình
  • wap tai zalo uy tín chất lượng
  • Cửa hàng Mỹ phẩm the face shop uy tín
  • Liên hệ

    Tư vấn tâm lý

    Tư vấn phong thuỷ

    Tư vấn bảo vệ môi trường